TRƯỜNG..........................
KHOA……………………
Tiểu luận Đề tài
Công nghiệp hoá - Hiện đại
hoá và vai trò của nó trong
sự nghiệp xây dựng CNXH ở
nước ta hiện nay
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
A. Đặt vấn đề
B. Nội dung
I. tất yếu khách quan và tác dụng của CNH- HĐH
1. Tính tất Tính yếu khách quan
2. Tác dụng của CNH- HĐH
II. Nội dung cơ bản của sự nghiệp CNH- HĐH ở nước ta trong các thời
kỳ
1. Thực chất của vấn đề CNH- HĐH
2. Những yếu tố chủ yếu tác động đến sự nghiệp CNH- HĐH ở nước ta
3. Nội dung cơ bản của CNH- HĐH trong các thời kỳ
nó trong giai đoạn hiện nay.
Trong quá trình thực hiện CNH- HĐH nền kinh tế nước ta đã đạt được
những thành tựu lớn: Đã xây dựng được một cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định
cho xã hội mới, đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ hơn( tăng tỷ
trọng của các nghành công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP, phát triển nông
nghiệp toàn diện hơn..) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân
dân. Vậy thế nào là CNH- HĐH? và vai trò của CNH- HĐH ở nước ta trong sự
nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay như thế nào?
CNH- HĐH hiểu theo nghĩa chung và khái quát là chuyển một nước có nền
kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại với trình độ kỹ thuật
và công nghệ tiên tiến, năng suất lao động cao trong các nghành kinh tế
quốc dân.
Trong cuốn sách giáo khoa kinh tế chính trị của Liên Xô(cũ) được dịch
sang tiếng Việt Nam năm 1958 đã đưa ra định nghĩa:” Công nghiệp hoá xã hội
chủ nghĩa là phát triển công nghiệp trước hết là công nghiệp nặng, sự phát triển
ấy cần thiết cho sự tạo nên nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến”.
2
Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá VII có đoạn viết:” Công
nghiệp hoá là quá trình biến đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế, xã hội
từ sử dụng sức lao động thủ công la chính sang sử dụng một cách phổ biến sức
lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại,
tạo ra năng suất lao động cao”
<1.tr4>
Như vậy quá trình công nghiệp hoá đất nước nhằm giải quyết hai nội dung cơ
bản là: Thay đổi kỹ thuật- công nghệ trong nền kinh tế, làm cho lực lượng sản
xuất phát triển và hình thành cơ cấu kinh tế mới, tiến bộ, hợp lí với các ngành
nghề, quy mô sản xuất kinh doanh phù hợp.
Đặt CNH- HĐH trong bối cảnh chung của phát triển kinh tế với nội dung cơ bản
là phát triển cơ cấu kinh tế trên cơ sở công nghiệp hiện đại nhằm đẩy mạnh nhịp 4
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Tính tất yếu khách quan và tác dụng của sự nghiệp CNH - HĐH
1. Tính tất yếu khách quan
Khi bước vào thời kỳ quá dộ lên CNXH,trong diêu kiện cơ sở vật chất- kỹ
thuật còn ở trình đọ thấp kém, công cụ lao động thô sơ, cơ cấu kinh tế dựa trên
nông nghiệp là chủ yếu, đa số dan cư sống bằng nghề nông nghiệp, cơ cấu
nghành nghề trong nông nghiệp cũng đơn giản – cơ bản là độc canh lúa nước.
Nền sản xuất vật chất của xã hội dựa trên sản xuất nhỏ là chủ yếu và mang
nặng tính tự cấp tự túc, tỷ xuất hàng hoá trong nên kinh tế tế thấp. Trong đIêu
kiện chiến tranh ác liệt, nền kinh tế với cơ sở vật chất – kỹ thuật nói trên khó
tồn tại và phát triển bình thường. Cho năm 1990, công nghiệp và xây dựng chỉ
chiếm 22,6% thu nhập quốc dân. Thu nhập bình quân đầu người là nước thuộc
nhóm nghèo nhất thế giới và có nguy cơ tụt hậu xa hơn.
