135
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH
SÁCH XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CHỦ YẾU CỦA VIỆT NAM
ĐẾN NĂM 2015
3.1. Các thách thức đối với quá trình giảm nghèo ở Việt Nam
Hoàn thiện chính sách giảm nghèo là nhiệm vụ thường xuyên của chính
phủ. Tuy nhiên, hoàn thiện như thế nào là vấn đề không đơn giản. Quá trình
hoàn thiện chính sách luôn đòi hỏi cần có đầy đủ căn cứ vững chắc và một
trong những căn cứ không thể thiếu được chính là nhận định về những thách
thức trong tương lai mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong công cuộc giảm
nghèo?
3.1.1. Khó khăn trong giải quyết đói nghèo của Việt Nam
Trong điều kiện kinh tế xã hội luôn biến động, tình trạng đói nghèo ở
Việt Nam đã có sự cải thiện đáng kể (Phụ lục 3.1). Với thành tựu đã đạt
được, Việt Nam được cộng đồng quốc tế công nhận là nước có tốc độ giảm
nghèo nhanh trên thế giới và là một trong những nước đi đầu trong thực hiện
mục tiêu giảm 50% số người nghèo vào năm 2015. Ngân hàng Thế giới đã
đánh giá "Thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những thành
công nhất trong phát triển ". Tuy nhiên hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt
với một loạt các vấn đề như tính đa dạng và phức tạp của xã hội Việt Nam;
tốc độ giảm nghèo chậm hơn.
Xã hội Việt Nam đa dạng và phức tạp hơn. Chính sách đổi mới đã đem
lại tốc độ tăng trưởng cao cho nền kinh tê. Tuy nhiên, có sự khác biệt về mức
độ tham gia và hưởng lợi của các nhóm dân cư từ thành tựu tăng trưởng kinh
tế này, dẫn đến sự chênh lệch đáng kể về mức sống giữa nông thôn và thành
thị, giữa các vùng miền và các nhóm đồng bào thiểu số. Vì vậy, bước sang
giai đoạn 2011- 2015, xã hội Việt Nam đa dạng hơn rất nhiều so với trước đây
(thời điểm khi các chương trình mục tiêu quốc gia bắt đầu được khởi xướng).
136
Bản chất của đói nghèo là đói nghèo tương đối, do về cơ bản đói nghèo cùng
cực đã được giải quyết. Điều đó đòi hỏi chính sách giảm nghèo cũng cần thay
số. Do đó trong những năm đầu là nước có thu nhập trung bình, Việt Nam sẽ
gặp nhiều khó khăn hơn vì thiếu đi sự hỗ trợ ưu đãi về nguồn lực từ bên ngoài
để thực hiện các hoạt động giảm nghèo ở những vùng miền có điều kiện kinh
tế xã hội khó khăn và trình độ dân trí thấp.
3.1.3. Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Bên cạnh những cơ hội thì Việt Nam cũng đang phải đương đầu với
những thách thức đặc biệt là các vấn đề có tác động trực tiếp đến đói nghèo
như bất ổn của nền kinh tế, sự cạnh tranh bình đẳng khiến cho hỗ trợ của nhà
nước đối với nông dân giảm và mất dần đi, yêu cầu về chất lượng sản phẩm
(nông sản) cao hơn…
Thứ nhất là sự bất ổn của nền kinh tế. Sau hai năm gia nhập WTO,
tổng thể các tác động lên tăng trưởng và giảm nghèo là tích cực. Tuy nhiên,
cùng với xu hướng đầu từ gián tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam là rất lớn do
các nhà đầu tư kỳ vọng cao vào một nền kinh tế tăng trưởng mạnh trong giai
đoạn sau gia nhập WTO, những hạn chế thể chế, cũng như tác động kinh tế
toàn cầu bất lợi…đã gây ra lạm phát rất cao và những mất cân đối vĩ mô lớn
đã gây ra hậu quả nặng nề cho người dân, đặc biệt là người nghèo.
Thứ hai là hỗ trợ của nhà nước cho sản xuất nông nghiệp giảm và mất
dần đi.
Gia nhập WTO cũng đồng nghĩa chấp nhận sự cạnh tranh bình đẳng hơn.
Yêu cầu đặt ra hoạt động sản xuất cần phải tính toán đầy đủ chi phí khiến cho giá
thành sản phẩm tăng lên vì vậy lợi thế cạnh tranh về giá sẽ không còn nữa. Đảm
bảo cạnh tranh bình đẳng có nghĩa các hình thức hỗ trợ trực tiếp cho nông
138
nghiệp giảm và dần bị tháo bỏ. Đây là một thách thức lớn đối với nông dân trong
điều kiện sản xuất không có được lợi thế từ qui mô. Điều này trở lên nghiêm
trọng hơn đối với người nghèo vì hoạt động sản xuất của họ là nhỏ lẻ manh mún.
Thứ ba là yêu cầu chất lượng sản phẩm ngày càng cao.
Thách thức đối với việc thực hiện cam kết về các tiêu chuẩn Vệ sinh và
Kiểm dịch động thực vật ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên WTO là
5,3% đất, 10,8% dân số, 10,2% GDP, 10,9% vùng thành thị, 7,2% diện tích đất
nông nghiệp và 28,9% vùng đất thấp13. Những thiệt hại về vật chất do tác động
của hiện tượng này chưa được tính toán đầy đủ nhưng chắc chắn sẽ có tác động
đến tăng trưởng kinh tế và tình trạng đói nghèo của Việt Nam.
3.2. Quan điểm và định hướng hoàn thiện các chính sách giảm nghèo đến năm 2015
3.2.1. Quan điểm hoàn thiện chính sách giảm nghèo
3.2.1.1. Đảm bảo đạt mục tiêu chung của quốc gia về giảm nghèo và
Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
Năm 2001, Việt Nam đã long trọng ký kết Tuyên bố Thiên niên kỷ của
Liên Hiệp Quốc, trong đó có xác định các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
(MDGs). Trên cơ sở đó, Việt Nam đã cụ thể hóa thành các Mục tiêu Phát triển
của Việt Nam (VDGs). Theo các mục tiêu này, đến năm 2015, sẽ giảm ½ số
người nghèo so với năm 1990.
Cũng như các quốc gia đã cam kết thực hiện MDGs, Việt Nam đã rất
nỗ lực và bước đầu đã đạt được những kết quả rất khả quan. Trong bối cảnh là
nước đang phát triển có thu nhập thấp và phải chịu những tác đông không
thuận lợi của kinh tế thế giới, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến thực hiện
MDGs. Tuy nhiên,Việt Nam cũng như hầu hết các nước tiếp tục triển khai
thực hiện những cam kết của mình trong Tuyên bố Thiên niên kỷ; lồng ghép
ngày càng đầy đủ hơn MDGs với chất lượng cao hơn trong hành động của
13
Chiến lược hỗ trợ quốc gia- Việt Nam 2007- 2010, Irish Aid
140
quốc gia. Tinh thần đó cũng sẽ được thể hiện trong quá trình hoàn thiện chính
sách giảm nghèo nghĩa là phải đảm bảo thực hiện có chất lượng cam kết
MDGs. Bên cạnh đó, hoàn thiện hệ thống chính sách giảm nghèo phải đảm
bảo đạt được mục tiêu chung của quốc gia về giảm nghèo. Tính đến thời điểm
này mục tiêu giảm nghèo đến năm 2015 của Việt Nam nằm trong VDGs đến
năm 2015 và mục tiêu này lại được xây dựng trên cơ sở MDGs. Do đó nếu đạt