CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔTHÔNG ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA Ở TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU - Pdf 25

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH Lã Thị Oanh CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO
VIÊN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA Ở
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HỒ VĂN LIÊN


chế công nhận trường trung học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001 đến 2010”, song
đến nay việc tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều lúng túng, còn nhiều vấn đề cần được
3
quan tâm, tìm ra các giải pháp cho phù hợp để có thể vừa đáp ứng được yêu cầu đặt
ra của ngành, vừa đáp ứng được yêu cầu thực tế của địa phương.
Một trong những vấn đề đó chính là ĐNGV, mặc dù đã đạt được tiêu chí theo
quy định của Bộ GD&ĐT, nhưng ĐNGV vẫn còn nhiều bất cập…tỷ lệ phần trăm
giáo viên giỏi phải được duy trì bền vững, số giáo viên còn lại phải luôn được bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phải có kế hoạch đào tạo trên
chuẩn như thạc sĩ, tiến sĩ cho cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên giỏi.
Tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu có 27 trường THPT, đến nay đã có 10 trường được
công nhận đạt chuẩn quốc gia, phấn đấu đến năm 2010 - 100% các trường THPT
trong tỉnh đều đạt chuẩn quốc gia. Xuất phát từ những yêu cầu và thực tiễn của
ngành GD&ĐT tỉnh nhà. Với cương vị là một người làm công tác quản lý của
trường THPT chuẩn quốc gia đầu tiên của tỉnh được công nhận ngày 25/08/2005
theo Quyết định số 364/QĐ-UB của UBND tỉnh BR-VT, tôi đã chọn đề tài.
“Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng trường THPT đạt
chuẩn quốc gia ở tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng đề xuất các biện pháp quản lý
nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV của hiệu trưởng các trường THPT đạt chuẩn quốc
gia ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác QL ĐNGV ở các trường THPT đạt chuẩn quốc gia của tỉnh BR-VT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý ĐNGV của hiệu trưởng trường THPT chuẩn quốc gia ở
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
4. Giả thuyết nghiên cứu
ĐNGV ở các trường THPT chuẩn quốc gia tỉnh BR-VT còn có những hạn chế:

5

8. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần : Mở đầu - Nội dung - Kết luận và kiến nghị
Mở đầu : Một số vấn đề chung
Nội dung : Gồm 3 chương
Chương 1 : Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2 : Thực trạng ĐNGV và việc quản lý ĐNGV của hiệu trưởng các
trường THPT chuẩn quốc gia ở tỉnh BRVT.
Chương 3 : Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng trường
THPT đạt chuẩn quốc gia ở tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo.
Phụ lục
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam ngay từ thời xưa, ông cha ta đã rất coi trọng vai trò người thầy
giáo “không thầy đố mày làm nên”, không có thầy sẽ không có giáo dục. Điều đó
nhắc nhở mọi người phải quan tâm mọi mặt đến giáo dục, đến đội ngũ giáo viên.
Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đã được
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm.

- Nguyễn Thị Hồng Hoa : “Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên của Hiệu
trưởng trường Tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh và một số biện pháp nâng cao
chất lượng quản lý đó” - Năm 2005.
Các đề tài nói trên đã nghiên cứu rất nhiều khía cạnh khác nhau trong công tác
quản lý cũng như phát triển ĐNGV nói chung. Tuy nhiên chưa có những nghiên cứu
sâu về thực trạng công tác quản lý ĐNGV của hiệu trưởng các trường THPT chuẩn
quốc gia từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng ĐNGV đáp ứng yêu cầu
của trường THPT chuẩn quốc gia hiện nay. Vì vậy đề tài luận văn thạc sĩ “Các biện
pháp quản lý đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng trường THPT đạt chuẩn quốc gia
ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”, sẽ có những nét riêng phù hợp với địa phương nhằm
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường THPT đạt chuẩn quốc gia
của tỉnh.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, hoạt động quản lý đã xuất hiện
từ rất sớm. Từ khi con người biết tập hợp nhau lại, tập trung sức để tự vệ hoặc lao
động kiếm sống thì bên cạnh lao động chung của mọi người đã xuất hiện những hoạt
động có tổ chức, phối hợp, điều khiển đối với họ. Những hoạt động đó xuất hiện, tồn
tại và phát triển như một tất yếu khách quan, là cơ sở đảm bảo cho các hoạt động
chung của con người đạt được kết quả mong muốn. Đó chính là những dấu ấn đầu
tiên của hoạt động quản lí.
Khi nghiên cứu về cơ sở khoa học quản lý, C.Mác đã khẳng định : “Tất cả mọi
lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít
8
nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực
hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất,
khác với sự vận động của những khách quan độc lập của nó” [11]. Như vậy, đã xuất
hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức, điều khiển các hoạt động của
con người theo những yêu cầu nhất định - được gọi là hoạt động quản lí. Từ đó, có
thể hiểu lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau, quản lý là hoạt động điều

hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
• Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật.
• Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội.
• Quản lý là một hệ thống mở và bản chất của nó là phối hợp các nỗ lực của
con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Cùng với sự đi lên của tổ chức xã hội, khoa học quản lý ngày càng phát triển
mạnh mẽ và có ý nghĩa quyết định trong mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Từ các
lĩnh vực kinh tế, quản lý hành chính Nhà nước, tới các lĩnh vực văn hóa - xã hội…
đều khai thác hiệu quả các thành tựu của khoa học quản lý. Ứng với mỗi lĩnh vực,
công tác quản lý đều đã phát triển thành một khoa học quản lý với những đặc thù
riêng. Khoa học quản lý giáo dục đã hình thành và phát triển khá sớm, trở thành yếu
tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Về mặt lịch sử, khoa học quản
lý giáo dục ra đời và phát triển sau khoa học quản lý kinh tế, vì vậy nó sử dụng được
những thành tựu tiến bộ của khoa học quản lý. Trên thế giới tồn tại hai xu hướng
phát triển về khoa học quản lý giáo dục. Xu hướng thứ nhất là thực hiện quá trình
quản lý giáo dục trên cơ sở của quản lý kinh tế, coi quản lý cơ sở giáo dục như một
loại “Xí nghiệp đặc biệt” [24]. Xu hướng thứ hai, quá trình quản lý giáo dục bắt
nguồn từ lý luận quản lý xã hội, xã hội được chia thành ba lĩnh vực là “chính trị - xã
hội”, “văn hóa - tư tưởng” và “kinh tế”, quản lý xã hội là quản lý ba lĩnh vực đó và
như vậy, quản lý giáo dục nằm trong lĩnh vực quản lý văn hóa - tư tưởng [13].
Quản lý giáo dục, theo nghĩa rộng là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã
hội, quá trình đó bao gồm các hoạt động có tính giáo dục của bộ máy Nhà nước, của
các tổ chức xã hội, của hệ thống giáo dục quốc dân, của gia đình… Quản lý giáo
dục, theo nghĩa hẹp bao gồm : quản lý hệ thống giáo dục là quản lý các hoạt động
10
giáo dục đào tạo diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh, toàn quốc) và
quản lý nhà trường.
“Một quy luật của tiến bộ xã hội là thế hệ đi sau phải lĩnh hội cả những kinh
nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích lũy và truyền lại, đồng thời phải làm

Có thể thấy, công tác quản lý trường học bao gồm sự quản lý các tác động qua
lại giữa trường học và xã hội, đồng thời quản lý chính nhà trường. Người ta có thể
phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống gồm sáu thành tố :
Mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, thầy giáo, học sinh,
cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ giáo dục. Như vậy, các thành tố này được chia
làm ba loại : Thành tố con người, thành tố tinh thần và thành tố vật chất. Quản lý
nhà trường là quản lý hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi
những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng của chủ thể quản lý trên tất cả
các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và
tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành
giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh. Người quản lý trường học là hiệu trưởng
của các nhà trường.
Vì vậy, quản lý trường học thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm
của thầy, hoạt động học tập tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy
học. Quản lý trường học là quản lý tập thể giáo viên và học sinh để chính họ lại quản
lý (đối với giáo viên) và tự quản lý (đối với học sinh) quá trình dạy - học, nhằm tạo
ra sản phẩm là nhân cách con người mới. Đồng thời, quản lý trường học còn bao
gồm quản lý các công việc khác có tính chất điều kiện như : Đội ngũ, tổ chức hoạt
động của các đoàn thể trong trường, quản lý cơ sở vật chất, chăm lo đời sống vật
chất, tinh thần cho cán bộ giáo viên, học sinh .v.v…
1.2.4. Giáo viên
Luật Giáo dục (2007) đã định rõ :
“Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc
các cơ sở giáo dục khác”.
“Nhà giáo dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục
nghề nghiệp, gọi là giáo viên”. [27]
Những tiêu chuẩn đối với nhà giáo là :
- Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt.
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ .
12