Từ tình hình nói trên. nếu không có sự thay đổi và phát triển thì nền kinh
tế không thể tăng trưởng nhanh, đất nước không thể vượt qua tình trạng nghèo
nàn và kém phát triển. Vì vậy , con đường tất yếu để ta thoát khỏi tình trạng đó
là phảI tiến hành CNH-HĐH .
Bên cạnh yêu cầu thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của xã hội mới là
dân giàu nước mạnh ,xa hội công bằng văn minh, sự nghiệp CNH- HĐH đất
nước ở nước ta con do yêu cầu của sự phát triển kinh tế hàng hoá quyết định.
Sản phẩm của nền sản xuất xã hội không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu của xã
hội nói chung, mà chúng còn phảI được đem bán, chúng phảI có khả năng
cạnh tranh trên thị trường , có khả năng giữ vững và mở rộng thị trường .v.v.
Dop vậy, các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phảI được sản xuất dựa trên môt
nhiều mặt.
- CNH- HDH, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại và cơ cấu kinh tế
mới tạo điều kiện biến đổi về chất lượng sản xuất, tăng năng suất lao động,
tăng sức chế ngự của con người với thiên nhiên, tăng trưởng kinh tế và phát
6
triển kinh tế, do đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân; góp phần
quyết định tới thắng lợi cuả xã hội mới của nước ta.
- CNH- HĐH tạo đIều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường vai trò
kinh tế của nhà nước, nâng cao năng lực tích luỹ cuả đất nước và tạo công ăn
việc làm cho người lao động.
- Mỗi bước phát triển mới của cơ sở vật chất- kỹ thuật do quá trình công
nghiệp hoă đem lại sẽ tạo ra những đIều kiện mới cho việc xây dựng nền văn
hoá mới, thủ tiêu tình trạng lạc hậu về xã hội, tạo thuận lợi cho sự phát triển tự
do toàn diện của con người- nhân tố trung tâm của thời đại, đưa đất nước đến
trình độ văn minh cao hơn.
- CNH- HĐH góp phần cung cấp và đảm bảo cho quốc phòng cac yếu tố vật
chất- kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn
an ninh, chủ quyền cuả đất nước.
- CNH- HĐH tạo nhiều khả năng cho nước ta trong việc tham gia vào phân
công lao động và hợp tác quốc tế, do đó tận dụng được sức mạnh trong nước
và sức mạnh kinh tế quốc tế.
Chính vì những tác dụng to lớn, tích cực, toàn diện đã nêu trên, từ đại hội III
dến nay, Đảng ta luôn khẳng định vị trí hết sức quan trọng của CNH- HĐH
trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta. Đồng thời, qua mỗi lần đại
hội, Đảng ta lại nhận thức sâu thêm và cụ thể hoá thêm nhiệm vụ này cho thích
hợp với đIều kiện và hoàn cảnh của đất nước ta trong những thời kỳ. Trong hội
nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đại Hội VII, Đảng ta còn nêu rõ:”
Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới.
CNH- HĐH là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước
mạnh mẽ đến sự nghiệp CNH- HĐH ở các nước chậm phát triển. Cho đến nay,
trong lịch sử đã diễn ra ba cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật vĩ đại và mỗi
cuộc cách mạng đó có đặc trưng cơ bản riêng.
Cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất ( cách mạng công nghiệp) diễn ra ở
Anh bắt đầu những năm 60 của thế kỷ XVIII và kết thúc vào năm 1820. Nội
8
dung cơ bản của nó là biến lao động thủ công thành lao động cơ khí, trong đó
về năng lượng đặc trưng là việc sử dụng máy hơi nước.
Cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ 2 diễn ra từ nửa sau thế kỷ XIX. Nội dung
và đặc trưng cơ bản của nó là phát minh và ứng dụng rộng rãi động cơ đốt trong
và điện năng.
Cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ ba được gọi là cách mạng khoa học- công
nghệ bởi những phát minh khoa học đều trực tiếp dẫn đến hình thành các
nguyên lý công nghệ sản xuất chứ không chỉ dừng lại ở công cụ sản xuất như
các thời kỳ trước.
