MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đảng ta khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động
lực quan trọng nhất thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện
tiên quyết để phát triển nguồn lực con người, yêu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững”[9], thông qua việc đổi mới toàn diện giáo dục và
đào tạo: đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy học theo hướng “chuẩn
hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”, phát huy tính sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành
của người học, phát triển nguồn nhân lực, chấn hưng giáo dục Việt Nam, trong đó đội
ngũ giáo viên đóng vai trò then chốt quyết định chất lượng đào tạo. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy
giáo thì không có giáo dục”[26]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng khoá
VIII đã khẳng định“Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã
hội tôn vinh”[8].
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư đã đề ra mục tiêu: “Xây
dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất
lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính
trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo thông qua việc quản lí,
phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng
đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”[1].
Thời gian qua, được sự quan tâm, chỉ đạo, lãnh đạo kịp thời của các cấp, các
ngành và chính quyền địa phương, các trường THPT ngoài công lập trên địa bàn Thị
xã Phú Thọ đã có nhiều cố gắng về mọi mặt, đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo của
Thị xã từng bước nâng lên, góp phần đào tạo nguồn nhân lực lao động cho địa phương
và công tác phổ cập bậc THPT. Song chất lượng giáo dục vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu của xã hội, một trong những nguyên nhân đó là đội ngũ giáo viên còn thiếu về số
lượng, không đồng bộ về cơ cấu, loại hình hợp đồng lao động, hạn chế về năng lực
1
chuyên môn, kinh nghiệm giảng dạy, thiếu tính ổn định và khả năng thích ứng với nền
kinh tế thị trường cũng như đặc thù của các trường ngoài công lập.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu:
6.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận phát triển đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng các
trường THPT ngoài công lập.
6.2. Phân tích thực trạng quản lí phát triển đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng
các trường THPT ngoài công lập Thị xã Phú Thọ.
6.3. Đề xuất biện phát triển đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng các trường
THPT ngoài công lập Thị xã Phú Thọ.
7. Phương pháp nghiên cứu:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
7.1.1. Sưu tầm sách, tư liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
7.1.2. Phân tích, tổng hợp các tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài,
nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài; lựa chọn những khái niệm, luận điểm cơ
bản làm cơ sở lý luận cho đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán những
thuộc tính của đối tượng nghiên cứu; tổng hợp các tài liệu để giúp cho việc xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1. Phương pháp điều tra xã hội học.
7.2.2. Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm.
7.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ khác:
7.3.1. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học. Sử dụng các công
thức toán thống kê để xử lý kết quả, khảo sát tỉ lệ trung bình, tỉ lệ %...
7.3.2. Phương pháp khảo nghiệm nhận thức của cán bộ lãnh đạo, quản lý và
giáo viên về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên.
8. Những đóng góp mới của luận văn:
Luận văn đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và biện pháp phát triển đội ngũ giáo
viên của hiệu trưởng các trường THPT ngoài công lập. Đây là một trong những vấn
đề đang được quan tâm của bậc học phổ thông nói chung và của tỉnh Phú Thọ nói
riêng trong giai đoạn hiện nay.
3
Chương 1
viên và các cán bộ quản lí của ngành giáo dục trong cả nước, nhất là các thầy giáo, cô
giáo công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”[9].
Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư đã nêu rõ: “Phát triển giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực
con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ
quản lí giáo dục là động lực nòng cốt, có vai trò quan trọng…Những năm qua, chúng
ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục ngày càng đông
đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu cầu
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự
nghiệp cách mạng của đất nước”[1].
Xuất phát từ những định hướng đó, trong thời gian qua đã có nhiều tác giả đề
cập vấn đề đào tạo giáo viên như: Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Cảnh
Toàn…tại Hội thảo Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên ở khoa Sư
phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội tháng 10/2004, Nguyễn Văn Lê với cuốn sánh
“Nghề thầy giáo”,…và nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về quản lí phát triển đội ngũ
giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo như:
- Qui hoạch phát triển giáo dục mầm non các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam
đến năm 2015. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Bá Hòa, 2006.
- Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học ở Thị xã
Thủ Dầu 1 – Bình Dương giai đoạn 2005 – 2010. Luận văn thạc sĩ của Trịnh Đức
Tài, 2005.
- Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS huyện Thuận Thành – Bắc
Ninh giai đoạn 2005 – 2010. Luận văn thạc sĩ của Lê Đình Thanh, 2005.