chính trực, giản dị, khiêm tốn, biết tự kiềm chế, kiên trì, tự tin ...
13
Tóm lại: Các phẩm chất của người giáo viên càng toàn diện thì càng đạt hiệu quả
giáo dục cao.
*Yêu cầu về năng lực của người giáo viên
Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu
cầu của một hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả.
Theo kiến nghị của hội nghị Hội đồng giáo dục Australia và các Bộ trưởng
Giáo dục Đào tạo và Việc làm tại Australia tháng 8 năm 1992 thì có 7 năng lực then
chốt được đề ra. Đây là những năng lực then chốt để tham gia có hiệu quả vào
những mô hình trội của lao động và tổ chức lao động, trong đó có lao động sư phạm:
a. Năng lực thu thập, phân tích và tổ chức thông tin trí thức.
b. Năng lực truyền bá ý tưởng thông tin trí thức.
c. Năng lực kế hoạch hóa và tổ chức các hoạt động.
d. Năng lực làm việc với người khác.
đ. Năng lực đánh giá ước lượng nhằm vào mục đích thực tế.
e. Năng lực giải quyết vấn đề.
f. Năng lực sử dụng công nghệ, những kỹ năng thể chất và cảm xúc cần thiết.
Theo tác giả Vũ Văn Tảo và Trần Văn Hà thì năng lực giải quyết vấn đề là
năng lực có ý nghĩa quan trọng. Biểu hiện mang tính bản chất của năng lực này là
một số khả năng sau:
- Làm rõ, khoanh vấn đề, chỉ rõ nguồn gốc nảy sinh vấn đề.
- Hoàn tất việc giải quyết thích hợp những vấn đề đã đặt ra.
- Thấy trước vấn đề và nghĩ ra những chiến lược đáp ứng thích hợp.
- Đánh giá kết quả, kiểm soát cả quá trình.
Theo quan điểm của nhóm tác giả cuốn “Tâm lý học” do Phạm Minh Hạc chủ
biên, đã phân chia những năng lực sư phạm riêng thành 3 nhóm.
Nhóm thứ nhất: Đó là lòng yêu trẻ (đây chính là cái trục cơ bản trong cấu trúc
của năng lực sư phạm nói chung), là năng lực kiềm chế, tự chủ, năng lực điều khiển
được các trạng thái tâm lý, tâm trạng của mình khi tiến hành các hoạt động sư phạm.

- Năng lực dạy học.
- Năng lực giáo dục.
- Năng lực tự hoàn thiện.
Nhóm 1: Các năng lực dạy học được biểu hiện ở:
- Nắm vững, lựa chọn và tổ chức sắp xếp các trí thức.
- Lựa chọn, phân loại, phối hợp các phương thức dạy học.
15
- Nắm vững đối tuợng giảng dạy.
- Khả năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng diễn đạt ý tuởng.
- Linh hoạt sử dụng các phương tiện dạy học.
- Tổ chức, quản lý, điều khiển học sinh trong giờ học.
- Lôi cuốn, thuyết phục học sinh trong các hoạt động học tập.
- Biết ứng xử nhanh các tình huống có vấn đề trong lớp học, trong giờ học.
- Biết cách hướng dẫn có hiệu quả việc dạy các đối tuợng cá biệt.
Nhóm 2: Năng lực giáo dục được thể hiện qua các kỹ năng như:
- Xây dựng kế hoạch cho các hoạt động giáo dục.
- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động giáo dục.
- Nắm vững đối tượng giáo dục.
- Khả năng giáo dục học sinh cá biệt.
- Biết đánh giá các hoạt động giáo dục và điều chỉnh kịp thời để đạt hiệu quả
cao hơn, biết thuyết phục, cảm hoá HS để học sinh tự giác, tích cực tham gia
vào các hoạt động giáo dục. Người giáo viên phải biết bồi dưỡng đội ngũ tự
quản để HS tự điều hành các hoạt động giáo dục, ngoài ra người thầy còn
phải biết vận động, lôi cuốn quần chúng tham gia vào hoạt động giáo dục.
Nhóm 3: Năng lực tự hoàn thiện được thể hiện qua việc tự kiểm tra, đánh giá bản
thân để bồi dưỡng tư tưởng tình cảm, nghề nghiệp. Ngoài ra còn phải biết tự học, tự
bồi dưỡng để bổ sung, hoàn thiện về tay nghề, nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng
và phương pháp. Một biểu hiện nữa của năng lực tự hoàn thiện là công tác nghiên
cứu khoa học và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.
Các hệ thống năng lực trên có mối quan hệ biện chứng với nhau, luôn hỗ trợ

