TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC
-----------------------
Nguyễn Thị Hồng Tâm
TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG TAM GIÁO CỦA
NGUYỄN DỮ TRONG TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2015-X
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thanh Bình
HÀ NỘI, 2019
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn
sự dạy dỗ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa Triết học, trường Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội trong suốt thời gian tôi
học tập tại khoa, tại trường.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Nguyễn Thanh Bình, người
đã trực tiếp hướng dẫn tận tình và chu đáo trong quá trình thực hiện và hoàn thiện
khóa luận tốt nghiệp này. Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn khóa luận sẽ
không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy, các cô, cùng toàn thể các bạn để khóa luận này
được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 29 tháng 5 năm 2019
quan trọng, chi phối mạnh mẽ đến hệ tư tưởng văn hóa Việt Nam suốt một ngàn
năm quân chủ chuyên chế. Sự kết hợp nhuần nhuyễn, dung hợp giữa Nho giáo,
Đạo giáo và Phật giáo đã tạo nên một nền văn hóa Việt Nam rực rỡ và tinh hoa.
Đó là sự kết hợp của gam màu văn hóa dân gian với văn hóa bác học cung đình,
sự hòa hợp giữa chính trị và đời sống tôn giáo tâm linh. Tuy các học thuyết trên
có vị thế khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, song chính quá trình tiếp
biến nói trên đã tạo nên mối quan hệ tam giáo với tính chất không đồng nhất với
mối quan hệ tam giáo ở Trung Quốc và các nước đồng văn khác của khu vực.
Xu hướng dung thông tam giáo tại Việt Nam đã có xuất hiện ở Việt Nam
rất sớm nhưng nội dung, đặc điểm và tính chất dung thông Nho, Phật, Đạo ở mỗi
thời kỳ đều có những nét đặc sắc riêng biệt. Có thể nói rằng, thế kỷ XVI mở ra
một giai đoạn lịch sử diễn ra hết sức phức tạp với việc tranh giành quyền lực giữa
các tập đoàn phong kiến và các cuộc nội chiến xảy ra liên tục. Tư tưởng và các giá
trị đạo đức của Nho gia dường như bất lực trước bối cảnh rối ren này và thời kỳ
khủng hoảng chế độ phong kiến Việt Nam trong suốt ba thế kỷ XVI - XVIII. Nho
giáo không đủ sức để thay đổi và cải thiện tình trạng khủng hoảng này, trong bối
cảnh đó các nhà tư tưởng, mà chủ yếu là Nho sĩ đã tìm đến Phật và Đạo như một
lối đi mới để giải quyết sự khủng hoảng trong tư tưởng của chính mình. Và đó là
nguyên nhân khiến lịch sử tư tưởng Việt Nam xuất hiện xu hướng mới trong quan
hệ tam giáo. Nguyễn Dữ là một trong những đại diện của xu hướng này.
Là một nhà Nho tiêu biểu của thế kỷ XVI đầy sóng gió và biến động của xã
hội và chế độ phong kiến Việt Nam, nhưng tiếc rằng các tác phẩm của Nguyễn Dữ
không còn được bảo tồn và lưu giữ, Truyền kỳ mạn lục là tài liệu duy nhất của ông
còn được lưu giữ đến ngày nay. Truyền kỳ mạn lục là một trong những tác phẩm
tiêu biểu của văn học Việt Nam thế kỷ XVI. Vũ Khâm Lân đời nhà Lê khi nói về
tác phẩm này đã khen rằng đây là một “thiên cổ kỳ bút”. Truyền kỳ mạn lục được
đánh giá cao như vậy là bởi nó không chỉ là một tác phẩm văn học thuần túy mà
ẩn sâu trong đó còn là những giá trị về mặt tư tưởng, đạo đức, lối sống mà Nguyễn
1
Nguyễn Dữ viết bộ truyện này nhằm ghi lại những câu chuyện truyền thuyết linh
dị, kì bí từ thời Lý – Trần đến thời ấy. Trúc Khê cũng đánh giá Truyền kỳ mạn lục
2
là một tuyệt tác, nó vừa có giá trị về mặt văn chương, vừa thể hiện sự đặc sắc về
mặt tư tưởng.
