VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ DẠ THẢO
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
TỪ THỰC TIỄN TẠI CAO BĂNG
Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. LÊ VĂN LONG
Hà Nội -2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung nghiên cứu trình bày trong luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật hành chính với đề tài “Tổ chức
và hoạt động trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tại Cao Bằng” là cơng trình nghiên
cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS. Lê Văn Long. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được cơng bố trong bất cứ cơng trình nào.
Cao Bằng, ngày .... tháng 8 năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
KẾT LUẬN .................................................................................................... 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 66
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐPHLN
Hội đồng phối hợp liên ngành
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Hình 2.1
Tỷ lệ người được trợ giúp pháp lý tại Cao Bằng năm 2019…
Bảng 2.2
Số vụ việc phân theo tổ chức trợ giúp pháp lý thực hiện tại
Cao Bằng từ năm 2015 – 2019 ……………….…….………
Bảng 2.3
với lịch sử lập pháp Việt Nam nhưng cho đến nay, công tác trợ giúp pháp lý đã
đạt được nhiều kết quả, khẳng định được vị trí và vai trị của mình trong giúp
đỡ về mặt pháp luật cho đơng đảo người nghèo, người có cơng với cách mạng,
đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng khác, góp phần phát huy vai trò của
pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân, ổn định
chính trị, trật tự, an tồn xã hội.
Sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Cao Bằng, nơi tập trung nhiều dân tộc
thiểu số khác nhau, phần lớn người dân có đời sống cịn nhiều khó khăn vất vả,
hiểu biết pháp luật cịn hạn chế, tồn tại tình trạng bất bình đẳng khi tham gia
vào các quan hệ pháp luật, nhu cầu về trợ giúp pháp lý là rất lớn trong khi hoạt
động trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua tuy đã đạt được nhiều
thành tích đáng kể nhưng cịn bộc lộ những khó khăn, bất cập nhất định, chưa
đáp ứng được kỳ vọng của xã hội. Các hạn chế, bất cập có thể kể đến như phạm
vi, nội dung hoạt động trợ giúp pháp lý cịn chưa được quy định cụ thể, trình tự,
thủ tục trợ giúp pháp lý còn rườm rà, chưa tinh gọn, chưa đi sâu vào hiệu quả mà
còn mang nặng tính hình thức; khả năng tiếp cận với hoạt động trợ giúp pháp lý
1
của người dân còn chưa dễ dàng, nhận thức của người dân về hoạt động trợ giúp
pháp lý còn chưa cao, nhiều cơ quan nhà nước, cũng như người dân còn coi nhẹ
hoạt động này. Hơn nữa, từ năm 2010 các nguồn hỗ trợ từ các Dự án bị cắt giảm
nên tại các địa phương, hoạt động trợ giúp pháp lý gặp rất nhiều khó khăn, nhất
là đối với các hình thức trợ giúp pháp lý lưu động, tập huấn truyền thông, sinh
hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý,… Để nâng cao hiệu quả tổ chức, hoạt động
trợ giúp pháp lý và nhận thức cho người dân tại địa phương trong thời gian tới
thì rất cần có một cơng trình nghiên cứu mang tính tổng thể, đầy đủ về tổ chức
và hoạt động của trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Do đó, tác giả đã
chọn vấn đề “Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tại Cao
Bằng” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
tỉnh Ninh Thuận từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động trợ giúp pháp lý, giúp các đối tượng được trợ giúp pháp lý thụ
hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Việt Khoa về “Hoạt động trợ giúp
pháp lý theo pháp luật Việt Nam hiện hành” (năm 2019) luận án đã nhận diện
những vấn đề pháp lý và thực tiễn đang đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp
lý ở Việt Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền
con người, chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước ta và tiến trình cải cách tư
pháp ở Việt Nam hiện nay (năm 2019).