5
- Các giải pháp quản lí phát triển đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng các
trường THPT huyện Chiêm Hoá tỉnh Tuyên Quang. Luận văn thạc sĩ của Lâm Đình
Hưng, 2006.
- Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng các trường THPT huyện
nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”[29].
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức, có
định hướng của chủ thể quản lí về các mặt văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội bằng hệ
thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ
thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”[11].
Nhóm tác giả Bùi Minh Hiền – Vũ Ngọc Hải – Đặng Quốc Bảo cho rằng:
“Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng
quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra”[16].
Quản lí là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ có tổ chức với
bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật v.v…) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế
độ hoạt động của các hệ đó. Quản lí là tác động hợp qui luật khách quan, làm cho hệ
vận động, vận hành và phát triển.
Theo quan điểm tiếp cận hệ thống: “Quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức,
lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và
việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định”.
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau, song có thể khái quát nội dung cơ
bản của quản lí được đề cập đến trong các khái niệm trên như sau:
- Quản lí là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội. Lao
động quản lí là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành
phát triển.
- Quản lí được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội.
- Quản lí là những tác động có tính hướng đích, là những tác động phối hợp nỗ
lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức.
- Quản lí bao giờ cũng là quản lí con người, trong đó chủ yếu bao gồm chủ thể
quản lí và đối tượng quản lí giữ vai trò trung tâm trong chu trình, hoạt động quản lí.
7
- Quản lí là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với qui luật
khách quan.
Như vậy, với cách hiểu quản lí là quản lí tổ chức của con người, hoạt động
của con người, tôi lựa chọn cách hiểu quản lí như sau:
lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục
đích đó.
- Tổ chức: là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành
viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các
kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
- Chỉ đạo: là việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành
những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Đây là khâu quan trọng
tạo nên thành công của kế hoạch dự kiến.
- Kiểm tra: là những hoạt động của chủ thể quản lí nhằm tìm ra những mặt ưu
điểm, mặt hạn chế, qua đó đánh giá, điều chỉnh và xử lý kết quả của quá trình vận
hành tổ chức, làm cho mục đích của quản lí được hiện thực hóa một cách đúng hướng
và có hiệu quả.
Các chức năng quản lí có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen và
ảnh hưởng lẫn nhau. Khi thực hiện chức năng này thường liên quan đến các chức
năng khác và ở mức độ khác nhau. Các chức năng đều cần đến yếu tố thông tin để
hoạch định kế hoạch; cơ cấu tổ chức; chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo và phản hồi và
thông tin kết quả hoạt động.
\
Hình 1.2. Sơ đồ mô tả mối quan hệ giữa các chức năng quản lí
9
Kế hoạch
Kiểm tra,đánh giá
Tổ chức
Chỉ đạo
Thông tin
1.2.2. Quản lí giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, một quá trình, một hoạt động của xã hội, vì
thế nó cần và phải được quản lí. Từ đó, hình thành một dạng quản lí trong hệ thống
quản lí xã hội. Dạng quản lí này có tên gọi là “Quản lí giáo dục”. Quản lí giáo dục
thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước”[15].
Như vậy, với những khái niệm phân tích trên, tôi lựa chọn quan niệm:
Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp qui luật
của chủ thể quản lí, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng,
thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến,
tiến lên trạng thái mới về chất.
1.2.3. Giáo viên
1.2.3.1 Khái niệm
Theo Từ điển Tiếng Việt – NXB Khoa học xã hội – Hà Nội 1994, định nghĩa: Giáo
viên (danh từ) là người dạy học ở bậc học phổ thông hoặc tương đương [40].
Điều 70 Luật giáo dục năm 2005, qui định đối với nhà giáo:
“Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở
giáo dục khác… Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông,
giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên”[25].
1.2.3.2. Những tiêu chuẩn đối với nhà giáo:
* Phẩm chất chính trị và đạo đức
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ.
- Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp.
- Lý lịch bản thân rõ ràng [25].
+ Yêu cầu về mặt phẩm chất và năng lực của người giáo viên.
Nghị quyết TW2 khoá VIII đã chỉ rõ:“Giáo viên phải có đủ đức, đủ tài”,“Phải
nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ giáo viên”[8].