Bên cạnh 20 truyện trong Truyền kỳ mạn lục, nhiều nhà nghiên cứu cũng
đặc biệt quan tâm đến 19 Lời bình trong tác phẩm. Tuy nhiên, về vấn đề này thì
đến nay vẫn có nhiều nhà nghiên cứu tranh cãi về nguồn gốc và tác giả của 19 Lời
bình trên. Trong bản dịch của Ngô Văn Triện và Trúc Khê, họ cho rằng những lời
bình là là những đánh giá, nhận xét của Nguyễn Dữ về những vấn đề trong đời
sống, xã hội đương thời. Tuy nhiên, cũng có nhiều tác giả đưa nhận định trái
ngược, điển hình như trong bài Bàn thêm về tác giả - tác phẩm Truyền kỳ mạn lục
(2002), Lại Văn Hùng lại khẳng định Nguyễn Dữ chỉ là người viết lời bình. Ông
cho rằng giữa phần truyện và lời bình của Truyền kỳ mạn lục có nhiều điểm mâu
thuẫn với nhau, bởi phần lời bình cho thấy rõ những quan điểm, nhận định, lập
trường của một nhà Nho, song trong phần chính truyện, tác giả lại đưa ra nhiều
quan niệm, tư tưởng phi Nho. Từ sự mâu thuẫn trên, Lại Văn Hùng khẳng định
rằng Nguyễn Dữ không phải tác giả của Truyền kỳ mạn lục mà chỉ đưa ra nhận xét
của mình về những truyện ấy thông qua phần Lời bình.
Cũng nhận thấy được những mâu thuẫn về mặt tư tưởng trong chính tác
phẩm Truyền kỳ mạn lục, song Bùi Duy Tân lại cho rằng đây chính là biểu hiệu
rạn nứt của ý thức hệ phong kiến. Ông có nhận xét về Nguyễn Dữ như sau:
“Nguyễn Dữ đã phản ánh hiện thực mục nát của chế độ phong kiến một cách có ý
thức. Toàn bộ tác phẩm thấm sâu tinh thần và màu sắc của cuộc sống, phạm vi
phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều vấn đề của xã hội, con người
được đề cập tới. Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ là tư tưởng Nho gia…Tuy
nhiên Truyền kỳ mạn lục không phải chỉ thể hiện tư tưởng nhà nho, mà còn thể
Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ, tác giả Vũ Phú Dưỡng đã nêu ra
được những điều kiện, bối cảnh kinh tế xã hội và tiền đề tư tưởng tạo nên tư tưởng
triết học nói chung của Nguyễn Dữ. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến sự ảnh
hưởng, tác động của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến tư tưởng triết học và cuộc đời của
Nguyễn Dữ. Ông khẳng định, tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ là sự
kế thừa và phát triển những tư tưởng về dung thông tam giáo của Trạng Trình
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy nhiên, Luận án chưa làm rõ, nổi bật được những nội
dung, đặc điểm riêng biệt trong tư tưởng của Nguyễn Dữ nói chung và tư tưởng
dung thông tam giáo của ông nói riêng.
Ngoài các công trình nói trên đề cập tới tư tưởng dung thông tam giáo của
Nguyễn Dữ, còn có các bài viết của các nhà khoa học trên các tạp chí chuyên
ngành, tạp chí triết học như Tam giáo đồng nguyên và tính đa nguyên trong truyền
4
thống văn hóa Việt Nam của tác giả Nguyễn Tài Đông, Tạp chí Khoa học Xã hội
Việt Nam, số 5; Bàn thêm về vấn đề tác giả - tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Lại
Văn Hùng, Tạp chí Văn học, số 10 hay bài viết Lại bàn về tam giáo đồng nguyên
của Lê Văn Quán được đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 5;… Những bài viết trên
đều khái quát chung về xu hướng dung thông tam giáo trong lịch sử Việt Nam
trong giai đoạn XVI, trong đó chỉ ra nguyên nhân của quá trình dung thông và đặc
điểm của nó, Nguyễn Dữ được nhắc đến với tư cách là một đại diện tiêu biểu cho
xu hướng này. Công trình đáng chú ý nhất là bài viết Vấn đề tam giáo trong
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ của Trần Nguyên Việt. Trong bài viết của
mình tác giả cũng đã làm rõ quan điểm của Nguyễn Dữ về vai trò của từng học
thuyết trong tam giáo đối với ý thức của người Việt nói chung, của giới trí thức
nói riêng trong thế kỷ XVI – XVII.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của khóa luận
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
Khóa luận không chỉ làm rõ hơn nội dung, đặc điểm, giá trị và hạn chế
trong tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ mà còn góp phần vào việc
học tập, nghiên cứu tư tưởng của Nguyễn Dữ, tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVI.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm 3 chương, 8 tiết.
