Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường
trung học phổ thông ngoài công lập thành phố Hà
Nội trong bối cảnh hiện nay
Lê Việt Dương
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lí luận và phương pháp dạy học; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Hệ thống các cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung
học phổ thông ngoài công lập. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về công tác
quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn
Thành phố của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội. Đề xuất các biện pháp quản lý đội
ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập thành phố Hà Nội trong
bối cảnh hiện nay.
Keywords: Quản lý giáo dục; Trung học phổ thông; Quản lý giáo viên; Hà Nội
Content
1. Lý do chọn đề tài
Công tác xã hội hoá giáo dục đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và định hướng phát
triển ngay từ khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới. Điều đó được thể hiện bằng việc hình
thành và phát triển của loại hình các trường ngoài công lập từ những năm cuối thập kỷ 80
của thế kỷ 20. Từ đó cho đến nay hệ thống các trường ngoài công lập đã phát triển một cách
mạnh mẽ về số lượng và có nhiều đơn vị đã khẳng định được vị trí của mình trong ngành
giáo dục và xã hội.
Hà Nội là một trong những địa phương đi đầu trong việc đẩy mạnh xã hội hoá giáo
dục và đào tạo, với riêng cấp Trung học phổ thông đến nay đã có 102 trường ngoài công lập
và hiện đang hoạt động là 92 trường. Trong đó có nhiều trường đã khẳng định được vị trí của
mình như: Trường THPT Nguyễn Siêu; Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm; Trường THPT
phổ thông ngoài công lập của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội.
- Đối tượng nghiên cứu: Đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài
công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa
bàn Hà Nội thường xuyên có sự biến động về số lượng, tỉ lệ giáo viên cơ hữu, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ sư phạm, chất lượng lên lớp của các giáo viên còn nhiều bất cập.
Đồng thời với chính sách đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục của Nhà nước và Thành phố Hà Nội,
trong thời gian tới mạng lưới các trường ngoài công lập nói chung và các trường Trung học
phổ thông ngoài công lập nói riêng sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ về nhiều khía cạnh:
Số lượng, năng lực đầu tư, định hướng phát triển, mô hình hoạt động…. Vậy để quản lý một
cách có hiệu quả đối với đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông ngoài công lập,
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cần có các biện pháp phù hợp với tình hình hiện nay và
trong thời gian tới. Góp phần từng bước nâng cao chất lượng giáo dục của các trường Trung
học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống được các cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học
phổ thông ngoài công lập
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về công tác quản lý đội ngũ giáo viên các
trường Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố của Sở Giáo dục và Đào
tạo Hà Nội.
- Đề xuất các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông
ngoài công lập thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung:
Đề tài tập trung khảo sát, nghiên cứu thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên các trường
Trung học phổ thông ngoài công lập trên địa bàn Thành phố của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà
Nội.
- Giới hạn về đơn vị khảo sát:
Đề tài chỉ đề cập đến công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về sự quản lý đội ngũ giáo viên được triển khai ở nhiều cấp độ khác nhau
đặc biệt dưới góc độ quản lý giáo dục:
- Các nghiên cứu về vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên cần tập trung vào hai phần
chính: nghiên cứu quản lý đội ngũ giáo viên theo cấp học ngành học; nghiên cứu quản lý đội
ngũ giáo viên cho từng loại hình công lập, NCL (Dân lập, Tư thục)
- Việc nghiên cứu quản lý đội ngũ giáo viên THPT NCL hầu như chưa được nghiên
cứu một cách đầy đủ có hệ thống.
Bởi vậy trong đề tài "Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ
thông ngoài công lập thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay" chúng tôi muốn đi sâu
vào công tác QL đội ngũ giáo viên ngoài công lập ở thành phố Hà Nội và từ đó đề ra một số
biện pháp QL nhằm nâng cao chất lượng trong các hoạt động giáo dục của các trường THPT
NCL thành phố Hà Nội nhằm góp phần trong sự phát triển chung của ngành giáo dục Thủ
đô. Qua đây có thể có những điều áp dụng cho các địa phương khác có hoạt động giáo dục
ngoài công lập cấp trung học phổ thông.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1. Đội ngũ, đội ngũ giáo viên
1.2.1.1. Đội ngũ
Trong từ điển Tiếng Việt đội ngũ được định nghĩa: "Đội ngũ là tập hợp một số đông
người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng".
