NỘI DUNG CỦA CÁC VẤN ĐỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA - Pdf 70

Trần Phước Cường

79
CHƯƠNG 8. NỘI DUNG CỦA CÁC VẤN ĐỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
QUỐC GIA

8.1. Quản lý chất lượng các thành phần môi trường
8.1.1. Quản lý chất lượng không khí
8.1.1.1. Quản lý các nguồn thải ô nhiễm tĩnh (nguồn thải công nghiệp)
a. Bố trí khu công nghiệp
Trong quy hoạch sử dụng đất, việc bố trí tập trung các cơ sở sản xuất vào các khu
công nghiệp là một biện pháp quan trọng hàng đầu để kiểm soát ô nhiễm. Khu công nghiệp
cần phải đặt ở cuối hướng gió và cuối nguồn nước đối với khu dân cư, xung quanh khu
công nghiệp có vành đai cây xanh ngăn cách với khu dân cư và các khu đô thị khác. Ở
Vương quốc Anh đã từ lâu các chính quyền địa phương có quyền xác định toàn bộ hay một
phần khu vực đô thị là “các khu vực không được xả khói”, xả khói trong các khu vực này
bị coi là vi phạm, bị phạt hoặc bị đình chỉ hoạt động, như vậy chỉ được bố trí các công
nghiệp sản xuất không có ống khói, không gây ô nhiễm ở các khu vực này, chính quyền
địa phương còn quy định chiều cao tối thiểu của các ống khói đối với các cơ sở công
nghiệp.
Các cơ sở sản xuất công nghiệp càng phân tán trong đô thị, phân thành nhiều khu
công nghiệp nhỏ, nhất là phân tán xen kẽ trong các khu dân cư đô thị càng bị ô nhiễm, số
người bị tác động sức khỏe bởi ô nhiễm môi trường không khí càng lớn, có thể gấp 2-3 lần
so với trường hợp bố trí công nghiệp tập trung vào các khu công nghiệp lớn. Hiện nay ở
nhiều đô thị nước ta, nhất là các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí
Minh đang phải thực hiện một giải pháp “bất đắc dĩ” là đóng cửa hay yêu cầu các nhà máy,
xí nghiệp gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, nằm xen kẽ trong các khu dân cư nội thành,
chuyển ra các khu công nghiệp tập trung ở ngoại thành.
b. Quản lý các nguồn thải tĩnh
Kiểm soát các nguồn thải tĩnh (các ống khói công nghiệp) là một biện pháp quan
trọng của quản lý môi trường không khí. Ở Mỹ người ta đã tổng kết kinh nghiệm về công

ít người gây ô nhiễm phải trả phí, nên các khoản thu này quá thấp, không đủ trang trải cho
mọi chi phí quản lý.
c. Ô nhiễm phóng xạ
Các chất phóng xạ rơi vào khí quyển trong quá trình phóng xạ tự nhiên, khai thác
quặng uran, các vụ nổ nguyên tử và khi sử dụng các chất phóng xạ.
Ô nhiễm phóng xạ khí quyển chủ yếu là do các vụ nổ bom nguyên tử và bom khinh
khí. Mỗi một vụ nổ như vậy, gây ra những đám mây bụi khổng lồ, sóng lan truyền các bụi
phóng xạ đó vô cùng mạnh, có thể nâng cao đến 30m. Những phút đầu của vụ nổ, các hạt
lớn rơi xuống đất ngay, các hạt bé phải hơn 3 ngày sau, còn các hạt bụi nhỏ thì gió có thể
mang đi hàng nghìn cây số và rơi xuống dần trong nhiều năm.
Các đồng vị hình thành trong các vụ nổ có các giai đoạn bán phân hủy khác nhau,
trong đó có hai đồng vị phóng xạ nguy hiểm nhất đó là stronti - 90 (giai đoạn bán phân hủy
là 25 năm) và seri 137 (thời kỳ bán phân hủy là 33 năm). Sự lan truyền đồng vị phóng xạ
xảy ra qua các sản phẩm thực vật, phân, nước tiểu, xác động vật. Sự vận chuyển của nó
Trần Phước Cường

