ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
ĐÀM TUẤN ANH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG Fe0 NANO
TRONG XỬ LÝ ĐẤT NHIỄM 2,4-DICHLOROPHENOXYACETIC VÀ
2,4,5-TRICHLOROPHENOXYACETIC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
ĐÀM TUẤN ANH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG Fe0 NANO
TRONG XỬ LÝ ĐẤT NHIỄM 2,4-DICHLOROPHENOXYACETIC VÀ
2,4,5-TRICHLOROPHENOXYACETIC
Chuyên ngành: Khoa học Mơi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MƠI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1.1.
Sự tồn lưu chất độc da cam/dioxin tại Việt Nam ......................................... 3
1.1.1. Khái quát về chất diệt cỏ 2,4-D; 2,4,5-T và chất độc da cam ................... 3
1.1.2. Hiện trạng tồn lưu chất độc da cam/dioxin tại Việt Nam ......................... 8
1.1.3. Các công nghệ được nghiên cứu, áp dụng tại Việt Nam......................... 14
1.2.
Vật liệu Fe0 nano và ứng dụng trong xử lý ô nhiễm .................................. 20
1.2.1. Cơ sở của việc sử dụng vật liệu Fe0 nano............................................... 20
1.2.2. Phương pháp điều chế vật liệu Fe0 nano ................................................ 24
1.2.3. Đặc tính của hạt Fe0 nano ...................................................................... 25
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...... 29
2.1. Đối tượng nghiên cứu. ................................................................................. 29
2.1.1. Mẫu nước gây ô nhiễm nhân tạo 2,4-D và 2,4,5-T ................................. 29
2.1.2. Mẫu đất nghiên cứu lấy tại khu Z1 sân bay Biên Hòa - Đồng Nai ......... 29
2.1.3. Fe0 nano điều chế theo phương pháp hóa học ........................................ 29
2.1.4. Axit humic ............................................................................................ 30
2.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................... 30
2.3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu ........................................................... 30
2.3.1. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 30
2.3.2. Phương pháp thử nghiệm với mẫu nước ................................................ 30
2.3.3. Phương pháp thử nghiệm với mẫu đất ................................................... 32
2.2.4. Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu ............................................... 35
2.2.5. Các phương pháp phân tích 2,4-D và 2,4,5-T ........................................ 35
2.2.6. Phương pháp điều chế và kiểm tra đặc tính của vật liệu Fe0 nano .......... 36
Bảng 2.3. Thành phần dung dịch trong thử nghiệm khảo sát khả năng xử lý của Fe0
nano với mẫu nước gây nhiễm .................................................................... 32
Bảng 2.4. Hàm lượng chất ô nhiễm 2,4-D và 2,4,5-T trong mẫu đất nghiên cứu ... 33
Bảng 2.5. Thành phần mẫu thử nghiệm khả năng xử lý của Fe0 nano trong mẫu đất
................................................................................................................... 34
Bảng 3.1. Kết quả phân tích các thơng số cơ bản và hàm lượng chất ô nhiễm trong
mẫu đất Đ03 ............................................................................................... 39
Bảng 3.2. Giới hạn cho phép của dioxin trong một số loại đất ............................... 42
Bảng 3.3. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian xử lý đến hiệu quả xử lý 2,4-D
và 2,4,5-T của vật liệu trong mẫu nước ở pH = 3 ........................................ 43
Bảng 3.4. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian xử lý đến hiệu quả xử lý 2,4-D
và 2,4,5-T của vật liệu trong mẫu nước ở pH = 4 ........................................ 44
Bảng 3.5. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian xử lý đến hiệu quả xử lý 2,4-D
và 2,4,5-T của vật liệu trong mẫu nước ở pH = 5 ........................................ 46