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ HÌNH
THÀNH TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG TAM GIÁO CỦA NGUYỄN DỮ
1.1. Bối cảnh lịch sử, tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa thế
kỷ XVI
Sau thời kỳ thịnh trị của Lê Thánh Tông, triều đại phong kiến nhà Lê sơ
bước vào giai đoạn suy thoái. Triều đình phong kiến nhà Lê sơ xuất hiện các ông
“vua quỷ”, “vua lợn” như vua Uy Mục (1505 - 1509), Tương Dực (1509 - 1516),
còn hệ thống quan lại thì ngang ngược hoành hành. Bên cạnh nhà vua hoang dâm
vô độ, cho xây dựng nhiều đền đài, cung điện thì việc các quan trong triều đình lợi
dụng chức quyền, vơ vét tài sản, tham ô công quỹ đã làm gia tăng mâu thuẫn giữa
triều đình phong kiến với nhân dân. Dưới thời Lê Thánh Tông trị vì (1460 – 1497),
nhà nước phong kiến Việt Nam về cơ bản đã tạo ra và duy trì một xã hội tương đối
ổn định và phát triển. Bước sang thế kỷ XVI, bộ máy triều đình không thể cải thiện
tình trạng mâu thuẫn này, đồng thời những mâu thuẫn mới tiếp tục nảy sinh càng
cho thấy rõ sự lạc hậu, bất lực của chế độ. Nhà nước phong kiến đã trở thành đối
tượng đấu tranh của các phong trào nông dân khởi nghĩa. Họ đều là những người bị
bóc lột thậm tệ bởi nhà nước phong kiến đương thời, chính chế độ ấy đã khiến họ
trở nên bần cùng hóa và buộc phải đấu tranh để tự giải thoát chính mình. Ở giai
lãnh thổ nước ta đã diễn ra 38 chiến dịch lớn nhỏ giữa Lê – Trịnh và Mạc nhằm
tranh giành quyền lực nhưng không bên nào giành được thắng lợi cuối cùng. Mãi
đến năm 1592, Nam triều thắng Bắc triều, nhà Mạc chạy lên Cao Băng và tồn tại ở
đó được khoảng hơn 60 năm thì tan rã. Khi cuộc xung đột giữa nhà Mạc và Lê –
Trịnh kết thúc, thì xã hội Việt Nam lại xuất hiện cuộc xung đột mới Trịnh –
Nguyễn. Sự phân chia và quản lý đất nước do các tập đoàn phong kiến Mạc, Trịnh,
Nguyễn là nét nổi bật nhất trong tình hình chính trị của xã hội Việt Nam lúc bấy
giờ. Tuy nhiên, các tập đoàn phong kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài đều có điểm
chung là theo mô hình cũ từ thời Lê sơ – nhà nước quan liêu ngày càng nặng nề và
phức tạp và đang trở thành một lực cản trở sự phát triển của xã hội.
Các nhân tố kinh tế, chính trị thời kỳ này đã góp phần quy định bộ mặt đời
sống văn hóa tư tưởng của xã hội Việt Nam thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Thời kỳ
này Nho giáo vẫn được các tập đoàn phong kiến sử dụng là công cụ chính để xây
dựng, củng cố chính quyền và thành lập, củng cố trật tự xã hội. Giáo dục và thi cử
Nho giáo cũng như dưới thời Lê sơ, vẫn lấy nội dung trong Tứ thư và Ngũ Kinh. Sự
củng cố giáo dục khoa cử trong các tập đoàn phong kiến được tăng cường chủ yếu
nhằm tạo ra tầng lớp sĩ phu mới để phục vụ cho các tập đoàn phong kiến này. Tuy
8
nhiên, nếu Nho sĩ - những người trí thức ở thế kỷ XV là những nhà tư tưởng tiêu
biểu của xã hội, thì bước sang thế kỷ XVI và thế kỷ XVII, các nhà Nho sĩ phải đối
diện với đất nước triền miên trong loạn lạc, trong chiến tranh, trong sự chia cắt.
Thực tiễn đó đã đặt ra cho các nhà Nho lúc đó là làm sao đất nước trở về một mối,
xã tắc được yên vui, nhân dân được sống trong cảnh thái bình, thịnh trị, có trật tự,
có kỷ cương, v.v.