81
đóng vai trò quan trọng trong mắc xích thức ăn. Trong nước, sinh vật phù du hấp thụ các
chất đồng vị, sau đó cá ăn các sinh vật phù du, rồi chim ăn cá, cuối cùng là đến người.
8.1.1.2. Quản lý các nguồn thải ô nhiễm di động
Các phương tiện giao thông cơ khí là các nguồn thải di động gây ô nhiễm môi
trường không khí. Đô thị càng lớn, càng phát triển, thì giao thông cơ giới sẽ càng phát triển
và nguồn thải chất ô nhiễm không khí do phương tiện giao thông cơ giới gây ra trong đô
thị càng lớn. Ở rất nhiều đô thị lớn ở trên thế giới hiện nay lượng thải ô nhiễm không khí từ
các phương tiện giao thông cơ giới chiếm 70-80% tổng lượng thải ô nhiễm không khí ở đô
thị. Kết quả nghiên cứu của đề tài “Ô nhiễm bụi hô hấp trong không khí đô thị” do GS.TS
Phạm Duy Hiển chủ trì (1999) đã sơ bộ xác định được tỷ lệ đóng góp của các nguồn thải
vào tổng bụi hô hấp (PM10) trong không khí ở vườn hoa Hàng Đậu và trạm khí tượng
Láng (Hà Nội) như sau: 48% từ mặt đất, 20% từ xe cộ, 10% là bụi thứ cấp, 7% từ đốt than,
6% là sol khí từ biển, 4% do đốt dầu và 7% do công nghiệp. Nếu coi bụi từ mặt đất và bụi

Để loại trừ ô nhiễm chì trong không khí đô thị, ở nhiều nước đã cấm sử dụng xăng
pha chì để tăng chỉ số octan. Đầu tiên là áp dụng công cụ kinh tế để khuyến khích sử dụng
xăng không pha chì, như là giảm thuế đối với mua bán xăng không pha chì, tăng thuế, tăng
lệ phí đối với xăng pha chì, dần dần sau đó cấm hẳn việc sử dụng xăng pha chì trong giao
thông vận tải. Hiện nay nước ta đã cấm sử dụng xăng pha chì trong giao thông vận tải. Để
giảm bớt ô nhiễm khí SO
2
trong thành phố người ta quy định hàm lượng lưu huỳnh trong
dầu diezen dùng cho ôtô phải rất nhỏ. Ở một số nước còn quy định không cho xe ôtô chạy
bằng dầu diezen lưu hành trong thành phố, bởi vì khí xả của các loại xe này không những
chứa SO
2
mà còn có nhiều muội và tàn khói rất nguy hại đối với sức khỏe của con người
(gây bệnh khí thủng). Để giảm bớt bay hơi của khí hydrocacbua, năm 1990 ở Mỹ đã quy
định chất lượng xăng như sau: chứa ít nhất là 2% ôxy (bằng cách cho thêm cồn), không
quá 25% các hợp chất hữu cơ thơm, không quá 1% benzen và chất tẩy rửa.
Nếu dùng khí tự nhiên hóa lỏng (gas) làm nhiên liệu cho xe ôtô thay cho xăng chì
thì sẽ giảm phần lớn ô nhiễm môi trường không khí đô thị do giao thông vận tải gây ra.
Năm 1992 ở Bangkok đã cải tiến động cơ và lắp đặt được 25 xe ôtô buýt chạy bằng khí tự
nhiên hóa lỏng, nhưng trở ngại kỹ thuật lớn nhất là thể tích thùng chứa gas rất lớn mới
chạy được đường dài. Để phát triển loại xe này chắc chắn còn phải giải quyết nhiều vấn đề
kỹ thuật và kinh tế.
Để giảm ô nhiễm không khí đô thị do giao thông vận tải gây ra, ở một số nước
phát triển đã tiến hành nghiên cứu sản xuất ôtô con chạy bằng năng lượng mặt trời và bằng
năng lượng điện. Tuy các loại xe ôtô này có ưu điểm về mặt môi trường rất lớn: không gây
ô nhiễm môi trường không khí và không gây tiếng ồn trong thành phố, nhưng để áp dụng
rộng rãi trong giao thông đô thị còn gặp một số trở ngại như sau:
- Sức kéo của động cơ các loại xe này còn nhỏ, do đó khả năng chuyên chở được ít,
tốc độ chạy còn hạn chế.
- Khả năng tích trữ năng lượng của các loại acquy, các loại pin điện dùng bằng cách

8.1.2.2.1. Nước thải sinh hoạt Nước thải từ các ngôi nhà (phân, nước tiểu, nhà bếp, tắm giặt,…)
Nước (99,9%) Các chất rắn (0,1%)
Chất hữu cơ (50-70%) Chất vô cơ (30-50%)
Protêin
(65%)
Carbonhydrat
(25%)
Chất béo
(10%)
Cát Muối
Kim
loại
Trần Phước Cường