Bảng 3.6. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian xử lý đến hiệu quả xử lý 2,4-D
và 2,4,5-T của vật liệu trong mẫu nước ở pH = 7 ........................................ 47
Bảng 3.7. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của điều kiện pH đến hiệu quả xử lý 2,4-D và
2,4,5-T của vật liệu trong mẫu nước ............................................................ 49
Bảng 3.8. Kết quả khảo sát khả năng xử lý 2,4-D và 2,4,5-T của Fe0 nano trong mẫu
nước............................................................................................................ 52
Bảng 3.9. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian xử lý đến hiệu quả xử lý 2,4-D
và 2,4,5-T của vật liệu trong mẫu đất .......................................................... 55
Bảng 3.10. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của lượng vật liệu Fe0 nano bổ sung đến
đến hiệu quả xử lý 2,4-D và 2,4,5-T trong mẫu đất ..................................... 57
Bảng 3.11. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của axít humic đến hiệu quả xử lý 2,4-D và
2,4,5-T của vật liệu trong mẫu đất ............................................................... 60
Biểu đồ 8: Mối liên hệ tương quan giữa thời gian xử lý hiệu quả xử lý, (a) 2,4-D, (b)
2,4,5-T ........................................................................................................ 56
Biểu đồ 9: Mối liên hệ tương quan giữa hàm lượng Fe0 nano bổ sung với hiệu quả
xử lý, (a) 2,4-D, (b) 2,4,5-T ........................................................................ 58
Biểu đồ 10: Mối liên hệ tương quan giữa hàm lượng humic trong đất với hiệu quả
xử lý, (a) 2,4-D, (b) 2,4,5-T......................................................................... 60
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2,4,5-T
2,4,5 -Trichlorophenoxyacetic
2,4-D
2,4 - Dichlorophenoxyacetic
2,3,7,8-TCDD 2,3,7,8 - Tetrachlorodibenzodioxin
AO
Chất độc da cam (Agent Orange)
BCF
Xellulo dạng hạt kết hợp với hydroxit sắt (bead cellulose loaded
with iron oxyhydroxit)
BET
Trichloroethene
TCDD
2,3,7,8-tetrachlorodibenzodioxin
TEM
Kính hiển vi điện tử truyền qua (Transmission Electron
Microscopy)
TEQ
Tổng nồng độ độc tương đương (Concentration of Toxic
Equivalent)
VOCs
Các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (Volatile Organic Compounds)
USDA
Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
MỞ ĐẦU
Trong thời gian chiến tranh, quân đội Mỹ đã sử dụng một lượng hóa chất
khổng lồ cho mục đích quân sự tại Việt Nam, kể từ khi chiến dịch Ranch Hand bắt
đầu từ tháng 12 năm 1961 và lô hóa chất đầu tiên được đưa sang Việt Nam vào
ngày 7 tháng 1 năm 1962, q trình phun rải hóa chất của Mỹ theo chiến dịch này
xử lý và giảm thiểu tính độc hại của các chất độc hóa học này bằng nhiều phương
thức khác nhau như cách ly với các vùng không bị ô nhiễm, bằng các phương pháp
cô lập như chôn lấp, cố định chất ô nhiễm, hoặc sử dụng các phương pháp nhiệt để
giải hấp và xử lý khí, nhưng q trình xử lý địi hỏi cơng nghệ và chi phí lớn, hay
việc xử lý bằng các phương pháp vi sinh vật phân hủy chất ô nhiễm, nhưng do độc
tính cao của chất ơ nhiễm và việc phân lập vi sinh vật với môi trường đất nhiễm khó
khăn và hiệu quả xử lý chưa cao.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy, việc chế tạo và ứng dụng vật liệu nano
trong lĩnh vực xử lý ô nhiễm môi trường cho kết quả khả quan, trong cả các lĩnh
vực xử lý chất ô nhiễm hữu cơ bao gồm cả các chất diệt cỏ và thuốc bảo vệ thực
vật. Trong đó đã có nhiều nghiên cứu về ứng dụng vật liệu nano trong xử lý DDT,
POPs trong môi trường đất, nước [2, 3]. Các vật liệu nano kim loại có thể được điều
chế tại phịng thí nghiệm bằng các phương pháp hóa lý hoặc bằng các phương pháp
chế tạo công nghiệp, công nghệ xử lý không phức tạp nên q trình áp dụng thực
nghiệm khơng khó khăn. Trong đó vật liệu Fe0 nano rất phổ biến và đã được áp
dụng vào nhiều lĩnh vực trong thực tế.