Thế kỷ XVI và thế kỷ XVII, do sự suy thoái của chế độ quân chủ chuyên
chế, trung ương tập quyền, sự tranh chấp giữa các thế lực, phe phái phong kiến và
do ảnh hưởng ngày càng tăng của quan hệ hàng hóa – tiền tệ, Nho giáo đã thể hiện
XVII thì sự kết hợp Nho, Phật, Đạo trong tư tưởng của các nhà Nho Việt Nam có
nội dung và tính chất khác so với các thời kỳ trước đó.
1.2. Tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng dung thông tam giáo của
Nguyễn Dữ
1.2.1. Tam giáo và sự du nhập, phát triển của tam giáo đến thế kỷ XVI
Thứ nhất, Nho giáo và sự du nhập, phát triển của Nho giáo ở Việt Nam đến
thế kỷ XV:
Nho giáo là một học thuyết chính trị, xã hội, đạo đức được Khổng Tử (551 –
479 tr.CN) sáng lập và sau đó được các môn đệ của ông phát triển qua các giai đoạn
phát triển của Nho gia. Những nội dung cơ bản của Nho giáo được thể hiện rõ trong
các tác phẩm kinh điển như: Tứ Thư (gồm: Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh
Tử) và Ngũ Kinh (gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu).
Nho giáo có nội dung tư tưởng triết học chính về thế giới, con người và xã hội,
trong đó những vấn đề luân lý đạo đức, thể chế và đường lối cai trị, quản lý xã hội
được chú trọng hàng đầu.
Trong Quan niệm về thế giới, Nho giáo có hai khuynh hướng chủ yếu là duy
tâm và duy vật. Với quan điểm duy tâm, xuất phát từ quan niệm trời là gốc của vạn
vật “vạn vật bản hồ thiên”, các nhà Nho cho rằng trời là một thực thể có ý chí, có
sức mạnh tối thượng và có quyền uy tuyệt đối, quy định sự sinh thành, phát triển,
tiêu vong của mọi sự vật, hiện tượng trong xã hội. Vì vậy, cuộc đời con người hay
các hiện tượng trong cuộc sống thì đều chịu sự quy định của mệnh trời. Đến Đổng
Trọng Thư (thời hán), ông còn bổ sung thêm quan niệm này khi cho rằng mọi hiện
tượng của tự nhiên đều biểu lộ cảm xúc của trời hoặc mang ý nghĩa như một lời
cảnh báo của trời đối với nhà vua, đất nước. Nếu nhà vua thực hiện đúng ý trời,
dùng “đức” để cai trị thì trời sẽ cho mùa màng bội thu, còn nếu nhà vua làm trái với
ý trời thì trời sẽ giáng thiên tai xuống để cảnh cáo, trừng phạt. Bên cạnh quan điểm
10
11
nhiệm dạy dỗ con thành người có đạo đức, còn người con có hiếu thì quan trọng
nhất là thái độ thành kính. Trong mối quan hệ vợ chồng thì đề cao trách nhiệm yêu
thương, chăm sóc lẫn nhau nhưng người chồng có vị trí, vai trò cao hơn, còn người
vợ thì phải tuân theo đạo tam tòng, tứ đức. Còn trong mối quan hệ bạn bè thì đề cao
sự tương đồng trong lối sống, giữa bạn bè cần có sự thành thật, thành tâm và giúp
đỡ lẫn nhau để sửa đức. Từ việc chỉ ra vai trò của con người trong những mối quan
hệ xã hội, Nho giáo muốn hướng tới việc xây dựng một xã hội thái bình, thịnh trị.
Nho giáo cũng nhấn mạnh vai trò của con người là vô cùng quan trọng bởi con
người cùng trời hóa sinh vạn vật nhưng con người trước hết phái có đạo đức.