84

- Đặc tính nước xả thải vào môi trường (người/ngày đêm)
+ Cặn lơ lửng (SS): 35 - 60g/người.ngđ, Cặn hữu cơ chiếm: 55-65%
+ Hàm lượng chất hữu cơ cao: BOD
5
chưa lắng: 30 - 35g/người.ngđ, đã lắng: 25 -

+ Rơi qua mái 12 mg/l
+ Rơi xuống sân 15 mg/l
+ Đường phố 35 ÷69 mg/l
Trần Phước Cường

85
8.1.2.2.4. Nước thải sản xuẩt nông nghiệp: chủ yếu là do chăn nuôi, trồng trọt
- Trồng trọt: Do bón phân, sử dụng hợp chất diệt sâu, cỏ. Nước chứa chất hữu cơ,
dinh dưỡng (N, P) cao, hoá chất BVTV.
- Chăn nuôi: Chất hữu cơ cao, chất dinh dưỡng: N, P cao
8.1.2.2.5. Hoạt động của tàu thuyền
Hoạt động của tàu thuyền trên sông, biển gây ô nhiễm dầu do rò rỉ, súc rửa tàu, do
sự cố tai nạn tràn dầu, do nạp và tháo nước dằn tàu (nước ballast: chứa hơn 3.000 loài sinh
vật khác nhau). Sinh hoạt của con người trên tàu thuyền.
8.1.2.3. Quản lý tài nguyên nước

Các biện pháp quản lý và bảo vệ tài nguyên nước thường được phối hợp với nhau
và tác động lẫn nhau. Sau đây là một số biện pháp chính:
- Quy hoạch nguồn nước để bảo vệ nước, đưa nước vào sử dụng hợp lý, khai thác
nguồn nước sẵn có để sử dụng hợp lý và hiệu quả hơn. Biện pháp quy hoạch quản lý, sử
dụng nước nhằm mục đích: sản xuất điện năng, cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp,
cấp nước cho nông nghiệp, cấp nước cho thủy sản, điều hòa dòng chảy cho giao thông, bảo
vệ chống ngập lụt và cạn kiệt.
- Các chính sách, pháp chế và quản lý nước thích hợp: đây là biện pháp mang tính
chất pháp lý, thiết chế và hành chính để áp dụng cho việc sử dụng và phân phối tài nguyên
nước, đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên nước. Tăng cường công tác hướng dẫn,
tuyên truyền luật tài nguyên nước. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý kịp
thời các nguồn gây ô nhiễm tài nguyên nước.
8.1.2.4. Bảo vệ môi trường nước


Hình 8.1. Các nguồn thải chất thải rắn
Bảng 8.1. Dân số và mức độ thu gom rác thải ở một số đô thị Việt Nam
Tỉnh thành Dân số thành thị Dân số nông thôn Hiệu quả thu gom (%)
TP. Hồ Chí Minh 3.378.500 5.728.900 70-75
Hà Nội 1.372.800 2.503.000 65
Hải Phòng 572.100 1.792.400 64
Đà Nẵng 446.000 446.000 66
Biên Hoà 365.500 365.500 30
Huế 266.800 266.800 30
(Nguồn: Watson 2004)

RÁC THẢI
Thải
Xử

Đất
Biển
Sông
Hồ
Ô nhiễm đất,
nước ngầm
Ô nhiễm biển

Ô nhiễm sông, hồ

Hiện tại, hầu hết các phế thải bệnh viện được thải lẫn lộn chung với các chất thải
sinh hoạt khác của thành phố mà không có sự phân loại và xử lý cục bộ, không một bệnh
viện nào được trang bị các phương tiện xử lý các phế thải độc hại một cách hoàn chỉnh,
điều này là nguyên nhân gây ra những mầm mống nguy hại rất đáng kể tới sức khỏe của
dân cư cũng như môi trường sống.
Rác thải sinh ra từ bệnh viện nhìn chung đều được thu gom thủ công sau đó xử lý
bằng cách thải ra bãi rác công cộng rất dễ gây ra bệnh dịch lớn trong một phạm vi rộng
lớn. Vì vậy hiện nay vấn đề xử lý rác thải sinh ra từ các bệnh viện, các trung tâm y tế đang
rất được quan tâm, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng, Huế, v.v.. vì đây là các thành phố lớn, đông dân, lượng rác thải sinh ra từ các bệnh
viện, trung tâm y tế hàng ngày rất lớn và thành phần rác thải cũng rất đa dạng.
Năm 1999, Bộ Y tế đã ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế, tuy nhiên, việc thực
hiện quy chế này hiện chưa có hiệu quả cao.
Trần Phước Cường