Trong lĩnh vực giáo dục, thuật ngữ đội ngũ được dùng để chỉ những tập hợp người
được phân biệt với nhau về chức năng trong hệ thống giáo dục, chẳng hạn như: đội ngũ giáo
viên, đội ngũ cán bộ quản lý trường học…
1.1.2.2.Đội ngũ giáo viên
Từ điển giáo dục học đã đưa ra định nghĩa: "Đội ngũ giáo viên là tập họp những người
đảm nhận công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức chuyên môn và nghiệp vụ
quy định"
Trong thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm đội ngũ giáo viên, bởi vậy có
thể hiểu về đội ngũ giáo viên như sau: Đội ngũ giáo viên là tập hợp những người làm công
tác giáo dục và dạy học ở một trường học hay một cấp học, ngành học nhằm thực hiện các
viên sao cho sự tác động đó tạo ra sự thay đổi về đội ngũ giáo viên theo hướng đảm bảo đủ
về số lượng, đảm bảo về chất lượng và cân đối về cơ cấu đảm bảo yêu cầu của hoạt động
giáo dục và các quy định hiện nay.
1.3. Lý luận về phát triển nguồn nhân lực
1.3.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Khi nghiên cứu về quản lý nhân sự trong giáo dục, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho
rằng: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa
phương, tức là nguồn lao động có kỹ năng được chuẩn bị sẵn sàng tham gia một công việc
nào đó trong cơ cấu lao động của xã hội”.
Khi nghiên cứu về Phát triển nguồn nhân lực và các chỉ số phát triển con người
PGS.TS. Đặng Quốc Bảo đã khẳng định: Khái niệm nguồn nhân lực ra đời vào thập niên 80
muộn hơn một chút so với khái niệm vốn người khái niệm vốn người thể hiện ở nhân cách -
sức lao động: trong mỗi con người, nhấn mạnh đến giá trị kinh tế mang lại lợi ích từ nhân tố
con người việc quản lý nhân tố này phải nhìn và tương quan với vốn vật chất, định lượng
được hiệu quả và đem lại lợi ích đích thực (vốn sinh lời). Khái niệm "nguồn nhân lực” nhấn
mạnh sự cần thiết đáp ứng nhu cầu toàn diện của con người nuôi dưỡng nhân tố này trở thành
động lực chủ yếu cho quá trình phát triển.
Tóm lại việc làm rõ bản chất và vai trò bổ sung tương hỗ khái niệm nguồn nhân lực và
vốn người, là cơ sở cho các nhà quản lý nhận thức và đưa ra các biện pháp đúng đắn để việc
quản lý nhân tố con người nhằm đạt được sự hài hòa giữa hai khía cạnh: Con người vừa là mục
tiêu vừa là sức mạnh của sự phát triển, đồng thời quản lý nhằm đạt được sự đồng thuận và kỷ cương
xã hội.
1.3.2. Nội dung quản lý phát triển nguồn nhân lực
1.3.2.1. Cấp độ vĩ mô
Được xem xét ở 3 góc độ kinh tế, giáo dục, và chính trị - xã hội, theo PGS.TS. Đặng
Quốc Bảo:
- Dưới góc độ kinh tế: Quản lý phát triển nguồn nhân lực tập trung vào công tác quy
hoạch cơ cấu lao động, cơ cấu nhân lực trong tương quan với cơ cấu kinh tế.
- Dưới góc độ giáo dục: tập trung vào công tác giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng.
- Dưới góc độ chính trị xã hội: Tập trung vào việc đưa ra các chính sách đảm bảo
Theo khuyến cáo của UNDP, bộ ba nhân tố: giáo dục - kinh tế - y tế có vai trò chủ yếu
trong việc nâng cao năng lực con người, sự đóng góp của con người vào quá trình phát triển
trong đó giáo dục được eo là nhân tố quyết định vì sản phẩm của giáo dục chính là những
con người có tri thức, có phẩm chất và kỹ năng sống có năng lực làm việc … và những con
người đó là:
2. Mỗi con người là một cá nhân độc lập làm chủ quá trình lao động của mình.
3 Nguyên tắc cơ bản của quản lý lao động là lợi ích người lao động. Lợi ích đó phải
hài hòa với lợi ích của cộng đông, của xã hội.
