KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – chi nhánh Cần Thơ - Pdf 70

21
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN VỀ TÌNH HÌNH HUY
ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG SACOMBANK
CẦN THƠ
4.1. Tình hình nguồn vốn và huy động vốn
4.1.1. Tình hình nguồn vốn
Việc huy động vốn trong nền kinh tế chiếm vị trí quan trọng, góp phần ổn
định đồng tiền trong nước, tạo điều kiện phát triển đất nước. Mặc dù trong những
năm qua đứng trước tình hình kinh tế xã hội có nhiều biến động và diễn biến
phức tạp nhưng Sacombank Cần Thơ luôn bám sát định hướng của NHNN cũng
như Ban lãnh đạo của Sacombank để có biện pháp chỉ đạo thiết thực, nhằm giữ
mức tăng trưởng về vốn. Trong 3 năm qua cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh thay
đổi như sau:
Bảng 1 : Tình hình nguồn vốn của ngân hàng
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2006 2007 2008
2007/2006 2008/2007
Số tiền % Số tiền %
Vốn huy
động
312.501 431.469 499.275 118.968 38,07 67.806 15,72
Vốn điều
chuyển
393.238 439.605 539.895 46.367 11,79 100.290 22,81
Tổng nguồn
vốn
705.739 871.074 1.039.170 165.335 23,43 168.096 19,3
( Nguồn: Phòng Hành Chánh )
Qua bảng số liệu ta có thể nhận thấy tổng nguồn vốn của ngân hàng tăng
qua các năm. Cụ thể năm 2006 tổng nguồn vốn đạt 705.739 triệu đồng, năm 2007
là 871.074 triệu đồng tăng 23,43% so với năm 2006 và năm 2008 tốc độ tăng

Chỉ tiêu ĐVT 2006 2007 2008
Vốn huy động
Triệu đồng 312.501 431.469 499.275
Tổng nguồn vốn
Triệu đồng 705.739 871.074 1.039.170
Vốn huy động/ Tổng NV
% 44,28 49,53 48,05
Vốn huy động tạo cho ngân hàng thế chủ động trong kinh doanh, có khả
năng cung cấp đầy đủ kịp thời và nhanh chóng vốn cho khách hàng. Tỷ trọng vốn
huy động năm 2006 là 44,28%, năm 2007 tăng lên 49,53%, năm 2008 chiếm
48,05% trong tổng nguồn vốn. Tỷ lệ này vẫn chưa đạt đến mức hiệu quả so với
các ngân hàng khác trong cùng địa bàn. Ta thấy năm 2007 do tình hình lạm phát
ngày càng tăng cao lãi suất huy động của ngân hàng tăng nhằm bù đắp lạm phát
và thực hiện theo chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ. Qua năm 2008 cùng
với việc NHNN tăng dự trữ bắt buộc, áp dụng cơ chế lãi suất trần, lãi suất liên
www.kinhtehoc.net

23
ngân hàng đạt đỉnh điểm 32%/năm, điều đó đã làm cho cuộc chạy đua lãi suất
huy động của các ngân hàng diễn ra mạnh hơn để đảm bảo tính thanh khoản. Mặc
dù lãi suất tăng nhưng lượng vốn huy động của ngân hàng chưa tăng cao, tỷ trọng
vốn huy động trong tổng nguồn vốn chưa có sự thay đổi lớn. Vốn huy động tốt
nhất nên chiếm tỷ trọng từ 60 – 70% trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Ngân
hàng cần triển khai các chiến lược khách hàng, lãi suất linh hoạt, kịp thời, hiệu
quả để nâng cao nguồn vốn huy động sao cho hợp lý để có được nguồn vốn với
chi phí thấp đem về cho chi nhánh ở mức hiệu quả nhất.
*Chỉ tiêu vốn điều chuyển trên tổng nguồn vốn
Bảng 3: Vốn điều chuyển trên tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu ĐVT 2006 2007 2008
Vốn điều chuyển