Do vậy luận văn thực hiện theo đề tài “Nghiên cứu khả năng ứng dụng Fe0
nano trong xử lý đất nhiễm 2,4 - Dichlorophenoxyacetic và
2,4,5 -
Trichlorophenoxyacetic” với mục tiêu khảo sát khả năng xử lý đất nhiễm 2,4-D và
2,4,5-T của Fe0 nano trong điều kiện phịng thí nghiệm.
2
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1.
Hình 1.3. Cơ chế tạo ra sản phẩm phụ 2,3,7,8-TCDD trong quá trình tổng hợp
chất diệt cỏ 2,4,5-T.
1.1.1.2. Chất diệt cỏ 2,4-D
Dichlorophenoxyacetic axit (2,4-D) có cơng thức hóa học là C8H6Cl2O3
cơng thức cấu tạo được thể hiện ở hình 1.4[8].
Hình 1.4. Cấu trúc của 2,4-D.
2,4-D có khối lượng phân tử 221,04g/mol, ở dạng tinh khiết 2,4-D ở dạng
bột, có màu trắng đến màu vàng. Nhiệt độ nóng chảy là 140,50C và nhiệt độ bay
hơi là 1600C. Ở nhiệt độ 25 0C, 2,4-D có thể được hịa tan với hàm lượng 900
mg/l.
4
2,4-D là thuốc diệt cỏ được tổng hợp từ các auxin, là thuốc diệt cỏ tán rộng
Hiện nay chủ yếu 2,4-D được sử dụng trong những hỗn hợp pha trộn với các loại
thuốc diệt cỏ khác, có vai trị như một chất tăng cường tác dụng. Nó đang được sử
dụng rộng rãi trên khắp thế giới.
1.1.1.3. Ảnh hưởng của 2,4-D và 2,4,5-T đến môi trường và con người.
a. Ảnh hưởng tới môi trường
Quân đội Mỹ đã rải chất diệt cỏ chứa 2,4,5-T, 2,4-D và tạp chất dioxin lên
khoảng 27% tổng diện tích Việt Nam. Khoảng hơn 2 triệu ha rừng đã bị tác động
của chất diệt cỏ [11]. Tác dụng tức thời của chất diệt cỏ là làm cho các loài cây
rừng bị trụi hết lá, rất nhiều loài cây bị chết, môi trường và sinh cảnh bị thay đổi
nhanh chóng. Tại các vùng rừng bị rải lặp đi lặp lại nhiều lần, hệ sinh thái rừng bị
phá hủy hoàn toàn và cho đến nay tại những nơi này chưa có cây mọc tự nhiên
như khu rừng Mã Đà (Đồng Nai), thung lũng A Lưới (Thừa Thiên - Huế)
Chất diệt cỏ sau khi được phun xuống có thể tích tụ khơng những trong đất
dịch Ranch Hand [13]. Chất độc da cam là hỗn hợp hai thành phần bằng nhau của
hai este của n-butanol với hai axit 2,4,5-Trichlorophenoxyaxetic và 2,4Dichlorophenoxyaxetic.
Chất độc da cam được nghiên cứu từ những năm 1940-1950 tại một phịng
thí nghiệm bí mật tại đại học Chicago trong thế chiến thứ II. Giáo sư E.J. Kraus
trưởng khoa sinh học thực vật của trường phát hiện ra rằng có thể điểu chỉnh sự
phát triển của thực vật thơng qua các kích thích tố, ơng đã khám phá ra là thảm
thực vật bị chết hàng loạt trong vòng 24-48 giờ bằng cách làm cho cây tăng trưởng
đột ngột và khơng kiểm sốt thơng qua việc sử dụng các kích thích tố sinh trưởng ở
thực vật, qua việc thử nghiệm với thảm thực vật lá rộng [15].