Nho giáo là một hình thức văn hóa ngoại lai được du nhập vào Việt Nam từ
thời Bắc thuộc với hai phương thức chủ yếu, theo gót chân xâm lược của các thế lực
phong kiến phương Bắc và thông qua quá trình giao lưu văn hóa. Từ năm 179
tr.CN, khi nhà nước Âu Lạc rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu, mở đầu một thời kỳ
Bắc thuộc. Năm 111 tr.CN, nhà Hán thôn tính Nam Việt và biến Âu Lạc thành
thuộc địa của nhà Hán. Từ thời Tây Hán, chính quyền đô hộ truyền bá Nho giáo vào
nước ta để nô dịch nhân dân ta về mặt tư tưởng. Chúng có âm mưu biến Việt Nam
thành một quận đồng thời Hán hóa dân ta về mặt tư tưởng, nhằm xóa bỏ văn hóa
Việt Nam. Lúc nay, Nho giáo được sử dụng như một công cụ xâm lược nên bị phản
đối gay gắt từ phía nhân dân Việt Nam, chống Nho giáo cũng đồng nghĩa với việc
chống quân xâm lược. Chính vì lý do trên, trong thời Bắc thuộc, Nho giáo chưa có
chỗ đứng trong xã hội Việt Nam. Ngoài con đường áp đặt, “cưỡng bức” văn hóa,
Nho giáo cũng được du nhập thông qua những trí thức, lái buôn, nông dân Trung
Quốc… Những tầng lớp này vì nhiều lý do khác nhau mà chuyển đến định cư tại
nước ta đồng thời đem theo văn hóa của người Hán, trong đó có Nho giáo được biểu
lộ trong lối sống, lối sinh hoạt của họ. So với Nho giáo được truyền tải trong sách
vở thì Nho giáo đã được dân gian hóa này dễ dàng được nhân dân Việt Nam tiếp
đáp ứng những nhu cầu trên. Chính vì vậy mà, các triều đại phong kiến Lý – Trần
và cả các triều đại phong kiến về sau đã lựa chọn Nho giáo với tư cách là học thuyết
chính trị, xã hội để cai trị, quản lý đất nước và phát triển chế độ phong kiến về mọi
mặt. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống chính trị, xã hội,
phong tục và nếp sống của nhân dân Việt Nam vẫn diễn ra hết sức chậm chạp. Đến
thời nhà Trần, trong điều kiện phải củng cổ quyền lực nhà nước và tổ chức cuộc
khảng chiến chống quân Nguyên – Mông, triều đình đề cao những quan niệm về
đạo cương thường, nghĩa quân thần, trật tự trên dưới,.. nên việc học tập và thi cử
Nho học được triển khai khá rầm rộ. Số lượng Nho sĩ gia tăng và chiếm phần đông
13
trong bộ máy tri thức Việt Nam đương thời. Trái ngược với sự phát triển của Nho
giáo, Phật giáo bắt đầu biểu lộ những mặt hạn chế, nhiều nhà Nho đã đứng lên để
phê phán sự duy đồi về mặt đạo đức của một bộ phận tăng ni, sự xa hoa, lãng phí
tiền của và sức lực của nhân dân trong việc xây dựng nhà chùa và các nghi lễ tôn
giáo. Đến thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly đã mạnh tay công kích Phật giáo và suy tôn Nho
giáo. Số lượng trường dạy Nho học gia tăng nhanh chóng và được mở đến tận cấp
châu, huyện trong giai đoạn này. Chính vì thế nên sang đến thế kỷ XV, khi nhà
nước Lê sơ được thành lập thì Nho giáo đã giành được vị trí độc tôn trong đời sống
chính trị và tinh thần của dân tộc ta. Hệ tư tưởng Nho giáo được thể hiện trong
nhiều chủ trương, chính sách của nhà nước phong kiến, qua đó thấm vào mọi lĩnh
vực văn hóa, đạo đức của xã hội đương thời. Nó làm thay đổi cách ứng xử, giao tiếp
và đưa ra những yêu cầu chặt chẽ, quy củ cho các nghi lễ, phong tục của cộng đồng
làng xã Việt Nam.
Thứ hai, Phật giáo và quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo ở Việt
Nam đến thế kỷ XVI:
Phật giáo là một trào lưu triết học – tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế
kỷ thứ VI TCN ở bắc Ấn Độ. Theo sử sách ghi lại, người sáng lập ra là Tất Đạt Đa,
khuyên con người tu tập theo Bát chính đạo, gồm có: chính kiến, chính tư duy,
chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tịnh tiến, chính niệm, chính định. Bát
chính đạo là con đường Đức Phật đã chỉ ra để con người có được trí tuệ diệt trừ vô
minh, phá vòng luân hồi sinh tử, vừa thực hành tu tập diệt trừ tham dục, đạt đến sự
giải thoát.
