ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Khoa Sư phạm
Phan Văn Anh
Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trong các trường
trung cấp nghề thuộc Tổng liên đoàn lao động Việt Nam
trong thời kỳ cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số:
60 14 05
HÀ NỘI – 2007
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ
TRẦN THANH XUÂN
PHÁT TRIỂN MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG VÀ CÁC
KHUYẾN NGHỊ CHO VIỄN THƠNG VIỆT NAM
Ngành:
Kỹ thuật điện tử - viễn thơng
Chun ngành: Kỹ thuật vô tuyến điện tử và thông tin liên lạc
Mã số:
2.07.00
đang phát triển với qui mơ rộng lớn chưa từng thấy. Xu thế tồn cầu hóa, hội nhập
khu vực và quốc tế đang là một xu thế khách quan và tất yếu, đây là nhu cầu cấp
bách đối với mỗi dân tộc và mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển
trong đó có Việt Nam. Trong xu thế đó sẽ tạo ra rất nhiều những cơ hội, những
thuận lợi, và cũng gây khơng ít những khó khăn và thách thức cho một số quốc
gia. Đó là một cuộc cạnh tranh ngày càng gay go và quyết liệt, lợi thế sẽ thuộc về
các nước và các quốc gia nào có nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính vì vậy việc
phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao là chìa khóa để phát triển kinh tế, phát
triển đất nước một cách bền vững. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã cụ
thể hoá mục tiêu phát triển đối với dạy nghề trong thời kỳ cơng nghiệp hố - hiện
đại hố là: Đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý
thức kỷ luật lao động và tác phong lao động hiện đại. Gắn đào tạo với nhu cầu sử
dụng, với việc làm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động,
đáp ứng nhu cầu của các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu vực nông thôn, các
ngành kinh tế mũi nhọn và xuất khẩu lao động. Hình thành hệ thống đào tạo kỹ
thuật thực hành dáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, trong đó chú trọng
phát triển đào tạo nghề ngắn hạn và đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên,
nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao. (Một số vấn đề đặt ra đối với việc phát triển
hệ thống dạy nghề đến năm 2010, Tạp chí khoa học và đào tạo nghề, Số 2 tháng 6
năm 2005- Trung tâm nghiên cứu khoa học dạy nghề,Tổng cục Dạy nghề).
Để phát triển đất nước, trước mắt là đáp ứng kịp nhu cầu của sự nghiệp
cơng nghiệp hóa- hiện đại hóa, Đảng ta đã nhấn mạnh: phát triển giáo dục và đào
47
tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Trong sự nghiệp phát triển giáo
dục và đào tạo Đảng ta đã chỉ rõ: phải đặc bịêt coi trọng việc dạy nghề trong chiến
lược phát triển nguồn nhân lực của nước ta. Nghị quyết lần thứ IX Ban chấp hành
Trung ương Đảng cũng đã nhấn mạnh :"Mở rộng đào tạo cơng nhân kỹ thuật và
ta đang nằm trong tình trạng thiếu nguồn nhân lực có chất lượng cao, thiếu thày
giỏi, chuyên gia giỏi, thợ kỹ thuật giỏi, trong đó thợ kỹ thuật giỏi thì thiếu nhiều
hơn. Phải nói rằng; có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. Song muốn
khắc phục được tình trạng đó, và để có được nguồn nhân lực, lao động kỹ thuật có
chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của xã hội trong thời đại hiện nay,
ngoài việc quan tâm đầu tư tạo mọi điều kiện của các cơ quan quản lý nhà nước
về công tác giáo dục và dạy nghề, phải thực sự coi việc dạy nghề là sự nghiệp của
toàn xã hội, các cơ sở đào tạo dạy nghề, các trường nghề, cần phải tìm ra các giải
pháp quản lý trong hoạt động dạy học thực hành nhằm nâng cao chất lượng tay
nghề cho học sinh, sinh viên trong các nhà trường. Vì đó cũng là một trong những
ngun nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên.
Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định là một trường mới được thành lập
trên cơ sở hợp nhất 2 trường, đó là: Trường Trung học Xây dựng số 2 và Trường
Đào tạo nghề Xây dựng và Thủ công mỹ nghệ Nam Định. Để bước vào hội nhập
trong giai đoạn hiện nay và để khẳng định thương hiệu của nhà trường, việc nâng
cao chất lượng đào tạo tay nghề cho học sinh trong đó vấn đề cốt lõi là nâng cao
chất lượng dạy học thực hành là một việc làm hết sức cần thiết. Đây là việc làm
khơng những góp phần củng cố nâng cao thương hiệu của nhà trường mà cịn góp
phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động kỹ thuật ở nước ta hiện nay,
tạo sức cạnh tranh đối với các nguồn nhân lực lao động trong nước cũng như khu
vực và quốc tế.
47
Từ những lý do trên, việc lựa chọn vấn đề nghiên cứu: "Các giải pháp quản
lý hoạt động dạy học thực hành tại trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo tay nghề cho học sinh, sinh viên”, là việc làm rất cần
thiết để góp phần vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng kịp cho
sự nghiệp cơng nghiệp hố- hiện đại hố đất nước. Và đó cũng là đề tài luận văn
5.2. Nhóm phương pháp thực tiễn
Thu thập các dữ liệu, số liệu thông qua điều tra khảo sát và phỏng vấn hoặc
làm thí nghiệm tại trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định.
6. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
6.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy thực hành tại trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định.
6.2. Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu và nghiên cứu việc quản lý dạy học thực hành tại trường Cao đẳng
Xây dựng Nam Định.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham khảo
nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương chính sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động dạy học thực hành nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo tay nghề cho học sinh, sinh viên.
Chương 2: Thực trạng của vấn đề quản lý hoạt động dạy học thực hành tại trường
Cao đẳng Xây dựng Nam Định.
47
Chương 3: Các giải pháp quản lý hoạt động dạy học thực hành tại trường Cao
đẳng Xây dựng Nam Định nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tay nghề cho học
sinh, sinh viên.
47
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THỰC HÀNH
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TAY NGHỀ CHO HỌC SINH, SINH VIÊN
điều khiển và kiểm tra công việc nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Định nghĩa
này muốn nói đến sự lãnh đạo hệ thống bằng các chức năng quản lý.
Quản lý là những hoạt động có tính tổ chức dựa trên cơ sở nhận thức và vận
dụng các qui luật khách quan nhằm đưa ra các quyết định và thực hiện các quyết
định đó. Đây là một định nghĩa được tiếp cận theo lý thuyết ra quyết định, coi
quyết định là mấu chốt của quản lý, đồng thời định nghĩa này cũng nhấn mạnh
tính khoa học của quản lý.
Quản lý là một nghệ thuật; nghệ thuật khai thác tiềm năng của sản xuất kinh
doanh. Định nghĩa này lại nghiêng về tính nghệ thuật của thực hành quản lý.
Quản lý là sự tác động có hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
nhằm đạt được những kết quả tốt nhất với mục tiêu đã định trước. Định nghĩa này
muốn nói tới tính chất hành động vì mục tiêu quản lý.
Quản lý là những hoạt động do người đứng đầu tổ chức, gọi là nhà quản lý
thực hiện nhằm tạo điều kiện cho tổ chức hoạt động và đạt đến mục tiêu. “Bùi Sĩ,
Một số vấn đề về quản lý giáo dục nghề nghiệp. Chuyên đề bồi dưỡng sư phạm
bậc 2 cho giáo viên các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Bộ Giáo
dục và Đào tạo,Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội 1995”.
Hiện nay hoạt động quản lý thường được định nghĩa như sau: Quản lý là
quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (Chức
năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra. (Nguyễn Quốc Chí Nguyễn Thị Mỹ Lộc).