Cách mạng khoa học- công nghệ có nhiều nội dung. Về quy mô và dung lượng
tri thức, các nhà khoa học đã đánh giá chúng phát triển theo cấp số nhân. Nhưng
ở đây chỉ đề cập đến những nội dung có liên quan đến các kỹ thuật, công nghệ
đang có triển vọng nhất hiện nay. Đó là: kỹ thuật điện tử, công nghệ thông tin,
công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và công nghệ vũ trụ.
- Kỹ thuật điện tử: thành tựu nổi bật của kỹ thuật điện tử là việc phát minh
và sử dụng rộng rãi máy tính điện tử. Trong thời gian ngắn máy tính điện tử đã
trải qua bốn thế hệ, thế hệ thứ năm chuẩn bị ra đời với khả năng có thể giải
hàng trăm tỷ phép tính trong một giây. Hiện tại máy tính không chỉ để tính
toán mà là phương tiện cho hầu như tất cả các hoạt động của con người và là
cơ sở thiết yếu của công nghệ thông tin hiện đại.
- Công nghệ thông tin: là lĩnh vực công nghệ phát triển nhanh nhất, thúc
đẩy quá trình chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin.
Những bước phát triển nhảy vọt của công nghệ thông tin gắn liền với sự hoàn
vấn, thiết kế.. đang có xu hướng tăng lên; các ngành phục vụ cho phát triển đới
sống hiện đại như y tế, giáo dục, du lịch.. phát triển tương đối nhanh. Đặc biệt
công nghệ cao đang hiện đại hoá các ngành sản xuất và dịch vụ truyền thống tạo
ra những ngành nghề mới, giá trị tăng cao, thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ
cấu hướng về kinh tế tri thức.
10
Từ làm thay đổi cơ cấu ngành nghề cách mạng khoa học- công nghệ còn
làm thay đổi cơ cấu sản phẩm trong điều kiện khoa học- kỹ thuật mới là làm
giảm vật tư, giảm năng lượng, giảm không gian và giảm lao động. Nó còn làm
thay đổi chế độ, cách thức sản xuất ra sản phẩm. Sản xuất tập trung, quy mô lớn,
sản xuất hàng loạt và chủng loại ít được thay thế bằng sản xuất phi tập trung,
quy mô nhỏ, khối lượng nhỏ, chủng loại nhiều.
Cách mạng khoa học- công nghệ còn tác động đến yếu tố chủ thể của nền sản
xuất xã hội là người lao đông. Người lao động sử dụng kỹ thuật công nghệ mới,
đòi hỏi phải có nhiều kỹ năng và trí tuệ hơn. Do đó chi phí đào tạo tay nghề cho
ngưòi lao động cao hơn trước. Không những thế công nghệ- kỹ thuật mới còn
làm thay đổi cơ cấu lao động. Nghành thứ ba phát triển đã tạo cơ hội kiếm việc
làm cho nhiều người lao động dôi ra trong các ngành khác và số lao động mới
của xã hội.
Ngoài ra cách mạng khoa học- công nghệ trong các nước phát triển còn làm thay
đổi việc phân bố địa bàn sản xuất: Một mặt nó tạo điều kiện mở rộng phạm vi
không gian, phân bố địa bàn hoạt động sản xuất; mặt khác nó hạn chế tác động
của hoàn cảnh tự nhiên đối với việc bổ trí lực lượng sản xuất trong nền kinh tế.
Tác động chung nhất của cách mạng khoa học- công nghệ trong các quốc gia
phát triển là nó làm tăng năng suất lao động xã hội ở các nước tăng lên rất cao.
Thêm nữa, cuộc cách mạng này đã tạo cho mọi quốc gia những cơ hội để phát
triển. Như ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường.. thuộc về các nước phát triển.
Vì thế các nước chậm phát triển đang đứng trước những thách thức to lớn.
Khoảng cách chênh lệch giàu- nghèo giữa các nước ngày càng mở rộng, cạnh