E.J. Kraus đã sử dụng hàm lượng cao 2,4-D để gây ra sự tăng trưởng cục bộ
đối với thực vật và gây ra sự chết hàng loạt với thực vật lá rộng. Sau khi khám phá
ra kết quả này, ơng cho rằng có thể sử dụng cho mục đích chiến tranh, ơng đã liên
lạc với Bộ Quốc phịng Mỹ và các nhóm nhà khoa học thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ đã
thử nghiệm với hóa chất này nhưng họ đã khơng đưa vào sử dụng trong thế chiến
thứ II. Và ông đã ứng dụng chất này cho mục đích kiểm sốt cỏ dại tại các khu vực
nề đường bộ và đường sắt [14, 28].
Sau đó, quân đội Mỹ tiếp tục các thử nghiệm với 2,4-D trong suốt những
6
năm 1950, và họ đã khám phá ra việc kết hợp 2,4-D và 2,4,5-T cho thấy hiệu quả
gây chết nhanh hơn với các tán lá. Từ khám phá này hỗn hợp của hai chất này đã
nhanh chóng được đưa vào sử dụng trong quân đội như một loại vũ khí hóa học
mạnh. Nhưng họ đã khơng nhận ra việc sử dụng 2,4,5-T có chứa dioxin (đó là nhóm
chất sản phẩm phụ nguy hại trong việc điều chế thuốc diệt cỏ ngưng tụ lại) [14].
Các nhóm chất được sử dụng được phân biệt và gọi tên theo mã màu trên
thùng chứa bao gồm chất xanh, chất trắng, chất tím, chất hồng và chất da cam.
Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng nhiều loại chất độc quân sự
khác nhau với mục đích phát quang thảm thực vật che chắn và phá hoại mùa màng.
hợp chất độc này không chỉ dừng lại ở mục đích của qn đội Mỹ mà chúng là
nhóm hợp chất độc hại bền và tồn lưu lâu dài trong mơi trường đất, nước, thậm chí
là ở cả động vật và thực vật.
1.1.2. Hiện trạng tồn lưu chất độc da cam/dioxin tại Việt Nam
Liên tục từ những năm 1980 đến nay, vẫn có những nghiên cứu đánh giá
mức độ tồn lưu của dioxin tại các khu vực bị phun rải nặng (A So – A Lưới, Bù
Gia Mập...), các hồ chứa nước quan trọng (Dầu Tiếng, Trị An) và các điểm trước
kia là kho chứa.
Đối với khu vực bị phun rải, các số liệu về độ tồn lưu của dioxin trên lớp
đất bề mặt, thường là 0-10 hoặc 0-20 cm ở những vùng: Cam Lộ, Gio Linh (Quảng
Trị); A Lưới, Phú Lộc (Thừa Thiên - Huế); Sa Thầy (Kon Tum); Tân Biên, Trảng
Bàng (Tây Ninh); Phước Long (Bình Phước); Tân Un (Bình Dương); Biên Hịa
(Đồng Nai); khu vực lâm trường Mã Đà, khu vực hồ Trị An, khu vực rừng Sác,
Cần Giờ (TP. Hố Chí Minh); Mũi Cà Mau (Cà Mau). Các số liệu này cho một bức
tranh tổng quát về mức độ tồn lưu dioxin ở các khu vực bị phun rải đều nằm dưới
27 ppt (ngưỡng mà Mỹ cho phép đối với đất nông nghiệp), một vài điểm có mức
tồn lưu trên ngưỡng này [13].
Do có nhiều khó khăn, nên chưa nghiên cứu hết được các vùng bị rải chất
độc hóa học trong chiến tranh. Tuy nhiên, cho đến nay, các cơ quan của Việt Nam
đã phân tích hàng nghìn mẫu đất, bùn lắng, đã khảo sát các khu vực bị phun rải
nặng, phân tích một số mẫu của miền Bắc để đối chứng, kết quả cho thấy:
Vùng đồng bằng sông Cửu Long đã bị rải chất phát quang với liều lượng
8
thấp nhất, bị lũ lụt thường xuyên và ánh nắng với cường độ cao, làm cho dioxin
trong đất bị rửa trơi nhanh, bị phân rã và do đó, khơng phát hiện thấy dioxin
(2,3,7,8-TCDD).