47
Theo quan điểm tác giả đề tài, để phù hợp với đề tài thì khái niệm về quản
lý được định nghĩa như sau: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của
chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong
một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
1.1.1.2 . Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến các đối
niệm về chất lượng có nhiều điểm không rõ ràng, nguyên nhân của điều này là do
từ: “chất lượng” được dùng cho cả hai quan niệm: chất lượng tuyệt đối và chất
lượng tương đối (điều này không chỉ xảy ra ở nước ta mà là hiện tượng chung củ�a người học. Mức độ nhận thức đó chính là: đi từ khơng biết đến biết, từ
biết đến hiểu, từ hiểu đến ứng dụng, vận dụng sáng tạo, từ vận dụng đến phân tích,
47
từ phân tích đến tổng hợp, từ tổng hợp đến đánh giá. Khi đã hiểu rõ các mức độ
nhận thức đó, kết hợp với nội dung tính chất của bài học và sở trường của mình
mà giáo viên có thể đưa các phương pháp dạy học phù hợp. Và một điều khơng
thể thiếu là nhà trường cũng phải có một chuyên gia về phương pháp để tham
mưu, cố vấn cho các giáo viên trong quá trình thực hiện các phương pháp dạy học
trong nhà trường.
3.2.5. Giải pháp đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học thực hành
Kiểm tra đánh giá là một khâu rất quan trọng trong cơng tác quản lý, làm
mà khơng có kiểm tra đánh giá thì khơng thể nào biết được kết quả, không biết
được những cái tốt và cái xấu, cái hay và cái dở trong quá trình làm để rút kinh
nghiệm. Thực tế đã chứng minh điều đó qua rất nhiều vụ việc điển hình như vụ
PMU18, Vụ sập cầu Cần Thơ… Tất cả là do lỗi của khâu kiểm tra. Trong vấn đề
quản lý giáo dục cũng vậy, nếu chúng ta khơng kiểm tra kỹ thì hậu quả xảy ra sẽ
khôn lường.
Qua vấn đề thực trạng của công tác kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học
thực hành tại nhà trường cho thấy có nhiều điểm bất cập, đánh giá thiếu khách
quan, thiếu chính xác chính. Chính vì thế cần phải đề ra các biện pháp đổi mới
công tác kiểm tra và đánh giá nhằm nâng cao chất lượng dạy học thực hành trong
nhà trường cụ thể như sau:
Trước hết muốn cho công tác kiểm tra đánh giá đạt kết quả cao, nhà trường
cần phải xây dựng được một bộ chuẩn về chất lượng.
Việc kiểm tra thường xuyên và kiểm tra kết thúc các mô đun môn học nhà
trường nên giao cho các khoa chuyên môn thực hiện bằng các hình thức kiểm tra
việc tăng cường mối liện hệ giữa nhà trường, cơ sở đào tạo nghề với các doanh
nghiệp, xí nghiệp và các cơ sở sản xuất trong các làng nghề là một việc hết sức
quan trọng và cần thiết, nhằm nâng cao tay nghề, kỹ năng thực hành cho học sinh
47
học nghề. Đây chính là mơ hình gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực
ngoài xã hội, gắn đào tạo với việc làm. Mơ hình dựa trên nguyên lý giáo dục “học
đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn”, và đây cũng chính là một giải pháp
giữ vai trò quan trọng nhất.
Một vấn đề nữa là quá trình dạy học thực hành hầu hết được tổ chức trong
các cơ sở đào tạo nghề, các trường nghề. Vì vậy dạy học thực hành cịn tách biệt,
chưa gắn kết với q trình sản xuất ngồi thực tiễn. Để thực hiện tốt việc gắn đào
tạo với thị trường lao động, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, cần chú ý một số nội
dung sau:
+ Thiết lập và vận hành hệ thống thông tin hai chiều: thị trường đào tạo, thị
trường lao động, nhắm giúp cho nhười học được tìm hiểu và lựa chọn nghề học,
nơi học để đảm bảo cơ hội tìm kiếm việc làm sau khi được đào tạo.