* Nhóm các cơng trình nghiên cứu là các đề tài khoa học, bài viết khoa
học trên tạp chí chuyên ngành:
- Đề tài "Mơ hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng
thực hiện trong điều kiện hiện nay" (năm 1999), do Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm đề tài: Ts. Tạ Thị Minh Lý.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Luận cứ khoa học và thực tiễn sửa
đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý(2015), do Viện nghiên cứu khoa học Pháp
lý (Bộ Tư pháp) và Cục Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư Pháp) thực hiện.
3
- Một số bài báo khoa học: Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, của tác giả Hằng Vân, Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật (số chuyên đề tháng 1/2013); Xã hội hóa hoạt động
trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách của tác giả Lê Quang
Kiêm, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (số chuyên đề tháng 11/2010); Cần hoàn
thiện thể chế và các giải pháp để hoạt động trợ giúp pháp lý phát triển bền vững
của tác giả Nguyễn Vinh, Tạp chí dân chủ và Pháp luật (số chuyên đề tháng
11/2010); Định hướng phát triển bền vững công tác trợ giúp pháp lý đến năm
2020 của tác giả Đỗ Xuân Lân, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (số chuyên đề
tháng 3/2012)….
Hai là,thu thập, phân tích các kế hoạch, báo cáo tổng kết về công tác về
công tác trợ giúp pháp lý tại Cao Bằng và tiến hành xử lý số liệu.
Ba là, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ở tỉnh
Cao Bằng trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 để từ đó xác định được
những hạn chế, tồn tại trong hoạt động này và chỉ rõ nguyên nhân của những
hạn chế, tồn tại đó;
Bốn là, đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm tăng cường hiệu quả thực
hiện hoạt động trợ giúp pháp lý ở tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về thực tiễn tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý tại
Cao Bằng.
5
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý.
Về không gian nghiên cứu: Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
Về thời gian nghiên cứu: luận văn nghiên cứu thực tiễn thực hiện hoạt
động trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn 5 năm từ năm
2015 đến năm 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lê
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật; quan điểm, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề bảo đảm quyền con
người, quyền công dân.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận nêu trên luận văn có sử dụng các phương pháp:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được chia thành 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận, pháp lý về trợ giúp pháp lý.
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ở tỉnhCao
Bằng.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp
lý ở tỉnh Cao Bằng.
7
Chương 1
NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝVỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
1.1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của trợ giúp pháp lý
1.1.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý
Hoạt động trợ giúp pháp lý xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử các nước
trên thế giới. Nó được coi là một loại hoạt động phúc lợi xã hội được khởi
nguồn từ nước Anh, nguồn gốc từ quyền có luật sư bảo vệ và quyền được xét
xử công bằng được thừa nhận đầu tiên ở Châu Âu, Vương Quốc Anh và Hoa
Kỳ. Cho đến nay, các nước trên thế giới triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý
ở các mức độ và mơ hình khác nhau. Chế định về trợ giúp pháp lý theo đó cũng
được tiếp cận dưới nhiều góc độ như kinh tế, pháp lý và góc độ nhân đạo lấy
sự yếu thế, bần cùng hoặc bất bình đẳng của nhóm đối tượng có hồn cảnh đặc
biệt làm căn cứ cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của mình.
Về mặt kinh tế, trợ giúp pháp lý được hiểu là trách nhiệm của nhà nước
bảo đảm nguồn tài chính chi trả cho các dịch vụ pháp lý cho một đối tượng nhất
định nhằm đảm bảo khả năng tiếp cận công lý và công bằng xã hội. Đặc điểm
này có thể được xem là một trong những căn cứ để phân định hoạt động trợ
giúp pháp lý với hoạt động thiện nguyện tuy cũng thực hiện cung cấp dịch vụ
pháp lý miễn phí và có chung mục đích góp phần bảo đảm quyền tiếp cận cơng
đời sống pháp luật, tạo tiền đề chính trị và nhận thức cho sự ra đời và phát triển
của hoạt độngtrợ giúp pháp lý.
Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được sử dụng chính thức trong Quyết định
734/TTG ngày 6/9/1997 của Thủ tướng chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ
giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách[49]. Tuy nhiên, phải đến
khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 được ban hành, thì chế định trợ giúp pháp
lý mới được đề cập một cách chính thức, rõ ràng trong một văn bản luật. Khái
niệm “Trợ giúp pháp lý” được định nghĩa cụ thể tại Điều 3 của Luật: “Trợ giúp
pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp
lý theo quy định của Luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền,
9
lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và
chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ
cơng lý, bảo đảm cơng bằng xã hội, phịng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm
pháp luật” [56].
Thực tiễn khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách
hiểu khác nhau về khái niệm “trợ giúp pháp lý”. Qua nghiên cứu, tác giả có thể
chỉ ra hai quan điểm khác nhau khi xác định khái niệm “trợ giúp pháp lý” như
sau:
Theo nghĩa rộng, “Trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch
vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được
hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định thơng
qua hình thức như tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ
việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi
cơng dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện cơng bằng xã
hội”[46].
Theo nghĩa hẹp, “Trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch
vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước cho người
mơ hình luật sư cơng, nghĩa là Nhà nước thực hiện hoàn toàn và Nhà nước cũng
khơng hỗ trợ kinh phí cho các tổ chức xã hội tham gia trợ giúp pháp lý (như
Philippine, Argentina…); Mơ hình Nhà nước và xã hội thực hiện, đây là mơ
hình hỗn hợp, theo đó Nhà nước thành lập, tổ chức thực hiện và có sự tham gia
của các tổ chức khác như luật sư, tổ chức xã hội (như Hà Lan, Hàn Quốc,
Singgapore…); Mơ hình luật sư tư và xã hội thực hiện, trong đó Nhà nước
khơng có hệ thống các cơ quan trợ giúp pháp lý mà chỉ thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước về trợ giúp pháp lý, việc thực hiện các vụ việc trợ giúp pháp
lý cụ thể được giao cho các tổ chức xã hội (Indonesia, Hungary…).
Có thể thấy mơ hình hỗn hợp giúp phát huy được các ưu điểm và khắc
phục những nhược điểm của hai mơ hình cịn lại, Việt Nam nằm trong nhóm
các nước vận hành tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý theo mơ hình hỗn hợp.
11
Với những nội dung quản lý Nhà nước được quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý
năm 2006 và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, các cơ quan quản lý Nhà nước đã
dần hồn thiện các thể chế, chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý, điều chỉnh
tương đối toàn diện các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động trợ giúp pháp
lý. Tổ chức, bộ máy của Trung tâm trợ giúp pháp lý tiếp tục được củng cố, kiện
toàn, nhiều tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đã đăng ký tham
gia trợ giúp pháp lý, đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý có sự phát triển cả
về số lượng và chất lượng so với giai đoạn trước, điều kiện cơ sở vật chất, kinh
phí hoạt động được đảm bảo.
- Nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý
Nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý là những quy định cơ bản, xuyên
suốt giữ vai trò chủ đạo trong suốt quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý mà các
chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý phải tuân theo khi thực hiện trợ giúp pháp lý.
Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
Theo đó hoạt động trợ giúp pháp lý dựa trên các nguyên tắc:
Căn cứ khái niệm và đối tượng điều chỉnh của Luật Trợ giúp pháp lý có
thể rút ra bản chất, đặc điểm của trợ giúp pháp lý, trên cơ sở đó sẽ là cơ sở để
phân biệt hoạt động trợ giúp pháp lý với các hoạt động từ thiện hoặc các dịch
vụ pháp lý khác.