Theo từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Đà Nẵng - 1997 : “Đội ngũ là tập hợp
gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp tạp thành một lực lượng”
[31]. Theo cách hiểu thuật ngữ quân sự về đội ngũ, “đó là một tổ chức gồm nhiều
người, tập hợp thành một lực lượng để chiến đấu hay bảo vệ”. Như vậy, có thể thống
nhất “Đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để
thực hiện một hay nhiều chức năng, và đều cùng một mục đích nhất định”.
Ngày nay khái niệm đội ngũ được sử dụng rộng rãi cho tổ chức trong xã hội
như đội ngũ tri thức, đội ngũ công nhân viên chức…
1.2.6. Đội ngũ giáo viên
Khi đề cập đến khái niệm đội ngũ giáo viên, một số tác giả nước ngoài đã nêu
lên quan niệm : “Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ
17
nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống
hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục” [16].
Đối với các tác giả trong nước, vấn đề này được quan niệm như sau :
“Đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục là một tập thể người, bao gồm cán bộ
quản lý, giáo viên và nhân viên, nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ
đó chủ yếu là đội ngũ giáo viên và đội ngũ quản lý theo giáo dục” [16].
Từ những quan điểm đã nêu của các tác giả trong và ngoài nước, ta có thể hiểu
đội ngũ giáo viên như sau : Đội ngũ giáo viên là một tập hợp những người làm nghề
dạy học - giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng (có tổ chức) cùng chung một
nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập thể đó, tổ chức đó. Họ
làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần
trong khuôn khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội. Họ chính là nguồn nhân lực
quan trọng trong lĩnh vực giáo dục.
Từ những khái niệm chung về đội ngũ giáo viên có thể quan niệm về đội ngũ
giáo viên THPT đó là : Những người làm công tác giảng dạy - giáo dục trong trường
THPT có cùng một nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện học sinh của trường giúp các em
hình thành và phát triển nhân cách để sau khi tốt nghiệp các em có đủ trình độ văn
hóa tiếp tục học lên bậc Cao đẳng Đại học, Trung học chuyên nghiệp đồng thời giúp

Tuy nhiên để đảm bảo chất lượng thì ĐNGV phải được bồi dưỡng thường
xuyên, liên tục về chính trị tư tưởng đạo đức trình độ cũng như năng lực chuyên
môn. Bởi lẽ trong bối cảnh xã hội trong nước và quốc tế đầy biến động như hiện nay
sự bùng nổ thông tin, xu hướng toàn cầu hóa, các thành tựu khoa học kỹ thuật…đòi
hỏi ĐNGV phải luôn học tập BDTX, bổ xung tri thức đáp ứng nhu cầu mới.
1.2.9. Trường trung học phổ thông
Trường THPT là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, là bậc học hoàn
thiện kiến thức phổ thông cho học sinh, có mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo
dục mang tính phổ thông cơ bản, toàn diện nhằm thực hiện nhiệm vụ :
1. Hoàn chỉnh học vấn phổ thông nhằm phát triển nhân cách người lao động
mới, năng động, sáng tạo, tạo nguồn cho các yêu cầu đào tạo của xã hội, đồng thời
chuẩn bị tích cực cho học sinh bước vào cuộc sống xã hội, lao động sản xuất, làm
nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
19
2. Chuẩn bị cho một bộ phận tiếp tục học lên bậc học cao hơn đáp ứng yêu cầu
tạo nguồn cho đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật lành nghề và trí thức xã hội chủ
nghĩa.
3. Tiếp tục phát hiện bồi dưỡng học sinh có năng khiếu nhằm góp phần đào tạo
nhân tài cho đất nước.
4. Bảo đảm số lượng, chất lượng và hiệu quả đào tạo học sinh THPT phù hợp
với nhu cầu và khả năng phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
5. Phát huy tác dụng về mặt văn hóa, tư tưởng , khoa học kỹ thuật ở địa
phương.
Vào những năm đầu của quá trình đổi mới đất nước, với sự nghiệp CNH-
HĐH, việc xây dựng cơ sở vật chất ở nước ta được tiến hành trong điều kiện tồn tại
nhiều hình thức sở hữu thành phần kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
định hướng xã hội chủ nghĩa. Sản xuất hàng hóa phát triển làm cho thị trường lao
động được mở rộng, nhu cầu đào tạo tăng lên, tạo điều kiện cho GD&ĐT phát triển.
Mặt khác kinh tế thị trường làm thay đổi quan niệm về giá trị, ảnh hưởng đến động
cơ học tập, việc lựa chọn ngành nghề, tác động đến các quan hệ trong nhà trường và