+ Cơ sở đào tạo lựa chọn quyết định nghề, số lượng, trình độ cần đào tạo
theo nhu cầu thị trường.
+ Doanh nghiệp, người sử dụng lao động tuyển dụng được những lao động
qua đào tạo phù hợp và đáp được nhu cầu sử dụng.
+ Thiết lập cơ chế phối hợp hai chiều giữa doanh nghiệp, người sử dụng lao
động với cơ sở đào tạo nghề.
Thực tế cho thấy; các cơ sở sản xuất, các công trường, xí nghiệp, đặc biệt là
các làng nghề truyền thống là một môi trường quan trọng nhất để người học nghề
tiếp cận và thích ứng trong q trình phát triển nghề nghiệp của họ. Nói cách khác,
đây chính là đất để họ dụng võ, đất để các hạt giống cây trồng phát triển. Nhà
trường chỉ là những người uơm mầm giống, cịn muốn cho mầm giống phát triển
tốt thì các cơ sở sản xuất các doanh nghiệp và các làng nghề đóng vai trị quan
lời
lệ%
Không
cần thiết
Khơng ý
kiến gì
Trả Tỷ Trả Tỷ
lời lệ% lời lệ%
1
Cán bộ quản lý 30
nhà trường
25
83%
5
17%
0
0
0
67%
10
33%
0
0
0
0
Tổng
110
90
81,8%
20
18,2%
0
0
phiếu
trọng
Trả
lời
Tỷ
lệ%
trọng
Trả
lời
Tỷ
lệ%
quan trọng
Trả
lời
Tỷ
lệ%
Cao
1
Tăng cường 126
công
21%
16%
X
3
Nâng
cao 126
chất lượng
đội ngũ giáo
viên
dạy
thực hành
nghề.
95
75,4% 31
24,6% 0
0
X
4
Đổi mới nội 126
thực
75
59,5% 34
27%
17
13,5% X
6
Tăng cường 126
mối liên hệ
73
58%
34%
10
8%
27
43
Giải pháp 4 có 64,3% ý kiến cho là rất quan trọng, 21,4% cho là quan trọng,
14,3% cho là khơng quan trọng.
Giải pháp 5; có 59,5% ý kiến cho là rất quan trọng, 27% cho là quan trọng, 13,5%
cho là khơng quan trọng.
Giải pháp 6; có 58% ý kiến cho là rất quan trọng, 34% cho là quan trọng, 8% cho
là không quan trọng.
Thông qua các kết quả thống kê khảo sát trên, xét về tính khả thi của các giải
pháp cho thấy 100% các ý kiến cho là các giải pháp đều có tính khả thi cao.
Tóm lại: Việc nâng cao chất lượng đào tạo tay nghề cho học sinh trong các
trường nghề, các cơ sở đào tạo nghề nói chung và tại trường Cao đẳng Xây dựng
Nam Định nói riêng, là rất quan trọng và hết sức cần thiết. Nó khơng những góp
47
phần giữ vững uy tín và thương hiệu của nhà trường mà cịn có tác dụng đưa nhà
trường phát triển một cách bền vững.
47
Phần 4
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
4.1. Những kết quả nghiên cứu đạt được và những đóng góp cuả cơng trình
nghiên cứu
4.1.1. Những kết quả đã đạt được
Từ kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của đề tài rút ra một số kết
luận như sau:
* Việt Nam đã bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế và đang trong thời kỳ đẩy mạnh
cơng cuộc cơng nghiệp hố - hiện đại hố đất nước, chính vì thế chất lượng nguồn
nhân lực nói chung và chất lượng dạy học thực hành nghề nói riêng cần phải được
đầu tiên cơng trình nghiên cứu: “ Các giải pháp quản lý hoạt động dạy học thực
hành tại trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định nhằm nâng cao chất lượng đào
tạo tay nghề cho học sinh, sinh viên”, được trình bày một cách có hệ thống trong
một luận văn cao học.
