VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH ĐỨC TÀI
GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI
CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH ĐỨC TÀI
GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI
CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN LONG HẢI
HÀ NỘI, năm 2020
Hồ Chí Minh ở một số địa phương và bài học rút ra cho quận Cẩm Lệ, thành phố
Đà Nẵng ................................................................................................................ 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA
ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................................ 29
2.1. Đặc điểm của quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng ảnh hưởng đến hoạt động
giám sát và phản biện xã hội của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ...... 29
2.2. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ... 34
2.3. Tình hình giám sát, phản biện của ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ....................................................................... 36
2.4. Đánh giá chung về hoạt động giám sát, phản biện của Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ................................ 47
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁM
SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA ĐOÀN NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ
MINH TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ....... 53
3.1. Phương hướng thực hiện giám sát và phản biện của Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng .......................................... 53
3.2. Các giải pháp tăng cường giám sát và phản biện của Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng .......................................... 56
3.3. Tăng cường hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Đoàn Thanh niên
trên lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. ... 70
KẾT LUẬN ................................................................................................. 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
GSXH
Giám sát xã hội
6
GS & PBXH
Giám sát và phản biện xã hội
7
TNCS
Thanh niên Cộng sản
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
hình
2.1
Tên hình
Bản đồ hành chính quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Trang
về Quy chế GS & PBXH của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội,
1
vai trò GS & PBXH đây là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của các
đoàn thể CT- XH các cấp, trong đó có Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, trên thực tiễn hoạt động GS&PBXH của các đoàn thể CT-XH
nói chung và của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
nói riêng hiện đang còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa phát huy hết vai trò và trách
nhiệm GS&PBXH của mình. Nhiều đơn vị đoàn ở cơ sở chưa phát huy tốt vai
trò GS&PBXH của mình, còn lúng túng trong lựa chọn nội dung, thiếu chủ
động; đội ngũ cán bộ làm công tác giám sát, phản biện. Có thể nói, thực tiễn
công tác GS& PBXH của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh quận Cẩm Lệ, thành phố
Đà Nẵng đã đạt được một số thành tựu, song nhiều câu hỏi liên quan đến hạn
chế, bất cập trong công tác GS& PBXH đang đặt ra cần nghiên cứu trả lời. Xuất
phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Giám sát, phản biện xã hội của
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành
phố Đà Nẵng” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về GS& PBXH
của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và các đoàn thể CT-XH. Ở nhiều góc độ khác
nhau về lý luận và thực tiễn có thể kể đến một số công trình nghiên cứu, tác
phẩm.
Trước hết là một số nghiên cứu về GS& PBXH:
“PBXH và phát huy dân chủ pháp quyền” của Hồ Bá Thâm và Nguyễn Tôn
Thị Tường Vân đồng chủ biên do NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2010,
cho rằng: cần có sự phản biện đối với những chủ trương, chính sách trước khi đưa
vào thực hiện vì mức độ ảnh hưởng nhiều đến dân sinh là khá lớn. Cuốn sách cũng
đi sâu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của phản biện xã hội và vai trò của phản
biện xã hội trong việc tăng cường, phát huy dân chủ pháp quyền ở nước ta hiện
MTTQ Việt Nam để phân tích, đánh giá và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả của hoạt động này tại MTTQ Thành phố Đà Nẵng.
Luận văn thạc sĩ "GS& PBXH của MTTQ của Huyện Châu Thành, tỉnh
Tiền Giang" thực hiện năm 2018 tại Học viện Khoa học xã hội- Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam. Nội dung nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các văn bản
3
liên quan đến chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước
về GS&PBXH của Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện Châu Thành, tỉnh Tiền
Giang; tìm hiểu thực trạng hoạt động GS& PBXH của Ủy ban MTTQ Việt Nam
huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang; Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động
GS& PBXH của Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Ngoài ra, còn có các bài viết đăng trên các Tạp chí chuyên ngành như:
Hoàng Minh Hội (2014), “Thực trạng pháp luật về giám sát của nhân dân
đối với cơ quan HCNN ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị”, Tạp chí Khoa
học Đại học Quốc gia Hà Nội số 2/2014;
Nguyễn Văn Pha (2016), “Để MTTQ Việt Nam thực hiện tốt vai trò giám
sát và phản biện xã hội”, Tạp chí Xây dựng Đảng số 1+2/2016.
Ngô Thị Khánh (2019) "Tăng cường hoạt động giám sát, phản biện xã
hội của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh", Tạp chí Lý luận chính trị, số 11-2019.