4. Tiến hành giao lưu đồng thuận trong môi trường dân chủ được đảm bảo thuận lợi.
5. Có các chính sách giải phóng và phát huy tiềm năng của người lao động đảm bảo
hiệu quả công việc.
6. Bám sát thị trường lao động. Đó là mấu chốt để xây dựng các chính sách phát triển
GD-ĐT đúng đắn .
7. Chính sách sử dụng nguồn nhân lực như tuyển dụng tuyển chọn, chính sách lao
động phân công lao động phân bổ nhân lực chính sách cán bộ tiền lương khen thưởng phải
đồng bộ.
8. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải luôn tạo ra động lực nhằm kích thích người tham
gia lao động, động viên họ tích cực năng động, có thiện chí để sáng tạo.
1.4. Những đặc điểm về quản lý đội ngũ giáo viên THPT NCL
1.4.1. Trường NCL trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trường NCL có thể được hiểu là: Các cơ sở giáo dục Nhà nước không đầu tư và quản
lý toàn diện về cơ sở vật chất, kinh phí, nhân lực mà nguồn này do các tổ chức và cá nhân
xin mở trường tự huy động.
Luật giáo dục năm 1998 cũng đã nêu ra về trường NCL gồm 3 loại hình: Bán công –
Dân lập – Tư thục. Khái niệm Trường NCL được chính thức hoá tại Nghị định số
43/2000/NĐ-CP ngày 30/8/2000 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều
của Luật Giáo dục 1998, tại Điều 13 của Nghị định này quy định:”Các cơ sở giáo dục bán
công, dân lập, tư thục gọi chung là cơ sở giáo dục ngoài công lập”.
Riêng với loại hình THPT NCL, Luật giáo dục năm 2005 đã quy định chỉ có loại hình
tư thục. Theo Điều 4, Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học
Được quy định tại Điều 16, Quy chế tổ chức và hoạt động trường Tiểu học, THCS,
THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục ban hành kèm theo Thông tư
số 13/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “ 1. Trường Phổ thông
tư thục phải bảo đảm từ năm học đầu tiên tỉ lệ giáo viên cơ hữu so với tổng số giáo viên theo
quy định đối với trường phổ thông công lập ở cấp học tương ứng như sau: cấp Tiểu học có
100%; cấp THCS và THPT có ít nhất 40%; 2. Số giáo viên và nhân viên của trường phổ
thông tư thục phải bảo đảm không thấp hơn quy định của Nhà nước về định mức giáo viên,
nhân viên đối với từng cấp học”.
Đối với số lượng giáo viên các trường THPT công lập thì được quy định tại Khoản 3,
Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 của Bộ Giáo dục & Đào
tạo và Bộ Nội vụ ban hành Hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục
phổ thông công lập nêu: “ Mỗi lớp bố trí giáo viên không quá 2,25 giáo viên”.
- Cơ cấu đội ngũ giáo viên: Được hiểu là tỉ lệ giáo viên giữa các tổ chuyên môn, giữa
các môn học và trong từng môn học hoặc giữa các độ tuổi hoặc tỉ lệ giới tính. Cơ cấu
đội ngũ giáo viên phải đảm bảo tính hợp lý ( chuyên môn nghiệp vụ - độ tuổi - giới tính)
nhằm tạo ra ê kíp đồng bộ, đồng tâm nhất trí có khả năng hỗ trợ cho nhau về mọi mặt.
- Chất lượng đội ngũ giáo viên: Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng trong đời sống
xã hội nhất là trong giáo dục có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng, song theo tác giả
Nguyễn Đức Chính khi nghiên cứu về Quản lý chất lượng cho rằng, có một định nghĩa tỏ ra
có ý nghĩa đối với việc xác định chất lượng giáo dục và cả với việc đánh giá nó, đó là: "Chất
lượng là sự phù hợp với mục tiêu ".
1.4.3.2. Đặc điểm của công tác quản lý đội ngũ giáo viên THPT NCL
Công tác quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT NCL bao gồm:
- Xây dựng được các nội dung quản lý về đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL
trên cơ sở các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với cấp học tương ứng và loại hình
tương ứng; các quy định của UBND tỉnh/ thành phố địa phương về giáo dục và đào tạo.
- Kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm theo đúng các quy định hiện hành của Nhà
nước. Tham mưu cho các cơ quan quản lý cấp trên để có chủ trương, chính sách và các quy
định theo đúng thẩm quyền để tăng hiệu quả công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường
THPT NCL không chỉ tại thời điểm hiện tại mà có tính định hướng lâu dài.
việc theo đúng các quy định hiện hành.
l.6. Vai trò của các cấp quản lý đối với công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trƣờng
THPT NCL
1.6.1. Vai trò chỉ đạo của Sở GD&ĐT
Theo Thông tư Liên tịch Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ số 47/2011/TTLT-BGDĐT-BNV
ban hành ngày 19/10/2011 về việc Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ cấu tổ
chức và biên chế của Sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT quy định tại Khoản 1, Điều 1: “ Sở
GD&ĐT là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh/thành phố tham mưu, giúp UBND
cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh/thành
phố”. Điều đó có nghĩa là Sở GD&ĐT có trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện các quy
định của Nhà nước (Chính phủ, Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh/thành phố) về giáo dục và đào tạo
nói chung và về các trường học nói riêng trong đó có các trường THPT NCL.
1.6.2. Vai trò của trường THPT NCL trong việc xây dựng và thực hiện nghiêm túc các
quy định về quản lý đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
1.6.2.1. Đối với nhà trường
Nghiêm túc thực hiện các quy định hiện hành của Nhà nước về đội ngũ CB, GV, NV:
1.6.2.2. Đối với giáo viên
Tuy là đối tượng phải thực hiện việc làm ra những viên gạch để xây dựng nền móng
cho quản lý đội ngũ GV nhưng GV cũng cần có thái độ, tinh thần hợp tác một cách chủ động
và tích cực:
1.7. Định hƣớng đổi mới và những yêu cầu về quản lý đội ngũ giáo viên ở trƣờng trung
học phổ thông goài công lập trong giai đoạn hiện nay
Theo PGS.TS. Đặng Xuân Hải khi nghiên cứu về Quản lý sự thay đổi trong giáo dục đã
cho rằng: "Quản lý sự thay đổi thực chất là kế hoạch hoá và chỉ đạo, triển khai sự thay đổi để
đạt được mục tiêu đề ra cho sự thay đổi đó. Quản lý sự thay đổi làm sao để thay đổi đó diễn
ra một cách có hiệu quả nhất và ít bị xáo trộn nhất" .
Với các trường NCL nói chung và trường THPT NCL nói riêng thì cơ hội phát triển
cả về quy mô mạng lưới và chất lượng sẽ được các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài
tập trung. Điều đó cũng có nghĩa cơ hội, thách thức đối với đội ngũ GV là rất nhiều. Từ đó
cũng sẽ làm cho tăng tính bất ổn về đội ngũ GV trong các trường NCL.
quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh liên quan.
Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2008. Theo đó thành phố Hà Nội mở rộng có
diện tích tự nhiên 3.344,7002 km2 và dân số là 6.232.940 người.
* Điều kiện tự nhiên:
Nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng sông Hồng, Thăng Long - Hà Nội được xem là
vùng đất “địa linh - nhân kiệt”, nơi hội tụ nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển
Thành trung tâm văn hóa - kinh tế - chính trị của cả nước. Trong đó phần lớn diện tích của
Thành phố là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theo hướng dòng chảy
của sông Hồng. Điều này cũng ảnh hưởng nhiều đến quy hoạch xây dựng và phát triển kinh
tế - xã hội của Thành phố. Hà Nội có vị trí địa lý - chính trị quan trọng, là đầu não chính trị -
hành chính Quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch
quốc tế; là đầu mối giao thương bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường
sông tỏa đi các vùng khác trong cả nước và đi quốc tế.
2.1.2. Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội - giáo dục của thành phố Hà Nội
Hà Nội - mảnh đất có truyền thống nghìn năm văn hiến và lừng lẫy chiến công đánh
giặc, nơi định đô của các vương triều phong kiến tự chủ Việt Nam,tự hào là trung tâm đầu
não chính trị của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á với bản Tuyên
ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9-1945, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Là trái tim đất nước, Hà Nội hội tụ các cơ quan lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc
hội, Chính phủ, các đoàn thể xã hội. Nơi tập trung về Kinh tế - Xã hội – Giáo dục của cả
nước
2.2. Thực trạng về các trƣờng THPT NCL thành phố Hà Nội
2.2.1. Một số nét về giáo dục NCL ở Việt Nam
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ Đại hội lần thứ VI
của Đảng vào tháng 12/1986 và chính sách XHHGD của Nhà nước, ở nước ta từ năm học
1988 - 1989 hệ thống các trường NCL chính thức xuất hiện trở lại.