Gio Linh, Cam Lộ,
Nước
0 (n = 2)
Quảng Trị (2003-2004)
Bùn
1 TEQ (n = 15)
Đất
20 TEQ (n = 10)
Cam Lộ, Quảng Trị
(2004)
Sân bay A So (1999) Sân
2
Mẫu
bay Tà Bạt (1999)
TT NĐ Việt Nga
Mai Anh Tuấn và cs.
(2004)
Bùn
0,38 TEQ (n = 6)
4
Phú Lộc, TT-Huế (1993)
Đất
8,6 (n = 4/6)
Matsuda và cs.
5
Tây Ninh (1993)
Đất
14 (n = 14/54)
Matsuda và cs.
9
TT NĐ Việt Nga
TCDD/TEQ, ppt
phân tích
13,2/14,3 (n = 24)
TT NĐ Việt Nga
16 (n = 7)
VH1 / ĐHKHTNHN
Đất
Tân Sơn Nhất, TP. HCM Trầm
7
Hàm lượng 2378-
3,6/4,0 (n = 7)
2,06-341 TEQ (n =
UB 10-80, TT NĐ
Việt Nga
UB 10-80, VP 33
(2006)
TT NĐ Việt Nga
Khu vực sân bay Rang
Rang (2004)
Bình Mỹ, Tân Uyên,
Bình Dương (1995-1998)
5)
119/122 (n = 1/17)
Đất
24 TEQ (n = 5)
265 TEQ (n = 1)
Đất
12,7/14,5 (n = 19)
Matsuda và cs.
Mai Anh Tuấn và
cs. (2004)
TT NĐ Việt Nga
Nguồn Báo cáo tổng thể dioxin Việt Nam-Văn phòng 33 [13]
Khu vực tồn lưu dioxin hiện nay là những nơi tàng trữ để nạp lên máy bay đi
phun rải, chủ yếu là các sân bay quân sự. Diện tích bị nhiễm dioxin ở những nơi này
không lớn, khoảng 2-10 ha mỗi nơi (các sân bay Đà Nẵng, Biên Hịa), hoặc ít hơn,
Biên Hịa
1966-1972
195.855
40.737.840
Đà Nẵng
1965-1972
105.460
21.935.680
Phù Cát
1968-1971
Khơng có SL
Nha Trang
1968-1971
Khơng có SL
Tuy Hịa
Chiến dịch Pace Ivy (4/1970 – 3/1972): Thu thập 11.000 thùng da cam
(2.288.000 lít).
Khu vực ơ nhiễm: Đến nay (2010), đã biết 3 khu vực ơ nhiễm chính. Các khu
khác đang tiếp tục điều tra.
Khu vực nạp/rửa (“vùng Z1”): Nạp hóa chất, rửa máy bay sau khi phun rải
thuốc diệt cỏ. Ơ nhiễm rất nặng (có mẫu đến 1 triệu ppt), dioxin đã xâm nhập vào
đất ở độ sâu ít nhất đến 2,5 m, tại một số nơi sâu đến 4-5 m (do cả đào lấp trước
kia). Khu vực này đã được Bộ Quốc phịng xử lý, cơ lập.
Xung quanh khu vực ô nhiễm nặng nhất này (vùng Z1), cịn có các khu
vực ơ nhiễm nhẹ hơn là:
– Đất xung quanh Z1: Hàm lượng 2-13.300 ppt.
– Bùn xung quanh Z1: Hàm lượng 16-2.240 ppt.
Khu Nam sân bay: Có thể liên quan đến các hoạt động trong Chiến dịch
Pacer Ivy, hàm lượng dioxin lớn nhất là 65.500 ppt.
Khu vực Tây Nam đường băng: Sử dụng trong suốt Chiến dịch Pacer Ivy.
Hàm lượng dioxin lớn nhất là 22.800 ppt.