Trong những năm qua, chủ đề GS & PBXH đã thu hút sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu, hệ thông các bài viết, công trình nghiên cứu hoạt động
GS&PBXH của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể CT - XH đa dạng và phong
phú hơn. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có luận văn nghiên cứu nào đề cập
chuyên sâu, về hoạt động GS&PBXH của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nói chung
và của Đoàn Thanh niên quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng nói riêng. Chính vì
vậy, kế thừa những kết quả nghiên cứu trên, luận văn tập trung nghiên cứu về
hoạt động GS&PBXH của các tổ chức CT - XH khác để làm sáng tỏ thực trạng
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được vận dụng để nhìn nhận, đánh
giá và đúc kết những vấn đề có tính nguyên tắc, tính đặc thù trong công tác GS&
PBXH của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, các lý thuyết về chính sách công, về khoa học quản lý, tổ
chức nhà nước, quan điểm, đường lối của Đảng và hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật của Nhà nước về GS& PBXH của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, được
vận dụng để nhìn nhận vấn đề nghiên cứu trong thực tiễn một cách rõ ràng hơn.
5
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã
hội như tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, tổng kết kinh nghiệm để thực
hiện đề tài nghiên cứu của mình.
6. Ý nghĩa của luận văn
Góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về GS&PBXH; đề xuất
các giải pháp nhằm tăng cường GS& PBXH của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nâng cao hiệu lực và hiệu
quả công tác GS& PBXH của các tổ chức CT-XH cũng như tại các chương trình,
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng liên quan đến công tác tổ chức và hoạt động của hệ
thống bộ máy HCNN.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3
chương:
Chương 1.Cơ sở lý luận về GS&PBXH của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Chương 2. Thực trạng GS&PBXH của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
Chương 3. Phương hướng và giải pháp tăng cường GS&PBXH của
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
7
“Giám sát là việc theo dõi, phát hiện, xem xét; đánh giá kiến nghị nhằm
tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công
chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước"[2]
Như vậy, có thể hiểu giám sát có những nội dung cơ bản: là một dạng
quyền lực nhà nước; là quá trình theo dõi, quan sát, phân tích, nhận định về hành
vi của đối tượng bị giám sát xem có vi phạm những chuẩn mực của chủ thể
quyền lực hay không, để có những tác động điều chỉnh đối tượng thực hiện đúng
các yêu cầu chuẩn mực mà chủ thể quyền lực đề ra.
Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm cho hoạt động được
thực hiện đúng mục đích và đạt hiệu quả tốt nhất trong điều kiện có thể, theo
chương trình, kế hoạch đã đề ra. Giám sát được tiến hành một cách khách quan,
độc lập, chuyên nghiệp và được thực hiện bởi một lực lượng khác, độc lập, ngoài
chủ thể tiến hành hoạt động ấy.
Từ những phân tích ở trên, có thể hiểu: Giám sát là sự theo dõi, quan sát
hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động
bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu
sự giám sát đi đúng quỹ đạo, đúng quy chế nhằm giới hạn quyền lực, bảo đảm
cho pháp luật được tuân thủ nghiêm minh.
1.1.1.2. Giám sát xã hội
GSXH (social supervison) là hoạt động giám sát việc thi hành đường lối,
chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đối với người được
giao thực thi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật đó, có nghĩa là phải
giám sát từ chủ trương tới quá trình thực hiện và kết quả đạt được.
Quá trình tổ chức GSXH phải bảo đảm tính trung thực, tính khoa học, tính
khách quan và thiết thực. Muốn thực hiện giám sát có hiệu quả, thiết thực, cần
lớn của nhân dân (MTTQ Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội
nghề nghiệp...), bằng hình thức giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp của mỗi công
dân. Mục đích của GSXH không phải là tạo ra sự đối lập giữa dân chúng với nhà
9
nước và hệ thống chính trị. Trái lại, GSXH là sự bổ sung quan trọng, khách quan
cho những hình thức giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và của hệ thống
chính trị. Nhờ đó, không chỉ hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước mà toàn xã hội
có được sự đối trọng, cân bằng cần thiết để nó được tổ chức và vận hành theo
hướng khoa học và hiệu quả hơn.
Từ những phân tích trên đây, có thể rút ra khái niệm:
Giám sát xã hội là hình thức giám sát của các chủ thể ngoài nhà nước gồm
các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí – truyền thông và công dân đối với tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm bảo đảm có được sự đối trọng,
cân bằng cần thiết để nó được tổ chức và vận hành theo hướng khoa học và hiệu
quả hơn trong thực thi quyền lực của nhân dân.
1.1.2. Khái niệm phản biện và phản biện xã hội
1.1.2.1. Phản biện
Theo Đại từ điển tiếng Việt (2013), “Phản biện là việc xem xét, đánh giá
chất lượng một công trình khoa học trước hội đồng chấm thi nghiệm thu đề tài”
hay là “đánh giá chất lượng một công trình hoa học khi công trình được đưa ra
bảo vệ để lấy học vị trước hội đồng chấm thi"[24].
Theo cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng”, thì “Phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận,
thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau"[8].
Những diễn đạt khác nhau trên đây, chung quy lại đều đồng nhất
ở điểm: Phản biện là hoạt động của một chủ thể (cá nhân hay tổ chức) nhằm
thẩm định, đánh giá chất lượng hay giá trị khoa học của một sản phẩm khoa học
đội dự bị tin cậy của Đảng, nguồn cung cấp cán bộ theo yêu cầu nhiệm vụ chính
trị của Đảng.