Một số thành tựu và hạn chế của giáo dục NCL ở Việt Nam
* Những thành tựu
Với sự phát triển trong hơn 20 năm qua, tuy thời gian chưa nhiều, song những kết quả
mà GD NCL đã khẳng định bằng hiện thực sinh động tính đúng đắn, hiệu quả chủ trương,
Vùng Tây Bắc
0
0
6,87
4
Vùng Bắc Trung Bộ
0
0,10
33,65
5
Vùng duyên hải Nam Trung Bộ
0,16
0,35
34,5
6
Tây Nguyên
0,41
6,55
28,96
7
Vùng Đông Nam Bộ
0,94
9,15
39,65
8
Đồng bằng sông Cửu Long
0,22
0,86
25,19
( Nguồn từ Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Số HS
43.752
55.785
46.654
46.623
37.850
% so với tổng HS
THPT
36,3%
24,6%
21,1%
20,9%
21.6%
(Nguồn từ Sở GD&DT Hà Nội)
Tuy vậy kể từ sau khi địa giới hành chính của thành phố Hà Nội được mở rộng, tình
hình kinh tế -chính trị - xã hội có nhiều biến động trong đó có ngành giáo dục nói chung và
giáo dục THPT NCL nói riêng. Nên tỉ lệ học sinh giảm, nguyên nhân bởi nhiều vùng miền
của Hà Tây cũ kinh tế còn thấp, đời sống của người dân còn khó khăn, điều kiện học tập ít.
Để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu học được nhiều, thành phố đã tăng số lượng lớp học và số
lượng tuyển vào trường THPT công lập và giảm tỉ lệ lớp, học sinh vào các trường THPT
NCL.
- Xu thế phát triển của GD THPT NCL trong thời gian tới: Các trường trung học NCL
ở Hà Nội sẽ tiếp tục phát triển toàn diện và đa dạng.
- Sự mất cân đối giữa nhu cầu học tập của người dân với sự cung ứng của hệ thống
trường CL vẫn còn tiếp tục tồn tại lâu dài (hiện ngân sách Thành phố chỉ đủ cấp theo định
mức cho 40% hệ thống có nhu cầu học THPT);
- Nhu cầu học tập của người dân ngày càng đa dạng (đặc biệt là yêu cầu cao về chất
lượng), trong khi các trường CL chưa thể đáp ứng đầy đủ;
- Quá trình mở cửa, hội nhập, đặc biệt là khi nước ta ra nhập WTO, vấn đề mở cửa
cho nước ngoài đầu tư vào phát triển dịch vụ GD là điều tất yếu.
khó khăn nhiều mặt.
- Tổ chức bộ máy và đội ngũ:
Giáo viên các trường THPT NCL có tổng số 2.781 người, trong đó hợp đồng ngắn
hạn là 1.519 (khoảng 55%), so với số lớp là 1023 lớp thì đội ngũ GV các trường THPT NCL
không thiếu, nhưng tỷ lệ GV hợp đồng không ổn định tương đối cao, còn có tình trạng có
trường chỉ gần 100% GV hợp đồng, do đó các trường này thường bị động và rất khó xây
dựng chiến lược nâng cao chất lượng. Nhìn tổng quát, hiện nay, trừ môt số trường BC và một
số trường DL lớn đã khẳng định được tên tuổi, còn lại đa số (khoảng 70% số trường) chưa có
được đội ngũ đủ mạnh và ổn định để phát triển bền vững và nâng cao chất lượng GD.
2.2.2.4. Đánh giá tổng quát thực trạng các trường THPT NCL
- Những thuận lợi hiện nay của các trường THPT NCL
Về cơ chế, chính sách: Về quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách XHH GD
ngày càng được khẳng định cụ thể, các chính sách ngày càng được hoàn thiện theo hướng tạo
nhiều ưu đãi cho các trường NCL. Đặc biệt là sự quan tâm về công tác XHH GD của Thành
uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND thành phố Hà Nội.
- Những khó khăn hiện nay của các trường THPT NCL:
Vấn đề cấp đất để xây dựng trường, nguồn vốn xây dựng trường, mạng lưới trường,
chính sách và cơ chế quản lý các trường NCL nói chung và THPT NCL nói riêng chưa đồng
bộ.