Chỉ tiêu
2006 2007 2008 2007/2006 2008/2007
Số tiền Số tiền Số tiền
Số
tiền
Tỷ lệ
(%)
Số
tiền
Tỷ lệ
(%)
Tiền gửi thanh toán 134.469 193.819 250.973 59.350 44,14 57.154 29,49
không kỳ hạn 125.969 179.082 223.286 53.113 42,16 44.204 24,68
có kỳ hạn 8.500 14.737 27.687 6.237 73,38 12.950 87,87
( Nguồn: Phòng Hành Chánh )
Tiền gửi thanh toán ở Ngân hàng chủ yếu là các tổ chức kinh tế. Do yêu cầu
trong sản xuất kinh doanh cũng như thấy rõ được những tiện ích từ các sản phẩm,
dịch vụ nên ngày càng có nhiều doanh nghiệp giao dịch thường xuyên với Ngân
hàng. Qua bảng 3 ta thấy tiền gửi thanh toán biến động tăng qua các năm như
sau: 2006 tiền gửi thanh toán là 134.469 triệu đồng, năm 2007 là 193.819 triệu
đồng tăng 59.350 triệu đồng tức 44,14%, đến năm 2008 đạt mức 250.973 triệu
đồng tăng so với năm 2007 là 29,49%. Nhìn chung, nguồn vốn huy động của
Ngân hàng tăng qua các năm là do tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán tăng
không ngừng qua các năm, tiền gửi thanh toán năm 2007 đã tăng lên đáng kể,
sang năm 2008 tuy tốc độ tăng chậm lại nhưng vẫn giữ mức tăng ổn định. Mục
đích của loại tiền gửi này đối với các doanh nghiệp là nhằm đảm bảo an toàn về
tài sản, thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chi trả
lương cho nhân viên của doanh nghiệp, đồng thời hạn chế được chi phí tổ chức
thanh toán, bảo quản tiền và vận chuyển tiền, nắm rõ được những lợi ích đó nên
số lượng doanh nghiệp gửi tiền càng tăng lên.

toán có kỳ hạn trong năm 2007 và 2008.
-
50.000
100.000
150.000
200.000
250.000
2006 2007 2008
Năm
Triệu đồng
không kỳ hạn có kỳ hạn
Hình 2: Tình hình tiền gửi thanh toán của các TCKT
www.kinhtehoc.net

26
* Tình hình phát hành và kinh doanh thẻ tại Sacombank Cần Thơ
Bảng 5: Tình hình phát hành thẻ tại Sacombank Cần Thơ
từ 2006 – 2008

Chỉ tiêu
2006 2007 2008
Số lượng % Số lượng % Số lượng %
Tổng số thẻ phát hành 977 100 2.395 100 6.708 100
+ Thẻ thanh toán 846 86,59 2.228 93,03 6.458 96,27
+ Thẻ tín dụng 131 13,41 167 6,97 250 3,73
(Nguồn: Phòng cá nhân)
Bảng 6: Tăng trưởng phát hành thẻ tại Sacombank Cần Thơ

Bảng 7: Tiền gửi tiết kiệm
Chỉ tiêu
2006 2007 2008 2007/2006 2008/2007
Số tiền Số tiền Số tiền
Số
tiền
Tỷ lệ
(%)
Số
tiền
Tỷ lệ
(%)
Tiền gửi tiết kiệm 160.032 209.507 207.089 49.475 30,92 -2.418 -1,15
không kỳ hạn 4.250 11.418 7.253 7.168 168,66 -4.165 -36,48
có kỳ hạn 155.782 198.089 199.836 42.307 27,16 1.747 0,88
( Nguồn: Phòng Hành Chánh )
Tiền gửi tiết kiệm là lượng tiền nhàn rỗi của dân chúng, các đơn vị kinh tế
gửi vào ngân hàng nhằm mục đích chính là hưởng phần lãi suất mà Ngân hàng
trả cho khách hàng khi gửi tiền. Tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng qua ba năm có
những biến động sau: năm 2006 là 160.032 triệu đồng, năm 2007 là 209.507 triệu
đồng, về số tuyệt đối là tăng 49.475 triều đồng, tức là tăng 30,92% so với 2006,
năm 2008 là 207.089 triệu đồng, về số tuyệt đối giảm 2.418 triệu đồng, tức là
giảm 1,15% so với năm 2007. Sở dĩ tiền gửi tiết kiệm trong năm 2007 của Ngân
hàng tăng là do Ngân hàng đã có những bước điều chỉnh lãi suất hợp lý, đưa ra
nhiều kỳ hạn tiền cho khách hàng lựa chọn, đa dạng hóa các hình thức trả lãi.
Bên cạnh đó, Ngân hàng còn nghiên cứu đưa ra các hình thức tiết kiệm bậc
thang, dự thưởng kết hợp phát tờ rơi lãi suất, Brochure chương trình khuyến mãi
tại siêu thị và đến nhà khách hàng theo khu vực có chọn lọc để tăng vốn huy
động. Năm 2008 tiền gửi tiết kiệm có giảm đôi chút so với 2007 là do trong năm
2008 kinh tế khó khăn nhu cầu gửi tiết kiệm của người dân cũng giảm. Mặt khác,