Về thời điểm Phật giáo truyền vào Việt Nam, đến nay tuy chưa có những cứ
liệu chính xác, song hầu hết các học giả đều cho rằng, Phật giáo truyền vào Việt
Nam khá sớm, khoảng thế kỷ II sau Công nguyên. Phật giáo truyền bá vào nước ta
chủ yếu theo hai nguồn: Một, từ các vị sư Trung Hoa sang lánh nạn ở miền Bắc
nước ta khi Hán triều có nội loạn ở thế kỷ thứ II và thế kỷ thứ III; Hai, từ các thiền
sư từ Ấn Độ trực tiếp sang truyền đạo và lập nên các thiền phái ở nước ta từ thế kỷ
thứ II và III kéo dài nhiều đời. Phật giáo bắt đầu xuất hiện ở nước ta trong thời Bắc
thuộc, đây là thời kỳ nhân dân ta phải sống dưới ách đô hộ, áp bức và bóc lột của
nhà nước phong kiến phương Bắc. Vậy nên người dân Việt Nam có ý thức sâu sắc
về nỗi khổ của con trong thế tục, đây chính là điểm tương đồng với nhân sinh quan
Phật giáo. Hơn thế nữa, Phật giáo du nhập vào nước ta với tinh thần từ bi, hỷ xả,
cứu khổ cứu nạn, các nhà sư là người truyền giáo đồng thời làm công việc cứu tế,
chữa bệnh cho dân chúng. Chính điều ấy khiến cho Phật giáo nhanh chóng nhận
15
được thiện cảm từ phía nhân dân Việt Nam và dễ dàng hòa nhập vào đời sống văn
hóa, tinh thần của dân tộc.
Trong thời kỳ Bắc thuộc, Phật giáo dần lan tỏa trong đời sống tinh thần của
nhân dân, được biểu lộ trong các câu chuyện cổ tích về một vị Bụt, người luôn xuất
hiện để cứu giúp những người gặp phải hoàn cảnh đau khổ, bất công. Sang đến triều
đại nhà Đinh và Tiền Lê, khi nền độc lập còn non trẻ, các vị vua tuổi đời và trình độ
học thức cũng không cao đã mời các Thiền sư uyên bác, đạo pháp cao thâm vào
triều làm cố vấn chính trị và ngoại giao. Những thiền sư tiêu biểu của giúp sức cho
hóa sinh ra, tác động với nhau, phồn thịnh với nhau, rồi cuối cùng tan rã để trở về
trạng thái không vật không hình, tức là trở về nguồn gốc của nó là Đạo. Về nhân
sinh quan, Đạo giáo cho rằng, đạo trời không thân ai, không sợ ai. Trời Đất sinh ra
muôn vật, cây cỏ, chim muông, nhân loại cốt để các sinh vật khắc chế lẫn nhau,
nuôi dưỡng nhau, bổ trợ nhau để cùng tồn tại. Theo Đạo giáo, con người không nên
ham mê danh lợi, quá coi trọng cái xác thịt của mình mà hãy sống một cách bình
thản, vô lo, vô nghĩ, thuận theo tự nhiên. Chính từ quan niệm đó, Đạo giáo khuyên
con người chọn lối sống vô vi, bất tranh để hòa hợp với thiên nhiên, vạn vật.
Khi nói về sự du nhập của Đạo giáo vào Việt Nam, không có tài liệu nào chỉ
ra thời gian cụ thể tôn giáo này được truyền bá tại nước ta, chỉ có thể biết rằng Đạo
giáo bắt đầu xuất hiện dưới thời Bắc thuộc. Đạo giáo truyền sang Việt Nam, chia
thành hai phái: Đạo giáo Phù thủy dùng pháp thuật trừ tà, trị bệnh giúp người dân
quê khỏe mạnh, và Đạo giáo Thần tiên dạy tu tiên, luyện thuốc trường sinh bất tử
cho giới quí tộc. Ngay từ khi đạo Nho chưa có cơ sở xã hội ở nước ta, thì Đạo Phù
thủy nhờ sự tương đồng với các ma thuật phù phép địa phương, nên đã bắt đầu phát
triển rộng rãi từ đời Tiền Lê. Thời xa xưa, người Việt ta thường dùng bùa chú, họ
tin rằng có thể trị tà ma, chữa bệnh, sai âm binh, tàng hình, v.v. Một số nhà sư cũng
phải học phù phép, chữa bệnh, đuổi tà nhằm tạo uy tín, lòng tin với dân chúng để có
thể truyền bá Phật giáo dễ dàng.