Dịng chảy nước bề mặt đã khơng chỉ làm ô nhiễm các vùng xung quanh,
mà còn cả một số lượng lớn các hồ nhỏ tại khu vực.
Sân bay quốc tế Đà Nẵng [13]
Sân bay quốc tế Đà Nẵng có tổng diện tích là 892,5 ha, gồm 2 khu vực ơ
nhiễm: phía Bắc và phía Nam đường băng. Ơ nhiễm do nạp rửa khi phun rải, thấm
chảy khi đóng, mở thùng.
Chiến dịch Ranch Hand (5/1964 – 1/1971):
- Da cam: 52.700 thùng (10.961.600 lít).
- Chất trắng: 29.000 thùng (6.032.000 lít).
Nhìn chung, khu vực này mức độ ô nhiễm dioxin thấp hơn và diện tích đất ơ
nhiễm nhỏ hơn nhiều so với phía Bắc đường băng. Tuy nhiên, cũng có mẫu đất hàm
lượng dioxin > 20.000 ppt.
Sân bay Phù Cát [13]
Sân bay Phú Cát được quân đội Mỹ xây dựng vào 1967, thuộc xã Nhơn
Thành, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn và xã Cát Tân, huyện Phú Cát, cách Thành
phố Quy Nhơn khoảng 28 km, nằm ở kinh độ 109o02’47” Đông, vĩ độ 13o56’57”
Bắc. Khu vực sân bay rộng 1.018 ha.
Ô nhiễm do:
Chiến dịch Ranch Hand (6/1968 - 5/1970):
13
– Da cam: 17.000 thùng (3.536.000 lít).
– Chất trắng: 9.000 thùng (1.872.000 lít).
– Chất màu xanh 2.900 (603.200 lít).
Khơng có thơng báo về Pacer Ivy ở Phù Cát.
Đến nay, xác định 3 khu vực ô nhiễm:
Khu nạp (“Z3”): Là khu nhiễm độc cao nhất.
Khu vực xung quanh (gồm khu A, B, C): Nhiễm ở mức độ vừa phải.
Riêng Khu B tại điểm thốt nước xuống hồ có một số mẫu cao có thể phải xử lý.
Các hồ (gồm 3 hồ): Có một số mẫu trầm tích có hàm lượng dioxin trên
150 ppt.
1.1.3. Các cơng nghệ được nghiên cứu, áp dụng tại Việt Nam
1.1.3.1. Công nghệ chôn lấp
a. Phương pháp thế nhóm độc trong nhân phân tử chất dacam/dioxin
Để thế clo trong nhân phân tử các clo hữu cơ người ta sử dụng các dẫn xuất
kiềm như natri, kali của polyetylenglycol. Hiệu suất phản ứng đạt khá cao >96% đối
với 2,3,7,8 TCDD và 99,9% đối với các dioxin khác. Nhiệt độ phản ứng là 100oC.
b. Phương pháp declo hoá bằng tác nhân hoá học
Tác nhân declo hoá được nghiên cứu nhiều nhất là hydro ở áp suất cao (hàng
trăm bar). Phản ứng thế clo trong phân tử chất dacam/dioxin bằng hydro tạo thành
phân tử chứa ít clo hơn hoặc khơng có clo.
Cl
[H]
Xúc tác
Xúc tác đóng vai trị quyết định trong phản ứng hyđrơ hố này. Các xúc tác
thường dùng trong cơng nghiệp hoá học là các kim loại và các oxit kim loại như các kim
loại nhóm VIII: Ni, Pd, Co, Pt, ở dạng bột mịn hay dạng sợi. Các oxit thường dùng là
NiO, MoO3, Al2O3...
Phương pháp sử dụng natri kim loại để phân huỷ các PCB thành công cũng
rất đáng chú ý khi phân huỷ các dioxin. Bản chất của phương pháp này là trong môi
trường nước, natri kim loại phản ứng với nước sinh ra hydrro nguyên tử có khả
năng phản ứng cao.
Ngồi tác nhân declo hố bằng hyđrơ dưới áp suất cao cịn có thể sử dụng
15