Theo Chuẩn nghề nghiệp Giáo viên Trung học do Bộ GD&ĐT ban hành thì
phẩm chất và năng lực của người giáo viên được thể hiện ở các mặt sau:
11
* Phẩm chất.
- Phẩm chất chính trị: Yêu nước, yêu CNXH. Chấp hành đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia các hoạt động chính
trị xã hội; thực hiện nghĩa vụ công dân.
Đảm bảo kiến thức môn học: Làm chủ kiến thức môn học, đảm bảo nội dung dạy
học chính xác, có hệ thống, vận dụng hợp lí các kiến thức liên môn theo yêu cầu cơ
bản, hiện đại, thực tiễn.
Đảm bảo chương trình môn học: Thực hiện nội dung dạy học theo chuẩn kiến
thức, kĩ năng và thái độ quy định trong chương trình môn học.
Vận dụng các phương pháp dạy học: Vận dụng các phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, phát triển năng lực
tự học của học sinh
Sử dụng các phương tiện dạy học: Sử dụng các phương tiện dạy học làm tăng
hiệu quả dạy học
Xây dựng môi trường học tập: Tạo dựng môi trường học tập dân chủ, thân thiện,
hợp tác, thuận lợi, an toàn và lành mạnh.
Quản lí hồ sơ dạy học: Xây dựng, bảo quản, sử dụng hồ sơ dạy học.
- Năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục:
Giáo dục qua môn học: Thực hiện nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ
thông qua môn học và tích hợp các nội dung giáo dục khác trong các hoạt động chính
khoá và ngoại khoá theo kế hoạch đã xây dựng.
Giáo dục qua các hoạt động giáo dục khác: Thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua các
hoạt động giáo dục khác như: chủ nghiệm lớp, công tác Đoàn, Đội, hoạt động ngoài
giờ lên lớp theo kế hoạch đã xây dựng.
Giáo dục qua các hoạt động trong cộng đồng: Thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua
các hoạt động trong công đồng như: lao động công ích, hoạt động xã hội… theo kế
hoạch đã xây dựng.
13
Vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục: Vận dụng các nguyên
tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục học sinh vào tình huống sư phạm cụ
thể, phù hợp đối tượng, đáp ứng mục tiêu giáo dục đề ra.
- Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện đạo đức:
Đánh giá kết quả học tập: Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bảo đảm yêu cầu
công khai, công bằng, khách quan, chính xác, toàn diện và phát triển năng lực tự đánh
- Các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật.
* Quyền của nhà giáo (Điều 73, Luật giáo dục 2005) [25].
- Được giảng dạy theo chuyên ngành đào tạo;
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ;
- Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở
giáo dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện bảo đảm thực hiện đầy đủ
nhiệm vụ nơi mình công tác;
- Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự;
- Được nghỉ hè, nghỉ Tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo qui định của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo và các ngày nghỉ khác theo qui định của Bộ luật lao động.
* Các hành vi nhà giáo không được làm (Điều 75, Luật Giáo dục 2005) [25].
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể của người học;
- Gian lận trong tuyển sinh, thi cử, cố ý đánh giá sai kết quả học tập, rèn luyện
của người học;
- Xuyên tạc nội dung giáo dục;
- Ép buộc học sinh học thêm để thu tiền.
1.2.4. Giáo viên THPT:
1.2.4.1.Vai trò của người giáo viên THPT
- Vai trò người thiết kế
Người giáo viên nói chung và giáo viên THPT nói riêng là những người thiết
kế chương trình hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Căn cứ vào mục
đích, nội dung giáo dục và logic của quá trình sư phạm; trên cơ sở đặc điểm tâm sinh
lý của học sinh; dựa trên các khả năng và điều kiện cho phép, người giáo viên phân
15
tích mục tiêu giáo dục để thiết kế quá trình hình thành và phát triển nhân cách cho
học sinh. Người giáo viên thiết kế để hướng dẫn cho học sinh tích cực tự thiết kế và
tự giác thi công. Giáo viên chọn lựa nội dung giáo dục, xây dựng qui trình hoạt động,
sử dụng phối hợp các phương pháp giảng dạy, giáo dục, thiết kế hoạt động chung của
tập thể, đồng thời chú ý đến những trường hợp cá biệt của học sinh.
- Vai trò người tổ chức
- Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để
nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục;
- Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự
kiểm tra của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh,
thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và
lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp;
- Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật.