Thứ nhất, trợ giúp pháp lý hướng tới giúp đỡ về mặt pháp lý cho người
được trợ giúp pháp lý.Có thể thấy đối với mối quốc gia thì pháp luật là một
cơng cụ hữu hiệu để công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy
nhiên, khơng phải lúc nào và ở đâu người dân cũng biết và thực hiện đầy đủ
những quyền và nghĩa vụ đó. Đặc biệt với các đối tượng là những người nghèo,
đối tượng chính sách - người bị thiệt thòi về kinh tế, tinh thần và thể chất trong
xã hội thì trình độ hiểu biết pháp luật rất hạn chế nên việc tiếp cận, vận dụng
pháp luật để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ theo đó cũng bị hạn chế.
Hoạt động trợ giúp pháp lý ra đời với sứ mệnh cao cả và nhân đạo của Nhà
13
nước nhằm mục đích giúp đỡ về mặt pháp lý cho họ để họ có cơ hội để biết,
thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
So với hoạt động trợ giúp pháp lý của đa số các nước trên thế giới chỉ
hướng đến người nghèo thì ở nước ta cịn có đối tượng đặc thù là người có cơng
với cách mạng vì dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh oanh liệt
để bảo vệ tổ quốc và giành độc lập cho dân tộc. Đã có nhiều người hy sinh tính
mạng, cống hiến về tài sản, sức khoẻ, tuổi thanh xuân của mình, người thân của
mình cho sự nghiệp cách mạng dân tộc, nên nhân dân ta coi họ là những người
có cơng với nước, và phải có trách nhiệm giúp đỡ họ mọi mặt, trong đó có việc
tiếp cận pháp luật được thể hiện đầy đủ trong chính sách trợ giúp pháp lý từ khi
hình thành cho đến nay. Đây chính là truyền thống “uống nước nhớ nguồn” một đạo lý truyền thống quí báu của dân tộc Việt Nam.
Thứ hai, trợ giúp pháp lý mang đặc điểm nhân đạo sâu sắc.Các hoạt động
của trợ giúp pháp lý đều hướng đến sự giúp đỡ miễn phí về pháp luật và nâng
người “nghèo về pháp luật” nên Nhà nước có yêu cầu chặt chẽ chủ thể thực
hiện trợ giúp pháp lý. Theo đó những người trợ giúp pháp lý phải là những
người có trình độ, về kinh nghiệm, về kiến thức pháp luật và đặc biệt là sự quản
lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Tùy thuộc vào sự thay đổi của các
điều kiện kinh tế,xã hội, chính trị thì mỗi giai đoạn, mỗi thời điểm có thể có sự
thay đổi yêu cầu về các tiêu chuẩn của người thực hiện trợ giúp pháp lý sao cho
có thể đáp ứng yêu cầu về chất lượng trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp
pháp lý.
Thứ sáu, đặc điểm về lĩnh vực trợ giúp pháp lý.Hoạt động trợ giúp pháp
lý được thực hiện đối với tất cả các vụ việc có liên quan đến quyền và lợi ích
hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý trong hầu hết các lĩnh vực pháp luật,
trừ các vụ việc có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Quy định
này cũng phản ánh bản chất của hoạt động trợ giúp pháp lý là giúp đỡ những
người có khó khăn về tài chính hoặc là người yếu thế trong quan hệ dân sự.
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của trợ giúp pháp lý
15
Thứ nhất, trợ giúp pháp lý góp phần hồn thiện nhà nước pháp quyền
XHCN và bảo đảm quyền con người.Một trong những đặc trưng của Nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ quyền
con người, quyền cơng dân, trong đó có việc quan tâm đến người nghèo, những
đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế khác trong xã hội bằng các chính sách
pháp luật và các biện pháp hỗ trợ. Có như vậy, mới phản ánh đúng đắn và đầy
đủ bản chất Nhà nước của Nhân dân,do Nhân dân và vì Nhân dân, mới bảo đảm
quyền con người, quyền công dân, tạo lập cơng bằng, bình đẳng trên thực tế
giữa các chủ thể.