vấn đề cần được quan tâm tìm ra các giải pháp cho phù hợp để có thể vừa đáp ứng
được yêu cầu đạt ra của ngành, vừa đáp ứng được yêu cầu thực tế của địa phương.
1.3. Trường THPT chuẩn quốc gia và đội ngũ giáo viên trường THPT chuẩn
quốc gia
1.3.1. Vai trò của trường THPT chuẩn quốc gia trong sự nghiệp phát triển hiện
nay
a) Ở các nước phát triển
Do có nền đại công nghiệp và đã có những bước phát triển dài, nên ở các nước
này đã giành được những thành tựu to lớn về kinh tế xã hội, đồng thời có những bài
học có giá trị về nghiên cứu giáo dục. Ở các nước này đã xây dựng được hệ thống,
cơ cấu giáo dục thống nhất, ổn định có tiêu chuẩn hóa cao, phù hợp với điều kiện và
nhu cầu xã hội nên không đặt ra vấn đề xây dựng trường chuẩn. Điều thường được
đặt ra đối với các nước này là đổi mới về nội dung và phương pháp giáo dục.
b) Ở các nước đang phát triển
Do chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân, nên ở các nước này, sau khi giành
được độc lập bắt tay vào xây dựng một nền giáo dục mới, giáo dục được ưu tiên phát
21
triển với một tốc độ rất nhanh. Song bên cạnh những thành tựu hết sức to lớn về giáo
dục, ở các nước này đều bộc lộ những mặt hạn chế cơ bản. Đó là :
• Do phát triển giáo dục với tốc độ nhanh nên buộc phải sử dụng đội ngũ
giáo viên có chất lượng thấp, không chỉ yếu về kiến thức mà còn yếu về phương
pháp, điều đó dẫn đến sự xuống cấp giáo dục ngày càng lớn. Đồng thời do dân số
bùng nổ, qui mô trường lớp có tốc độ tăng càng nhanh, dẫn đến đầu tư tài chính còn
thiếu quá xa so với yêu cầu tối thiểu, CSVC nghèo nàn yếu kém.
• Do trình độ quản lý, trình độ dân trí còn thấp nên sự đầu tư cho giáo dục
còn hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức và chưa đầy đủ.
Xây dựng trường chuẩn là quá trình chuẩn hóa các nhà trường và là điều tất
yếu phải đặt ra dưới hình thức này hoặc hình thức khác của mỗi quốc gia.
c) Ở Việt Nam
Tham khảo theo tài liệu “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI”-

