THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN - Pdf 70

THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN (PTI)
2.1. Giới thiệu về công ty cổ phần bảo hiểm Bưư Điện (PTI)
2.1.1.Giới thiệu về công ty
Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (gọi tắt là PTI) được Bộ Tài chính cấp
giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm số
10TC/GCN ngày 18/6/1998 và Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội cấp Giấy
phép thành lập số 3633/GP-UP ngày 01/08/1998. Công ty Cổ phần Bảo hiểm
Bưu điện chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/09/1998. Hoạt động chính của
PTI là kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm phi nhân thọ trong nước và quốc tế.
Công ty PTI có 07 thành viên sáng lập gồm: Tổng Công ty Bưu chính Viễn
thông Việt Nam (VNPT); Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội (HACC); Tổng Công
ty Xuất nhập khẩu Xây dựng Việt Nam (VINACONEX); Tổng Công ty Cổ phần
Tái Bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE), Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Quốc tế (VIBank), Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh (BAOMINH).
Mặc dù ra đời muộn hơn các công ty bảo hiểm khác nhưng PTI đã tạo
được chỗ đứng vững chắc trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam và có
uy tín cao đối với khách hàng nhờ có định hướng kinh doanh đúng đắn và gần
50 sản phẩm bảo hiểm chất lượng cao, mức phí cạnh tranh được triển khai rộng
khắp trên phạm vi cả nước.
PTI luôn tâm niệm chấp nhận cạnh tranh nhưng phải nghiên cứu kỹ thị
trường để phát triển vững chắc. Điều đó được thể hiện ở chỗ PTI lấy yếu tố con
người làm trung tâm. Sản phẩm chất lượng cao phải đi kèm với đội ngũ cán bộ
chuyên viên giỏi về nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm cao. Đặc biệt hàng năm,
PTI đều cử một số cán bộ chuyên viên đi đào tạo chuyên sâu tại Singapore,
Malaysia, Thuỵ Sỹ, HongKong... Hoặc tham gia khoá học chuyên ngành bảo
hiểm từ xa của Australia, New Zealand…
Xác định rõ quyền lợi của khách hàng luôn đi liền với sự phát triển của
công ty, PTI rất chú trọng công tác chăm sóc khách hàng và công tác bồi thường
cho khách hàng. Khi có sự cố, công tác giám định bồi thường được thực hiện
theo tiêu chí nhanh chóng kịp thời, chính xác và hợp pháp. PTI có sự hợp tác

thông Việt Nam. PTI với phương châm hoạt động kinh doanh phải gắn liền với
nâng cao chất lượng dịch vụ và chất lượng phục vụ khách hàng, chia sẻ khó
khăn với khách hàng, cùng khách hàng khắc phục hậu quả của tổn thất, nhằm
nhanh chóng khôi phục sản xuất kinh doanh. Với tinh thần đó, Công ty tin
tưởng và mong muốn đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về bảo hiểm cho mọi đối
tượng khách hàng.
THÔNG TIN CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN
Tên đơn vị : Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện
Tên tiếng Anh : Posts &Tel. Joint - Stock Insurance Company
Tên viết tắt : PTI
Trụ sở chính : Tầng 8 Toà nhà 4A - Láng Hạ - Ba Đình - Hà Nội
Điện thoại : (04) 7724466 . Fax: (04) 7724460
Năm thành lập : 1998
Nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu :
Kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm theo qui định của Nhà nước theo
giấy phép kinh doanh số 055051 của sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội
cấp nagỳ 12/8/2008: y tê tự nguyện, tai nạn con người, tài sản, thiệt hại, vận
chuyển đường bộ, đường sông, đường sắt, đường biển, đường không, trách
nhiệm chung, xe cơ giới, cháy;
Kinh doanh tái bảo hiểm liên quan đến các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân
thọ.
Giám sát, điều tra, tính toán phân bổ tổn thất, đại lý giám định, xét giải
quyết bồi thường và đòi người thứ ba.
Tham mưu tư vấn cho các tổ chức kinh tế - xã hội trong việc đánh giá và
quản lý rủi ro.
Hoạt động đầu tư tài chính theo qui định của pháp luật.
Các hoạt động khác theo qui định của pháp luật.
2.1.2 Tổ chức bộ máy của PTI
Bộ máy tổ chức của PTI hiện nay được tổ chức qua sơ đồ 1:


bộ, xây dựng các chế độ tuyển dụng, đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ
công ty.
Ngoài ra, công ty còn có 22 chi nhánh, các văn phòng đại diện trong
phạm vi toàn quốc nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh của công ty. Mặc dù
mỗi phòng ban có nhiệm vụ chức năng khác nhau song lại bổ sung và liên kết
với nhau tạo thành một khối thống nhất.
Với mô hình tổ chức quản lý kinh doanh nói trên công ty có điều kiện quản lý
chặt chẽ về mặt kỹ thuật, kinh tế cũng như tổ chức tới từng địa bàn để nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
2.2. Một số nét về tình hình cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm
phi nhân thọ ở Việt Nam hiện nay.
2.2.1. Số lượng doanh nghiệp bảo hiểm:
Tháng 1 năm 1965 công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) đầu tiên ra đời,
và kể từ đó thị trường bảo hiểm Việt Nam đã trải qua rất nhiều giai đoạn phát
triển khác nhau. Từ độc quyền chỉ có duy nhất một công ty bảo hiểm Nhà nước,
cho đến nay đã có tới 37 DNBH, trong đó có 21 DNBH phi nhân thọ (có 12
DNBH trong nước và 9 DNBH có vốn đầu tư nước ngoài).

Bảng 1: Danh sách các DNBH phi nhân thọ đang hoạt động trên
thị trường bảo hiểm Việt Nam
STT Tên doanh nghiệp Năm thành lập
1 Bảo Việt Việt Nam 1965
2 Tổng công ty cổ phần Bảo Minh 1994
3 CTCP bảo hiểm Petrolimex(Pjico) 1995
4 CTCP bảo hiểm Nhà Rồng( Bảo Long) 1995
5 CTCP bảo hiểm dầu khí (PVI) 1996
6 Công ty LD bảo hiểm quốc tế Việt Nam(VIA) 1996
7 Công ty LD bảo hiểm Liên hiệp (UIC) 1997
8 CTCP bảo hiểm Bưu Điện (PTI) 1998
9 Công ty BH tổng hợp Groupama Việt Nam 2001

chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu bảo hiểm toàn thị trường. Sau đây là
doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ và tốc độ tăng doanh thu qua một số năm:
Bảng 2: Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ toàn
thị trường bảo hiểm Việt Nam
Chỉ tiêu 1993 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
1. Doanh thu
( Tỷ đ) 700 2.158 2.624 3.875 4.768 5.535 7.000 8.350
2. Tốc độ tăng
trưởng (%) - - 20 48 23 16 26 19.3
(Nguồn: Thị trường BH Việt Nam)
Tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng nhanh
trong giai đoạn năm 2002 - 2003 và tăng chậm hơn năm 2004 – 2005, tuy nhiên
đã hồi phục trở lai trong năm 2006. Trong nhưng năm gần đây, tốc độ phát triển
của thi trường bảo hiểm nói chung và thị trường bảo hiểm phi nhân thọ nói
riêng tuy đã chậm lại nhưng mức tăng tuyệt đối vẫn ở mức cao. Trong năm
2007, doanh thu khai thác tăng so với năm 2006 là 2.550 tỷ đồng, trong đó
doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng thêm là 1.350 tỷ đồng.
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đang là “miếng bánh ngon” mà các
doanh nghiệp đang hướng tới. Ngày càng có nhiêu doanh nghiệp tham gia vào
thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, do đó trong những năm qua thị phần của các
DNBH phi nhân thọ cũng có một số thay đổi, thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Thị phần của một số DNBH phi nhân thọ
(giai đoạn 2005- 2007)
Tên DN
Doanh thu ( Tỷ đ)
Thị phần
( %)
2005 2006 2007 2005 2006 2007
Bảo Việt
VN