Ở thời Đinh – Tiền Lê, Đạo giáo cũng được tôn trọng và đề cao giống như
Nho giáo. Bên cạnh các thiền sư thì nhà vua cũng cho mời các vị đạo sĩ uyên bác
vào triều đình để giúp sức cho vua. Đến ưới thời Lý - Trần, hình thức khoa thi tam
giáo chứng tỏ rằng các tư tưởng của Đạo giáo cũng được coi trọng như Phật giáo và
Nho giáo. Trong đó, Đạo giáo ảnh hưởng chủ yếu đến các nhà tư tưởng bởi học
thuyết của nó có hàm lượng triết học cao, đó là những vấn đề bản thể luận, nhận
thức luận về “Đạo” và “Đức”, về quy luật vận động và biến đổi của các sự vật hiện
tượng trong thế giới. Bên cạnh các quan niệm của Đạo giáo về bản thể luận, vũ trụ
17
quyền. Không chỉ có vai trò trong lĩnh vực chính trị, Phật giáo và Đạo giáo tiếp tục
18
tồn tại, phát triển và đi sâu vào đời sống tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân Việt
Nam.
Đến thời kỳ nhà Lý, vào những năm 70 của thế kỷ XI, triều đình nhà Lý đã
có những hoạt động nhằm phát triển Nho học lúc bấy giờ như: thành lập Văn Miếu
vào năm 1070, Minh kinh bác học và Nho học tam trường 1075, xây dựng Quốc tử
giám vào năm 1076, mở khoa thi tam giáo đầu tiên năm 1195,… Có thể nói đây là
một tiền đề cho việc Nho giáo từng bước vươn lên xác lập vị thế của nó trên lĩnh
vực chính trị, đáp ứng sự đòi hỏi của xã hội. Hệ thống khoa cử theo lối Nho học
xuất hiện, nó đã sản sinh thêm đội ngũ trí thức Nho học bên cạnh những thiền sư
Phật giáo và đạo sĩ của Đạo giáo. Lúc này, nhà Nho có thể tự đứng ra để truyền bá
và phát triển Nho giáo, chính vì thế những ảnh hưởng của Phật, Đạo đối với Nho
giáo dần mờ nhạt. Ở Việt Nam, xu hướng “sùng Phật ngưỡng Nho” bắt đầu có từ
thời Lý - Trần trở đi, nhà cầm quyền lúc này, họ tôn sùng Phật giáo phần nhiều trên
lĩnh vực đời sống tâm linh. Trong công việc chính sự, khi cần họ đều tham kiến
những thiền sư tài cao học rộng tuy nhiên, Phật giáo không phải học thuyết chính
trị, mà là hệ tư tưởng về tôn giáo, đạo đức nên nó không có hệ thống quan điểm về
luật phát, chính quyền, cơ chế tuyển dụng nhân tài cho đất nước,… chính vì vậy,
các nhà vua đã kết hợp cả những tư tưởng của Nho giáo và sử dụng đội ngũ trí thức
Nho học cho việc cai trị và quản lý bộ máy triều đình. Dưới thời Lý – Trần, về mặt
vị trí, Phật giáo vẫn là hệ tư tưởng chính thống, chiếm vị thế chủ đạo được các vua
đề cao, coi trọng nhưng Nho giáo đã có sự bứt phá, vươn lên và đạt được vị trí gần
như ngang hàng với Phật giáo trong lĩnh vực chính trị. Về mặt vai trò, Phật giáo vẫn
ảnh hưởng đến đường lối cai trị của Nhà nước, biểu hiện qua những chính sách thân
dân, khoan dung và đối trọng với nó là tư tưởng của Nho giáo, nó bổ sung cho sự
thiếu hụt quan niệm về bộ máy nhà nước, chính trị của Phật giáo.
Việt Nam bắt đầu suy yếu, đặc biệt là sự xuống cấp về đạo đức của bộ máy vua
quan triều đình.