4.2. Những khuyến nghị
Trước hết cần phải khẳng định một điều rằng: đầu tư cho giáo dục là sự đầu
tư khôn ngoan nhất và có lãi nhất. Đảng và nhà nước ta đã xác định được điều đó
trong các văn kiện Đại hội của Đảng.
4.2.1. Đối với Đảng và Nhà nước
Phải coi việc giáo dục trong đó có giáo dục nghề nghiệp là sự nghiệp của
tồn Đảng, tồn dân. Chímh vì thế Đảng và Nhà nước ta cần phải quan tâm nhiều
hơn nữa đến sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp, cụ thể bằng các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước.
47
Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước phải làm thế nào khuyến
khích được mọi người tích cực tham gia và tham gia nhiệt tình vào việc học nghề.
Phổ cập nghề cho tồn xã hội, xã hơị hố việc học nghề, đề cao việc học nghề đi
đôi với việc coi trọng những người có tay nghề cao, cơng nhân lành nghề, kỹ sư
thực hành... bằng các chính sách đãi ngộ cụ thể.
Vễ chính sách tuyển dụng lao động nói chung như tuyển dụng viên chức,
công chức... đặc biệt là tuyển dụng giáo viên dạy nghề phải đưa tiêu chí có tay
nghề, có kỹ năng thực hành lên hàng đầu.
Nhà nước phải đề ra được các chính sách về sử dụng công nhân lao động,
đặt ra các yêu cầu về trình độ, bằng cấp, bằng tốt nghiệp nghề, chứng chỉ nghề...
đó chính là những đối tượng lao động đã được qua đào tạo thì mới được phép
hành nghề. Trong quá trình lao động và sản xuất nói chung, tại các phân xưởng
sản xuất, các công trường, các khu công nghiệp, khu chế xuất... nói riêng phải
nghiêm chỉnh chấp hành việc sử dụng lao động đã được qua đào tạo.
Trong quá trình tổ chức giảng dạy thực hành phải thường xuyên bám lớp,
quan tâm hơn nữa đối với quá trình hướng dẫn thường xuyên, tạo điều kiện cho
học sinh trong quá trình nhận thức về kiến thức nghề nghiệp, đặc biệt là kỹ năng
thực hành nghề. Giáo viên dạy học thực hành phải coi việc hướng dẫn thực hành
là trọng yếu, trong đó thời gian dành cho kỹ năng thực hành nghề phải chiếm từ
65% đến 85% tổng thời gian trong các mô đun đào tạo nghề.
4.2.4. Đối với người học
Trước khi vào học nghề một nghề nào đó cần phải phân tích kỹ và hiểu sâu
sắc hơn về điều kiện hoàn cảnh của gia đình, của bản thân mình đối với xã hội, để
từ đó xác định quan điểm và định hướng nghề nghiệp cho bản thân một cách cụ
thể. Nếu xét thấy điều kiện bản thân và gia đình khơng hoặc chưa đủ các điều kiện
47
để học tập nâng cao trình độ thì phải chuyển hướng ngay sang học nghề. Một điều
quan trọng hơn là mỗi chúng ta ai cũng phải biết coi trọng những người tham gia
vào các hoạt động nghề nghiệp, biết được các giá trị của nghề nghiệp đối với mỗi
con người chúng ta. Bởi vì: như ơng cha ta trước kia có câu dùng để răn dạy con
cháu rằng: “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, hay “ruộng bề bề không bằng nghề
trong tay”. Mặt khác nếu ai cũng có suy nghĩ rằng học để thoát ly với lao động
ngành nghề, hoặc để được làm “cán bộ bàn giấy” thì ai sẽ là người trực tiếp lao
động sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Vì vậy trong xã hội phải luôn luôn
tồn tại những người lao động ngành nghề, họ là những người trực tiếp làm ra sản
phẩm và của cải vật chất cho xã hội. Đó chính là niềm vinh dự và tự hào của
những người lao động ngành nghề, vì lao động là vinh quang, là niềm vui, niềm
hạnh phúc của chúng ta.
47