- Những đóng góp của các trường THPT NCL ở Hà Nội.
+ Về mặt xã hội đã thu nhận khoảng gần 30% số học sinh tốt nghiệp THCS của
toàn thành phố có nguyện vọng học THPT song các trường CL không thể đáp ứng.
+ Về mặt kinh tế đã huy động được sự đóng góp của 28.418 gia đình HS, đã làm tăng
đáng kể nguồn tài chính cho phát triển sự nghiệp GD.
+ Với nội bộ ngành giáo dục: Tuy mặt bằng chất lượng của các trường NCL chưa cao
so với các trường CL, song nhìn chung vẫn đảm bảo được chất lượng đại trà, đã tạo được
niềm tin đối với HS và cha mẹ HS.
Những mặt hạn chế và nguyên nhân
- Cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị còn nhiều khó khăn.
- Vấn đề quy hoạch mạng lưới và công tác quản lý vĩ mô chưa nhất quán.
2.3.1.3. Về Tuổi; Sức khoẻ
Có một lượng không nhỏ giáo viên đã nghỉ hưu, ngoài những bất cập như đã nêu trên
thì tuổi cao, sức khoẻ có hạn chế nên chưa bắt kịp sự thay đổi của học sinh hiện nay cả về
nhu cầu học tập và sinh hoạt. Mà đây là một trong những kĩ năng cần thiết để tham gia quá
trình giáo dục toàn diện cho học sinh (Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi)
Thực trang nêu trên về đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL thành phố Hà Nội
được phản ánh qua các con số sau:
Bảng 2.3. Thống kê đội ngũ giáo viên các trƣờng THPT NCL thành phố Hà Nội
từ 2006 đên 2011
Năm học
Tỉ lệ GV
Tỉ lệ về tuổi
Tỉ lệ không
TN hệ SP
Ghi
chú
Cơ hữu
Thỉnh
giảng
Dƣới 30
t
Trên 60
t
2006-2007
31%
69%
35%
41%
22%
Nội
2.3.2.1. Công tác chỉ đạo của Sở GD&ĐT Hà Nội về quản lý đội ngũ giáo viên các trường
THPT NCL thành phố Hà Nội
- Sở GD&ĐT Hà Nội thường xuyên cập nhật các văn bản mới, quy định mới và
truyền tải đến các nhà trường nhằm yêu cầu các nhà trường phải nghiêm túc thực hiện các
quy định hiện hành đồng thời cập nhật thường xuyên các quy định của Nhà nước;
- Định kỳ, Sở GD&ĐT có văn bản chỉ đạo, yêu cầu báo thống kê đảm bảo các điều
kiện tuyển sinh trong đó có nội dung về đội ngũ giáo viên.
- Tổ chức thanh tra, kiểm tra hoạt động của các trường THPT NCL, trong đó có nội
dung về đội ngũ giáo viên theo quy định thanh tra, kiểm tra hoạt động sư phạm của các nhà
trường.
Tuy vậy vẫn còn một số hạn chế:
+ Do đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL biến động liên tục nên việc báo cáo
thống kê, rà soát điều kiện đảm bảo hoạt động giáo dục để giao chỉ tiêu tuyển sinh sẽ không
có tính kịp thời khi có sự biến động đội ngũ, mà điều này lại là đặc trung về đội ngũ các
trường NCL;
+ Nếu chỉ thực hiện theo quy định của Thanh tra hoạt động sư phạm đối với các nhà
trường, thì hàng năm chỉ thanh tra được 20% trên tổng số các đơn vị, mặt khác do còn nhiều
khó khăn trong việc duy trì đội ngũ nên nhiều đơn vị, tại những thời điểm bất ổn vẫn xảy ra
tình trạng có tính cục bộ khủng hoảng đội ngũ (thiếu giáo viên bộ môn, thiếu tỉ lệ cơ
hữu….). Bởi vậy việc quản lý đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL sẽ gặp nhiều khó
khăn trong việc giám sát hoạt động của các nhà trường;
+ Do đặc trưng về đội ngũ của các trường NCL nên việc quản lý Hồ sơ của các đơn vị
không có thống nhất chung, thiếu tính kịp thời trong việc cập nhật thông tin của giáo viên.