nói riêng đã co cụm về qui mô, mặc dù trong năm ngân hàng đã cố gắng hết sức
tung ra hàng loạt các hình thức khuyến mãi nhưng vẫn gặp không ít khó khăn từ
phía các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tương lai đặc biệt là cạnh tranh về lãi suất,
chất lượng dịch vụ và tiện ích ngân hàng.
Còn đối với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thì loại tiền này còn nhiều biến
động qua các năm. Cụ thể, năm 2006 là 4.250 triệu đồng, năm 2007 là 11.418
triệu tăng 7.168 triệu đồng so với năm 2006, điều này chứng tỏ ngân hàng cũng
có những biện pháp tích cực đưa sản phẩm này đến với người dân; sang năm
2008 giảm 4.165 triệu đồng hay giảm 36,48% so với năm 2007. Nguyên nhân là
do loại tiền này mang lại cho khách hàng lãi không cao, nên nếu họ có vốn nhàn
rỗi tạm thời thì họ gửi hình thức tiền gửi thanh toán không kỳ hạn như sử dụng
thẻ để thuận tiện hơn trong việc rút tiền. Do đó, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
www.kinhtehoc.net

29
của chi nhánh chủ yếu là các khoản ký quỹ tiền vay của khách hàng nhằm tránh
tình trạng quá hạn đối với hoạt động tín dụng của chi nhánh. 4.1.2.3. Vốn huy động từ các tổ chức tín dụng khác
Bảng 8: Tiền gửi của các Tổ chức tín dụng

-
50.000
100.000
150.000
200.000
250.000
2006 2007 2008 Năm
Triệu đồng
Không kỳ hạn Có kỳ hạn
www.kinhtehoc.net

30
triển các sản phẩm, dịch vụ thì mở rộng mối quan hệ với các khách hàng là các tổ
chức tín dụng cũng vô cùng cần thiết. Đó là một trong những mục tiêu hướng tới
sự phát triển bền vững của Ngân hàng.
-
5.000
10.000
15.000
20.000
25.000
30.000
35.000
40.000
45.000
2006 2007 2008
Năm
Triệu đồng
Tiền gửi của các tổ chức tín dụng



31
từ các TCTD… Cơ cấu vốn huy động thay đổi rất linh hoạt, nó phụ thuộc vào
chiến lược kinh doanh của Ngân hàng trong từng thời kỳ nhất định
+ Tiền gửi thanh toán: Về tỷ trọng, TGTT của các tổ chức kinh tế chiếm
một tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn huy động, cụ thể năm 2006 chiếm
43,03% tổng nguồn vốn huy động, năm 2007 là 44,92% và tăng lên 50,27% ở
năm 2008. Qua ba năm tiền gửi thanh toán đã tăng lên và chiếm tỷ trọng cao nhất
trong tổng nguồn vốn huy động. Tiền gửi thanh toán cũng là một thế mạnh của
ngân hàng cần khai thác do số lượng các doanh nghiệp giao dịch và gửi tiền ngày
càng tăng.
Trong những khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế thì tiền gửi
không kỳ hạn chiếm tỷ trọng cao hơn, năm 2006 tiền gửi thanh toán không kỳ
hạn chiếm 40,31%, năm 2007 tăng lên 41,51%, qua 2008 là 44,72% vì khách
hàng chủ yếu là các công ty, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, họ cần tiền để
xoay trở thường xuyên nên rút vốn liên tục, đó là lý do tại sao lãi suất tiền gửi
thanh toán không kỳ hạn thấp mà lại thu hút nhiều khách hàng đến gửi. Sự gia
tăng đáng kể của tiền gửi thanh toán không kỳ hạn còn do ngân hàng tiến hành áp
dụng đã cải tiến các dịch vụ của Ngân hàng thông qua nhiều kênh phân phối, bao
gồm mạng ATM, Phonebanking, mobilebanking, internetbanking…, phát huy
tính ưu việt cũng như tạo cho khách hàng sự thoải mái, nhanh chóng, chính xác
khi giao dịch với Ngân hàng. Riêng tiền gửi thanh toán có kỳ hạn tuy chỉ chiếm
tỷ trọng nhỏ (năm 2006 là 2,72%, 2007 là 3,42%, 2008 là 5,55%) nhưng đều tăng
qua các năm cũng góp phần làm tăng nguồn vốn huy động của chi nhánh.
+ Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm cũng chiếm tỷ trọng cao trong
tổng nguồn vốn huy động. Năm 2006, loại tiền gửi này huy động được 160.032
triệu đồng, chiếm 51,21% tổng vốn huy động. Sang năm 2007 tăng lên 209.507
triệu đồng nhưng chỉ chiếm 48,56%. Năm 2008 là 207.089 triệu đồng chiếm tỷ
trọng 41,48%. Về mặt cơ cấu, tiền gửi tiết kiệm giảm qua 3 năm nguyên nhân
chủ yếu trong sự thay đổi là sự tăng lên của tỷ trọng tiền gửi thanh toán. Trong