sở vật chất và đầu tư ngân sách cho giáo dục, về cách tổ chức quản lý giáo dục, ít có
trường đạt chuẩn về cơ sở vật chất và vệ sinh học đường, điều kiện về đội ngũ và cơ
sở vật chất để thực hiện giáo dục toàn diện hầu như chưa có, ngân sách giáo dục của
Nhà nước còn thấp, các nguồn khác còn hạn hẹp, nhiều năm chưa thực hiện đủ ngân
sách mà Quốc hội và Chính phủ đã quyết định dành cho Giáo dục & Đào tạo.
2. Trong nhiều năm qua việc xây dựng các trường điển hình tiên tiến chủ yếu
tập trung vào đánh giá ở phong trào thi đua, ở kết quả chung về GD&ĐT và công tác
XHH giáo dục, chưa thật chú trọng đến một số tiêu chuẩn như cơ cấu tổ chức nhà
trường, tiêu chuẩn về đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên , nhân viên và đặc biệt là
chưa chú ý đánh giá về CSVC, trang thiết bị trường học. Dẫn đến có nhiều trường
điển hình tiên tiến không duy trì thành tích được khi chuyển sang cơ chế mới.
3. Hội nghị BCHTW lần thứ tư - khóa VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam về
tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD&ĐT đã nêu quan điểm chỉ đạo : GD là quốc sách
hàng đầu và đầu tư cho GD là một hướng chính đầu tư cho sự phát triển. Mục tiêu
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con
người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp…Gắn chặt yêu cầu
phát triển đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại, đa dạng hóa các hình
thức đào tạo, thực hiện công bằng xã hội trong GD [13] tiếp theo là Nghị quyết số
40/2000/QH được Quốc hội thông qua ngày 9/12/2000 về đổi mới chương trình giáo
23
dục phổ thông, NQ-TW II-Khóa VIII và các NQ-TW khóa IX của BCHTW Đảng
Cộng Sản Việt Nam đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển GD nước nhà [13].
Như vậy, cuộc cải cách giáo dục lần ba đã chuyển sang điều chỉnh cải cách và
đổi mới GD. Cuộc điều chỉnh đã chỉ rõ phải xây dựng nề nếp, kỉ cương, kỉ luật trong
dạy và học, trong trường lớp, trong quản lý giáo dục, chú trọng chất lượng và hiệu
quả trước mắt và lâu dài, kịp thời và đón đầu, thầy ra thầy trò ra trò, dạy ra dạy và
học ra học, trường ra trường và lớp ra lớp…GD&ĐT đã xây dựng chương trình các
bộ môn ở các cấp học nhằm phát triển toàn diện đức- trí -thể -mỹ - nghề để phục vụ
phát triển nguồn nhân lực, cần tập chung vào mục tiêu chất lượng GD&ĐT. Đây là
những tiền đề cho việc xây dựng các trường đạt chuẩn quốc gia.

Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước mà là của toàn xã hội. Mọi
người cùng làm giáo dục, nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm
giáo dục, tạo nên một cao trào học tập trong toàn dân. XHH là một trong những con
đường thực hiện dân chủ hóa giáo dục, trước hết là nâng cao trách nhiệm của mọi
người đối với thế hệ trẻ, tạo nên một môi trường giáo dục thống nhất tốt đẹp của xã
hội, gia đình, nhà trường. Động viên về tinh thần và vật chất, tạo thêm động lực cho
người dạy, người học, nhất là những người dạy giỏi, học giỏi, chăm học. XHH giáo
dục nhằm tăng thêm nhiều nguồn lực khác, nhất là nguồn lực tài chính - chính là gắn
liền với đa dạng hóa các nguồn lực cho giáo dục.
Tóm lại : Phương hướng tổng quát của Giáo dục & Đào tạo Việt Nam hiện
nay là xây dựng nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và
phát triển giáo dục toàn diện gồm đức -trí -thể -mỹ - nghề nhằm giáo dục con em
chúng ta thành người và làm người với những đức tính : Có tinh thần yêu nước, tự
cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, có ý chí vươn lên đưa đất
nước thoát khỏi nghèo nèn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp
đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Có ý thức tập thể
đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung, có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần
kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng
đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. Lao động chăm chỉ với
lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao, vì lợi ích của bản thân,
gia đình, tập thể và xã hội, thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, nâng cao trình
độ về chuyên môn, thẩm mỹ và thể lực. Đây là phương thức tất yếu phải thực hiện
trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế.
25
e) Chủ trương của Đảng, Nhà Nước, Bộ Giáo dục & Đào tạo về việc xây dựng
trường chuẩn quốc gia ở bậc THPT.
1. Hội nghị BCH TW lần thứ tư - khóa VII là một bước chuyển mới trong phát
triển giáo dục nước nhà. Lần đầu tiên trong lịch sử, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã ra
một nghị quyết riêng về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục & đào tạo [13]. Đường
lối đổi mới đã đưa sự phát triển giáo dục đất nước đi vào một thời kỳ mới. Song vẫn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status