giữa các sản phẩm hiện có, hay là sự thay đổi, kết hợp giữa các điều khoản
trong hợp đồng. Các sản phẩm bảo hiểm có sự kết hợp nhiều quyền lợi khác
nhau của khách hàng, do đó khách hàng có thể lựa chọn cho mình sản phẩm phù
hợp để tận dụng được nhiều lợi ích nhất. Nhiều DNBH phi nhân thọ đã cung
cấp nhiều sản phâm bảo hiểm mới khá độc đáo như sản phẩm bảo hiểm cá nhân
cho người sử dụng thẻ ATM, bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm chăn nuôi...
Các doanh nghiệp ngày càng đa dạng hoá các sản phẩm bảo hiểm, khách
hàng sẽ càng có nhiều cơ hội để lựa chọn sản phẩm phù hợp nhất cho mình,
cạnh tranh giữa các DNBH sẽ ngày tăng lên.
2.2.4. Hệ thống phân phối của các DNBH phi nhân thọ
Để thuận tiện hơn trong việc khai thác, các doanh nghiệp đã liên tục mở
thêm các chi nhánh, văn phòng ở khắp mọi miền tổ quốc, đặc biệt là hệ thống
đại lý được coi là kênh phân phối vô cùng hữu hiệu. Những đại lý có cả mặt từ
các thàng phố lớn cho tới các địa phương xa xôi, nhằm tiếp cận, phục vụ khách
hàng một cách nhanh chóng và kịp thời nhất. Ngoài kênh phân phối qua các đại
lý, các DNBH Việt Nam muốn nâng cao thị phần, khai thác thêm nhiều hợp
đồng hơn nữa, còn phân phối qua một số hình thức khác. Hiện hay hình thức
phân phối bảo hiểm kết hợp với ngân hàng cũng tỏ ra hết sức hữu hiệu, và sự
kết hợp này đã tạo ra lợi ích cho cả hai bên. Do đó đã có rất nhiều DNBH phi
nhân thọ áp dụng hình thức phân phối này.
Số lượng các kênh phân phối của DNBH cũng được coi là chỉ tiêu để
đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó, một DNBH có số lượng các
chi nhánh đại lý lớn, phủ khắp các tỉnh thành sẽ tạo cơ hội tốt cho doanh nghiệp
khai thác đựơc nhiều hợp đồng bảo hiểm, do đó khả năng canh tranh sẽ tốt hơn.
Vì thế, mỗi DNBH phi nhân thọ vẫn đang tiếp tục mở thêm rất nhiều chi nhánh,
đại lý để cạnh tranh với các DNBH khác, do đó cạnh tranh trên thị trường bảo
hiểm phi nhân thọ cũng ngày một gay gắt hơn.
2.2.5. Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh nghiệp vụ bảo
hiêm phi nhân thọ đựoc xem xét qua một số các chỉ tiêu sau: khả năng về vốn,

126 tỷ đồng.
Nguồn vốn tăng lên cũng khiến cho tiềm lực tài chính tăng lên, các
DNBH có khả năng nhận các hợp đồng bảo hiểm có giá trị lớn, khả năng bồi
thường chi trả sẽ cao hơn, vì thế khách hàng sẽ yên tâm hơn khi tìm đến các
doanh nghiệp có nguồn lực tài chính lớn. Do đó, việc các DNBH phi nhân thọ
tăng nguồn vốn của mình lên cũng là một biện pháp để cạnh tranh với các đối
thủ khác trên thị trường.
2.2.5.2. Dự phòng nghiệp vụ

Trích đoạn Giá cả sản phẩm, chất lượng giám định và giải quyết bồi thường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status