Sacombank Cần Thơ. Ngân hàng cung cấp tín dụng dung để bù đắp vốn tạm thời
thiếu hụt của các hộ sản xuất kinh doanh, đáp ứng vốn cho việc thành lập doanh
nghiệp mới, mở rộng qui mô sản xuất… đồng thời đáp ứng nhu cầu cho tiêu
dùng, sinh hoạt của cá nhân trên địa bàn.
4.2.1. Doanh số cho vay
* Doanh số cho vay theo thời hạn
www.kinhtehoc.net

33
Bảng 10: Doanh số cho vay theo thời hạn
Chỉ tiêu
2006 2007
2008
2007/2006 2008/2007
Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền
Tỷ lệ
(%)
Số tiền
Tỷ lệ
(%)
Doanh số
cho vay
589.454 100 736.392 100 821.352 100 146.938 24,93 84.960 11,54
Ngắn hạn
352.729 59,84 480.829 65,30 553.210 67,35 128.100 36,32 72.381 15,05
Trung và dài
hạn

tín dụng sẽ nhanh hơn, khả năng xoay vòng vốn cao và rất an toàn cho hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Trong năm 2006 doanh số cho vay ngắn hạn là
352.729 triệu đồng, năm 2007 là 480.829 triệu đồng tăng hơn so với 2006 là
128.100 triệu đồng tức là 36,32%, qua năm 2008 là 553.210 triệu đồng tăng
trưởng 15,05% so với 2007. Trong năm đầu gia nhập WTO hoạt động sản xuất
kinh doanh có nhiều thuận lợi, hoạt động xuất nhập khẩu được đẩy mạnh. Bên
cạnh đó, điều kiện kinh tế của địa bàn thành phố Cần Thơ và khách hàng mục
tiêu của ngân hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần vốn để sản xuất nông
nghiệp, chăn nuôi, hoặc phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, luân chuyển
hàng hóa thích hợp cho vay ngắn hạn. Ngân hàng còn phát triển hình thức tín
dụng góp chợ đặc trưng phù hợp với điều kiện kinh tế Cần Thơ góp phần làm
tăng trưởng tín dụng ngắn hạn nói riêng và doanh số cho vay nói chung. Qua năm
2008 tăng trưởng kinh tế phát triển chậm lại do tác động suy thoái của nền kinh
tế thế giới làm giảm khả năng vay vốn của các doanh nghiệp, hoạt động xuất
khẩu cũng gặp nhiều khó khăn, điều đó giải thích tại sao tăng trưởng tín dụng
ngắn hạn năm 2008 chỉ đạt 15,05% giảm 21,27% so với 2007.
Còn doanh số cho vay trung và dài hạn năm 2006 là 236.725 triệu đồng, năm
2007 là 255.563 triệu đồng tăng 18.838 triệu đồng tức là tăng 7,96% so với 2006,
2008 là 268.142 triệu đồng tăng 12.579 triệu đồng hay 4,92% so với 2007. Để
hạn chế lạm phát và tăng giá, NHNN Việt Nam đã nâng mức dự trữ bắt buộc và
thắt chặt cho vay chứng khoán và bất động sản nên tốc độ tăng trưởng doanh số
cho vay trung và dài hạn của ngân hàng năm 2007 giảm 3,04% so với 2007.
Thêm vào đó là sự xuất hiện của nhiều TCTD khác trên địa bàn TPCT, thị phần
trên địa bàn thành phố cũng như khách hàng vay vốn cũng sẽ bị chia nhỏ ra bởi
các TCTD này. Doanh số cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng cũng bị ảnh
hưởng bởi nhân tố này nên tăng trưởng chậm là điều dễ hiểu. Trong năm 2008
tuy tình hình kinh tế khó khăn nhưng với những nổ lực của các cán bộ tín dụng
và toàn thể ban lãnh đạo của Sacombank Cần Thơ thì ngân hàng vẫn giữ được
mức tăng trưởng tín dụng ổn định đảm bảo mục tiêu an toàn – hiệu quả đã đề ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status