Đối với Nhà nước: Đoàn là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đoàn phối
hợp với các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể và tổ chức xã hội chăm lo giáo dục,
đào tạo và bảo vệ thanh thiếu nhi.
Đối với các tổ chức xã hội của thanh niên và phong trào thanh niên: Đoàn
giữ vai trò làm nòng cốt chính trị trong việc xây dựng tổ chức và hoạt động của
13
Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam, Hội Doanh
nghiệp trẻ Việt Nam và các thành viên khác của Hội.
Đối với Đội TNTP Hồ Chí Minh: Đoàn giữ vai trò là người phụ trách Đội
và có trách nhiệm xây dựng tổ chức Đội, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
làm công tác thiếu nhi, tạo điều kiện về cơ sở vật chất và tài chính cho hoạt động
của Đội.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung
dân chủ và được tổ chức thành hệ thống Đoàn gồm 4 cấp: Cấp Trung ương; Cấp
tỉnh và tương đương; Cấp huyện và tương đương; Cấp cơ sở (gồm Đoàn cơ sở và
chi đoàn cơ sở).
1.2. Đặc điểm chính trị - pháp lý về hoạt động giám sát và phản biện
xã hội của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
1.2.1. Đặc điểm chính trị- pháp lý về hoạt động giám sát và phản biện
xã hội
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám -1945, lập nên nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ bản chất của Nhà nước Việt
Nam là: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu
quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự
hoạt động đối ngoại Nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"[15].
Trên cơ sở những văn bản pháp lý quan trọng, ngày 12/12/2013, Ban Chấp
hành Trung ương Đảng ra Quyết định 217-QĐ/TW ban hành Quy chế giám sát
và PBXH của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, Quy chế nêu
rõ: “Giám sát và PBXH là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối
với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước"[2].
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định:
“MTTQ và các đoàn thể nhân dân tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân, thực hiện dân chủ, giám sát, PBXH; tăng cường đồng thuận xã hội;
tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại Nhân dân góp phần
tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc"[12].
15
Như vậy, qua sự phân tích trên có thể thấy rõ quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về vấn đề giám sát và PBXH, coi đây là vấn đề hết sức quan trọng, là
nhân tố góp phần phát huy, mở rộng dân chủ, khơi dậy ý thức trách nhiệm của
toàn xã hội dưới hình thức tham gia vào các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội
để được thể hiện quan điểm, ý kiến, phản biện, đóng góp vào xây dựng chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, giúp nhìn nhận, đánh giá
và khắc phục được hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm của các chính sách hiện nay.
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có Luật Giám sát và PBXH nên chưa có
những chế tài cụ thể. Những căn cứ pháp lý cho hoạt động GS&PBXH mới chỉ
ở quan điểm, chủ trương, quy định, quy chế.
1.2.2. Cơ sở chính trị- pháp lý về hoạt động giám sát và phản biện xã
hội của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Ngoài những cơ sở CT-PL chung về hoạt động GS& PBXH như đã
phân tích ở mục trên thì hoạt động GS& PBXH của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
chế nêu rõ: Chủ thể giám sát và phản biện xã hội:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể CT - XH từ Trung ương đến
cơ sở, bao gồm: MTTQ Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt
Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh.Như vậy, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, là một chủ thểgiám
sát và phản biện xã hội.Đồng thời, quy định rõ:
“Giám sát” là việc theo dõi, phát hiện, xem xét; đánh giá kiến nghị nhằm
tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công
chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước.
“Phản biện xã hội” là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị
đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của
Nhà nước.
“Giám sát và phản biện xã hội” là giám sát và phản biện của MTTQ Việt
Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội.
17
Bên cạnh đó, với vai trò là một tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam,
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cũng tuân thủ quy định về chức năng GS&PBXH của
MTTQ Việt Nam.
Về Phản biện xã hội, là việc Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trực tiếp
hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận xét,
đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy
hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án (sau đây gọi chung là dự thảo văn
bản) của cơ quan nhà nước.
Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội, khách
quan, khoa học, xây dựng, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn
đời sống xã hội và tính hiệu quả của văn bản; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp,
đây gọi chung là cá nhân).
2- Nội dung giám sát
Việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) của cơ quan, tổ chức và
cá nhân.
Thứ hai, về phạm vi giám sát
Theo quy định tại điều 6, Quy chế GS& PBXH của MTTQ Việt Nam và
các đoàn thể chính trị - xã hội, thì phạm vi giám sát của Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh gồm: Chủ trì giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) có
liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội
viên, chức năng, nhiệm vụ của đoàn thể mình; phối hợp với MTTQ Việt Nam
thực hiện nhiệm vụ giám sát đối với những nội dung có liên quan.
Thứ ba, về phương pháp giám sát
19