88
Cho đến năm 1999 ở nước ta mới có 1 thành phố là Hà Nội là có lò đốt chất thải
rắn bệnh viện đúng kỹ thuật và hợp vệ sinh, TP. Hồ Chí Minh cũng đang triển khai xây
dựng lò đốt rác bệnh viện theo công nghệ hiện đại.
c. Chất thải rắn công nghiệp
Trong quá trình sản xuất ở bất kỳ ngành công nghiệp nào cũng đều phát sinh chất
thải rắn, trong đó bao gồm cả phế liệu và phế phẩm. Công nghệ sản xuất càng lạc hậu thì tỷ
lệ lượng chất thải rắn tính trên đầu sản phẩm càng lớn. Có nhiều ngành sản xuất công
nghiệp có rất nhiều chủng loại khác nhau, thành phần của chất thải công nghiệp cũng rất
phức tạp, một số chủng loại có chứa chất độc hại, như thủy ngân từ các ngành công nghiệp
hóa clo, cyanua, crôm, kẽm, từ công nghiệp mạ, crôm từ công nghiệp crôm, luyện kim
màu, dầu mỡ từ công nghiệp dầu khí, chì từ chế tạo máy, công nghiệp sơn, sản xuất ắcquy.
8.1.3.1.2. Những vấn đề trong quản lý chất thải rắn hiện nay
a. Thu gom và vận chuyển chất thải rắn không đáp ứng yêu cầu
Hầu hết đô thị nước ta hiện nay còn rất yếu kém về việc thu gom và vận chuyển

Hiện nay ở nước ta trong quy hoạch phát triển đô thị và khu công nghiệp chưa
quan tâm thích đáng đến việc đổ thải và xử lý chất thải rắn. Công nghệ xử lý chất thải rắn
rất đơn giản và lạc hậu, chủ yếu là bằng cách chôn lấp. Vị trí bãi chôn rác không được lựa
chọn cẩn thận trong quy hoạch, nhiều nơi chỉ đơn thuần sử dụng điều kiện địa hình đất
trũng hay ao hồ có sẵn để làm nơi chôn rác. Các bãi chôn rác đều không được xây dựng
đúng kỹ thuật, không có lớp chống thấm ở đáy và xung quanh, nước rác không được thu
gom và xử lý, quy trình đổ rác không đúng kỹ thuật, do đó đã dẫn đến tình trạng rò rỉ, thẩm
thấu nước rác rất bẩn ra môi trường xung quanh, gây ô nhiễm nước mặt và về lâu dài có
thể thẩm thấu xuống dưới làm ô nhiễm nguồn nước ngầm.
Quá trình sử dụng và vận hành chôn lấp chất thải rắn đô thị tại các bãi chôn lấp
không hợp vệ sinh đã tạo nên những “đồi rác”. Thông qua các tác động của tự nhiên như
nắng, mưa, gió,… quá trình phân hủy các chất thải đã gây nên sự ô nhiễm môi trường. Mùi
xú uế đã gây sự khó chịu cho dân cư sinh sống quanh bãi, đồng thời hấp dẫn sự tập trung
của chuột, các loài ruồi, nhặng và các loài côn trùng truyền bệnh. Bãi rác bốc mùi hôi thối,
các khí mêtan, H
2
S … bốc lên gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh, nói chung
là rất mất vệ sinh, do đó đã xảy ra tình trạng nhân dân xung quanh ngăn chặn không cho đổ
rác vào bãi.
8.1.3.1.3. Quản lý chất thải rắn đô thị và công nghiệp
Quản lý chất thải rắn bao gồm các khâu chủ yếu sau: thu gom, vận chuyển, phân
loại và xử lý thải bỏ. Dưới đây nêu ra một sô biện pháp quản lý chính.
a. Xây dựng chiến lược và lập kế hoạch quản lý chất thải rắn
Cần phải nghiên cứu đánh giá chính xác hiện trạng chất thải rắn ở đô thị và công
nghiệp hiện nay của địa phương, cũng như dự báo chúng trong tương lai 10 - 15 năm tới,
đặc biệt làm rõ những vấn đề sau:
- Các nguồn thải chất thải rắn, trước mắt và lâu dài.
- Lượng thải là bao nhiêu, trước mắt và lâu dài.
- Thành phần và tính chất của chất thải rắn, trước mắt và lâu dài.
Từ kết quả nghiên cứu trên tiến hành xây dựng chiến lược và lập kế hoạch quản lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status