Nếu quy định quản lý theo danh mục hồ sơ như các trường công lập thì cũng có những khó
khăn nhất định cho việc duy trì và cập nhật thông tin về đội ngũ của các nhà trường;
+ Tuy đã tổ chức các khoá đào tạo bồi dưỡng giáo viên chung cho toàn bộ cấp học THPT,
nhưng chưa tổ chức được các lớp riêng cho giáo viên các trường THPT NCL.
2.3.2.2. Triển khai thực hiện công tác quản lý đội ngũ của các trường THPT NCL thành phố
Hà Nội
lao động. Khi kết thúc cũng không quan tâm việc phải thực hiện các thủ tục thanh lý hợp
đồng. Lý do trên dẫn tới việc không đảm bảo việc quản lý hồ sơ nhân sự của các nhà trường
và không ít trường tranh thủ để thống kê thiếu chính xác về đội ngũ giáo viên cơ hữu khi giải
trình các điều kiện đảm bảo hoạt động giáo dục;
- Do tâm lý của đa số giáo viên cả cơ hữu và thỉnh giảng là không ổn định nên ít
quan tâm đến chế độ chính sách mà cá nhân được thụ hưởng hoặc cần phải thực hiện. Từ đó
chưa phát huy hết năng lực của đội ngũ giáo viên.
Tiểu kết chƣơng 2
Chương 2 đã tập trung nghiên cứu về thực trạng đội ngũ giáo viên và công tác quản lý
đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay. Đứng
trước những yêu cầu về đổi mới giáo dục phổ thông, định hướng phát triển của Thủ đô và
đẩy mạnh hội nhập quốc tế đòi hỏi Sở GD&ĐT Hà Nội phải giải quyết triệt để những tồn tại
trong công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL và coi đó là nhiệm vụ cấp
thiết để hoạt động giáo dục của các trường THPT NCL đi vào quy củ, đồng thời đảm bảo
chất lượng dạy và học trong các nhà trường. Từ đó đẩy mạnh được công tác xã hội hoá giáo
dục như định hướng của Đảng và Nhà nước đã đề ra, góp phần phát triển giáo dục Thủ đô
trong giai đoạn hội nhập và phát triển.
Căn cứ vào lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên THPT NCL được trình bày ở chương
1, căn cứ vào thực trạng đội ngũ giáo viên và công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường
THPT NCL thành phố Hà Nội đã được khảo sát và phân tích ở chương 2 tôi xin được đề cập
đến những biện pháp cơ bản cho công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL
thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu của tình hình phát triển của Thủ đô ở chương tiếp theo.
CHƢƠNG 3
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GÁO VIÊN
CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
3.l Những định hƣớng về công tác phát triển đội ngũ giáo viên trong nhà trƣờng THPT
Trên cơ sở phát triển Chiến lược của Chính phủ, Bộ GD&ĐT, UBND thành phố Hà
Nội
3.2. Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trƣờng ngoài công lập
ban hành để có căn cứ thực hiện công tác giáo dục trong nhà trường;
3.4.2. Đổi mới công tác quản lý hồ sơ đội ngũ giáo viên trong các trường THPT NCL
3.4.2.1. Ý nghĩa của biện pháp
Từ các kết quả khảo sát nhận thấy công tác hồ sơ về đội ngũ giáo viên của các trường
THPT NCL còn một số tồn tại. Bởi vậy khi xác lập lại một cách khoa học, hệ thống các hồ
sơ nhân sự của đội ngũ giáo viên các trường THPT NCL trên toàn thành phố Hà Nội sẽ tạo
sự thống nhất trong công tác quản lý từ các nhà quản lý giáo dục địa phương mà ở đây là Sở
GD&ĐT Hà Nội, lãnh đạo các trường THPT NCL mà ở đây là HĐQT hoặc BGH của nhà
trường và các giáo viên tham gia giảng dạy tại các trường THPT NCL.
3.4.2.2. Nội dung của biện pháp
-Đối với Sở GD&ĐT xây dựng hệ thống các thành phần Hồ sơ, xây dựng mẫu biểu
thống kê về thông tin nhân sự và quản lý thông qua số liệu báo cáo thống kê từng giai đoạn
trong năm học, kiểm tra định kì công tác quản lý hồ sơ nhân sự của các trường THPT NCL.
- Đối với các trường THPT NCL có trách nhiệm lập hồ sơ nhân sự của giáo viên
cơ hữu và thỉnh giảng theo quy định chung của Sở GD&ĐT và quản lý hồ sơ theo đúng