Nguyễn Dữ là một trong những học trò xuất sắc của Trạng Trình Nguyễn
Bỉnh Khiêm. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, hiếu học và có tài văn chương
kiệt xuất. Sau khi đậu kì thi Hương, Nguyễn Dữ được bổ nhiệm làm quan tại huyện
Thanh Thuỷ. Tại nhiệm được một năm, chán nản trước sự xuống cấp của bộ máy
triều đình, ông xin từ chức về quê, phụng dưỡng mẹ già cho toàn đạo hiếu. Từ đó,
Nguyễn Dữ sống xa lánh thế tục, ở ẩn tại vùng núi Thanh Hoá. Ông lựa chọn lối
sống an nhiên, tự tại, hang ngày làm bạn với thiên nhiên, núi rừng. Chính vì lẽ đó
mà Nguyễn Dữ có thể tập trung vào thú vui văn chương, chữ nghĩa. Và Truyền kỳ
mạn lục được Nguyễn Dữ sáng tác trong giai đoạn này. Bộ truyện gồm 20 truyện,
20
sau khi tiếp xúc với tác phẩm Tiễn đăng tân thoại của tác giả Trung Hoa - Cù Tông
Cát (1347 - 1433), Nguyễn Dữ đã trực tiếp chịu ảnh hưởng của tác phẩm truyền kỳ
này.
Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm duy nhất còn lại của Nguyễn Dữ. Truyền kỳ
mạn lục được nguyễn Dữ viết vào khoảng vào nửa đầu thế kỷ XVI (khoảng những
năm 20 – 30). Thời điểm ra đời của Truyền kỳ mạn lục là vào lúc triều đại nhà Lê
trên đà suy vi với các ông vua nổi tiếng hoang, dâm tàn bạo như Uy Mục (1505 1509), Tương Dực (1509 - 1516). Trong một số truyện của Truyền kỳ mạn lục đã in
đậm dấu ấn đau thương của thời đại đó. Cốt truyện Truyền kỳ mạn lục chủ yếu lấy
từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ
truyền thuyết các vị thần mà đến thời hiện nay vẫn còn. Nguyễn Dữ viết bộ truyện
này nhằm ghi lại những câu chuyện truyền thuyết linh dị, kì bí từ thời Lý – Trần
đến thời ấy.
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ gồm 20 truyện, chia làm 4 quyển, được
viết theo thể loại truyền kỳ. Khi viết Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ đã dựa chủ yếu
vào những câu chuyện đã lưu truyền trong dân gian, có nhiều trường hợp lấy từ
phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ.
Dung thông tam giáo là một biện pháp nhiều nhà Nho đã lựa chọn trong bối
cảnh xã hội ấy. Nhưng đây không phải lần đầu tiên biện pháp này xuất hiện tại Việt
Nam. Tam giáo Nho, Phật, Đạo là ba học thuyết được du nhập vào Việt Nam từ bên
ngoài, trải qua một quá trình tiếp biến văn hóa giữa tam giáo và với các yếu tố bản
địa đã làm hình thành nên những đặc điểm riêng của tư tưởng dân tộc ta. Ngay từ
thời Bắc thuộc, sự du nhập và tiếp biến của Nho, Phật, Đạo ở Việt Nam mang sắc
thái “cạnh tranh” để giành vị trí ảnh hưởng của mỗi giáo đến đời sống tinh thần của
người Việt. Sang thời kỳ đầu độc lập (từ thế kỷ X – đầu thế kỷ XV), do nhu cầu
xây dựng và củng cố nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, vấn đề quản lý xã
hội cần phải có một học thuyết chủ đạo và phù hợp nên Nho giáo ngày càng trở nên
quan trọng hơn. Với mô hình nhà nước mô phỏng phương Bắc, nhà Lý và tiếp đó
đến Trần và Hồ phải quan tâm đến vấn đề giáo dục, đào tạo con người của Nho
giáo. Chính vì vậy, Phật giáo và Đạo giáo từng bước nhường chỗ cho Nho giáo
trong lĩnh vực giáo dục – khoa cử cũng như quản lý xã hội. Mối quan hệ tam giáo
thời kỳ này là thống nhất trong đa dạng vì mục tiêu xây dựng nhà nước phong kiến
trung ương tập quyền và xây dựng, phát triển đất nước về mọi mặt. Thế kỷ XV, Nho
giáo chiếm lĩnh địa hạt chính trị, Phật giáo và Đạo giáo lui về địa bàn làng xã và
ảnh hưởng tới đời sống tinh thần cư dân ở đây như dưới thời Bắc thuộc. Sang thế kỷ
XVI, Nho giáo không còn đủ khả năng để khắc phục tình trạng rối loạn trong xã hội
22