* Giáo viên chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ qui định tại khoản 1 của Điều này,
còn có những nhiệm vụ sau đây:
- Tìm hiểu, và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ
chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp;
- Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ
môn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên
quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm;
- Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối học kỳ và cuối năm học; đề
nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng,
phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp;
hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm, học bạ của học sinh.
- Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng.
* Giáo viên thỉnh giảng cũng phải thực hiện các nhiệm vụ quy định như đã nêu ở trên.
17
1.2.5. Tiêu chuẩn, quyền và nhiệm vụ của giáo viên THPT ngoài công lập:
Giáo viên trường THPT ngoài công lập phải có đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất
đạo đức, trình độ chuyên môn và sức khoẻ theo quy định của Luật giáo dục và Điều
lệ trường phổ thông, còn có những nhiệm vụ và quyền như sau:
Thực hiện đầy đủ nhiệm vụ theo hợp đồng lao động đã ký với nhà trường; có
nhiệm vụ và quyền theo quy định của Luật giáo dục và Điều lệ trường phổ thông.
có thể hiểu đội ngũ giáo viên như sau:
Đội ngũ giáo viên là tập hợp những người làm nghề dạy học – giáo dục, được
tổ chức thành một lực lượng (có tổ chức) cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các
mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập thể đó, tổ chức đó. Họ làm việc có kế hoạch và
gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định
của pháp luật, thể chế xã hội.
Từ những quan niệm chung về đội ngũ giáo viên, chúng ta có thể hiểu đội ngũ
giáo viên THPT là: Những người làm công tác giảng dạy – giáo dục trong nhà trường
THPT có cùng một nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện và giúp các em học sinh hình thành và
phát triển toàn diện nhân cách để các em tiếp tục bậc học cao hơn hoặc chọn đúng
hướng đi phù hợp với năng lực, sở trường và hoàn cảnh của bản thân.
1.2.7. Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên:
1.2.7.1. Biện pháp
Từ điển tiếng Việt thông dụng (1998), Nhà xuất bản giáo dục – Hà Nội, định
nghĩa biện pháp như sau: “Biện pháp (danh từ): cách làm, cách giải quyết một vấn đề
cụ thể như: biện pháp hành chính, biện pháp kĩ thuật, biện pháp kinh tế...”[ 39].
Muốn xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT ngoài công lập
Thị xã Phú Thọ một cách toàn diện cũng cần có một hệ thống các cách thức hoạt
động thực tiễn, có các cách sử dụng trong quản lý phát triển đội ngũ giáo viên hay nói
cách khác đó là hệ thống các biện pháp.
19
1.2.7.2. Phát triển:
Theo từ điển Tiếng Việt: “Phát triển (động từ) là biến đổi hoặc làm cho biến
đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”[39]. Theo
quan niệm này thì tất cả các sự vật, hiện tượng, con người và xã hội tự thân biến đổi
hoặc bên ngoài làm cho biến đổi tăng lên cả về số lượng hoặc chất lượng thì đó chính
là sự phát triển.
Như vậy “phát triển” là một khái niệm rất rộng. Nói đến phát triển là người ta
nghĩ ngay đến sự đi lên của sự vật, hiện tượng, con người trong xã hội. Sự đi lên đó thể
hiện ở việc tăng lên về số lượng và chất lượng, thay đổi về nội dung và hình thức.
Số lượng đội ngũ giáo viên trường THPT được xác định bởi số lớp học và
định mức biên chế giáo viên theo thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGD&ĐT-
BNV ngày 23/8/2006, định mức biên chế đối với cấp THPT là không quá 2,25 giáo
viên/lớp, số lượng lớp trong trường được tính theo số học sinh/lớp (mỗi lớp không
quá 45 học sinh)[12]. Căn cứ vào kế hoạch phát triển số lớp học, chúng ta dễ dàng
xác định được số lượng giáo viên cần có cho một trường theo định mức sau:
Số giáo viên cần có = Số lớp x 2,25 giáo viên/lớp.
Trường phổ thông tư thục phải bảo đảm từ năm học đầu tiên tỉ lệ giáo viên cơ
hữu so với tổng số giáo viên theo quy định đối với trường phổ thông công lập ở cấp
học tương ứng như sau: cấp tiểu học 100%; cấp trung học cơ sở và trung học phổ
thông có ít nhất 40%[31].
Số giáo viên và nhân viên của trường phổ thông tư thục phải bảo đảm không
thấp hơn quy định của Nhà nước về định mức giáo viên đối với từng cấp học về giáo
viên, nhân viên [31].
Từ việc xác định số giáo viên hiện có và số giáo viên sẽ thôi hợp đồng, nghỉ
ốm, thai sản, bỏ việc, chuyển đi hoặc chuyển đến để lập kế hoạch bổ sung giáo viên.
Trong thực tế, có nhiều biến động, liên quan chi phối đến việc tính toán số lượng giáo
viên như việc bố trí, sắp xếp lại đội ngũ, tình trạng bố trí số học sinh/lớp cũng như
định mức lao động của giáo viên, chương trình môn học… đều có ảnh hưởng đến số
lượng đội ngũ giáo viên.
21
Khi xem xét số lượng giáo viên, cần chú ý đến một yếu tố đó là: giáo viên
trong trường thường chấp nhận một định mức cao hơn qui định để tăng thu nhập
nâng cao đời sống, vì vậy sẽ làm sai lệch chuẩn tính toán lý thuyết. Do đó, hiệu
trưởng cần phải luôn rà soát số lượng giáo viên đã đủ theo yêu cầu của qui mô đào
tạo hay chưa. Nếu thiếu, tìm sự bổ sung; nếu thừa, phải tạo thêm việc làm, cân đối
lao động để tránh lãng phí và nảy sinh các vấn đề liên quan.
* Về chất lượng đội ngũ giáo viên
Chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường bao gồm nhiều yếu tố cấu
thành, tựu chung lại chất lượng giáo viên hiện nay thể hiện ở ba khía cạnh như sau:
- Cơ cấu về giới tính: Xem xét cơ cấu giới tính của đội ngũ giáo viên để có kế
hoạch phân công sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, thời gian học tập của từng cá nhân, thời
gian nghỉ dạy do sinh đẻ, con ốm, sức khỏe yếu … tất cả các yếu tố đó đều có tác
động đến chất lượng đội ngũ giáo viên và là yếu tố quan trọng liên quan đến chất
lượng giáo dục và đào tạo.
Tóm lại, biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên không chỉ đơn thuần là duy trì
đội ngũ giáo viên, là những giải pháp tình thế mà phải được thực hiện trong một kế
hoạch tổng thể có tính chiến lược lâu dài, vừa mang tính ổn định vừa phát triển dựa
trên những cái đã có làm cho đội ngũ ngày càng mạnh lên về số lượng, nâng cao chất
lượng và cơ cấu hợp lí theo sự phát triển của nhà trường và của xã hội.
Chất lượng
Cơ cấu Số lượng
Hình 1.3. Nội dung biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THPT
23
Biện pháp
phát triển
đội ngũ giáo
viên THPT
1.2.8. Trường THPT ngoài công lập:
1.2.8.1. Vị trí:
Trường phổ thông tư thục là cơ sở giáo dục phổ thông thuộc hệ thống giáo dục
quốc dân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá
nhân tự đảm bảo kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và hoạt động bằng vốn
ngoài ngân sách Nhà nước; được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành
lập và hoạt động giáo dục.
Trường phổ thông tư thục có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản
tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại [37].
1.2.8.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT ngoài công lập:
Trường phổ thông tư thục có nhiệm vụ và quyền hạn như trường công lập theo
công tác quản lí phát triển đội ngũ giáo viên
Ngoài trách nhiệm, quyền hạn của người Hiệu trưởng nhà trường đã được
Luật Giáo dục (2005) qui định tại Điều 54, Điều 58 và Điều lệ trường Trung học cơ
sở, Trung học phổ thông và trường phổ thông nhiều cấp học được ban hành theo
Quyết định số 07/2007/QĐ–BGD&ĐT ngày 02/4/2007 tại khoản 1 Điều 19. Chức
năng và trách nhiệm chủ yếu của Hiệu trưởng trong quản lí phát triển đội ngũ giáo
viên gồm những nội dung cơ bản sau:
1.2.9.2.1. Chức năng của Hiệu trưởng
- Lập kế hoạch sử dụng và phát triển đội ngũ giáo viên đảm bảo đủ về số
lượng, mạnh về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu phù hợp với tình hình thực tế của
nhà trường, địa phương.
- Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng việc nâng
cao chất lượng giáo dục.
- Quản lí duy trì và khuyến khích đội ngũ giáo viên nhằm thực hiện hoàn
thành mục tiêu giáo dục của nhà trường.
25