Thứ hai, trợ giúp pháp lý góp phần trong cơng tác xóa đói giảm nghèo và
chính sách an sinh xã hội. Để mục tiêu xóa đói giảm nghèo tồn diện, bền vững
và bảo đảm các chính sách an sinh xã hội trên thực tế, đặt ra yêu cầu trợ giúp
khó khăn);
- Nhóm được bổ sung (02 diện) mới gồm: Người bị buộc tội từ đủ 16
tuổi đến dưới 18 tuổi (đây là nhóm người mà cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ
định người bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự) và Người bị
buộc tội thuộc hộ cận nghèo. Hiện nay, điều kiện có khó khăn về tài chính của
người được trợ giúp pháp lý được quy định tại Điều 2 Nghị định 144/NĐ-CP
ngày 15/12/2017 đó là “người thuộc hộ cận nghèo hoặc là người đang hưởng
trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định của pháp luật”.
Từ quy định về người được trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý
năm 2017 cho thấy, các hoạt động trợ giúp pháp lý đã tập trung theo chiều sâu,
đến từng đối tượng thụ hưởng chính sách của Nhà nước. Quy định về diện đối
tượng được trợ giúp pháp lý đã thể hiện rất rõ chính sách nhân văn, sự quan tâm
của Đảng và Nhà nước đối với các đối tượng chính sách và người nghèo, người
có hồn cảnh khó khăn trong xã hội. Điều này đặt ra cho những người thực hiện
trợ giúp pháp lý phải đổi mới trong cách tư duy để tiếp nhận và thụ lý hồ sơ trợ
giúp pháp lý. Đảm bảo khơng bỏ sót u cầu trợ giúp pháp lý và nâng cao chất
lượng vụ việc trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý.
17
1.2.2. Nội dung trợ giúp pháp lý
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện trợ giúp pháp lý cho người
được trợ giúp pháp lý đang cư trú tại địa phương, vụ việc trợ giúp pháp lý xảy
ra tại địa phương, vụ việc trợ giúp pháp lý do cơ quan có thẩm quyền về trợ
giúp pháp lý ở Trung ương yêu cầu. Nội dung trợ giúp pháp lý được Nhà nước
cung cấp dịch vụ miễn phí là các lĩnh vực pháp luật trừ lĩnh vực kinh doanh,
thương mại, bao gồm:
- Pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự;
- Pháp luật dân sự, tố tụng dân sự và thi hành án dân sự; - Pháp luật hơn
nhân gia đình và pháp luật về trẻ em;
dẫn, đưa ra ý kiến, soạn thảo văn bản giúp các bên hòa giải, thương lượng,
thống nhất hướng giải quyết vụ việc. Về địa điểm tư vấn pháp luật có thể tư
vấn tại trụ sở và tư vấn ngoài trụ sở. Về kết quả, nếu như trước đây có thể tư
vấn trả lời bằng miệng với những vụ việc pháp lý đơn giản, nhưng tại Khoản
2, Điều 32 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có quy định rõ “người thực hiện
trợ giúp pháp lý có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời bằng văn bản cho người
được trợ giúp pháp lý”. Kết quả tư vấn được thể hiện dưới hình thức phiếu
thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc văn bản tư vấn pháp luật do người thực hiện
trợ giúp pháp lý soạn thảo, ký tên và gửi cho người được trợ giúp pháp lý và
chịu trách nhiệm về nội dung tư vấn của mình [46]. Từ khi thực hiện chính
sách trợ giúp pháp lý cho đến nay, hình thức tư vấn pháp luật có thể nói là
được áp dụng cơ bản và mang lại nhiều kết quả cho hoạt động trợ giúp pháp
lý.
Qua các buổi tư vấn tại cơ sở một phần giúp cho người dân biết đến tổ
chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý, phần khác giúp họ hiểu biết về quyền
và nghĩa vụ của mình, phá bỏ sự e ngại khi tham gia trợ giúp pháp lý, kích thích
người dân chủ động, tích cực và tin tưởng vào chủ thể thực hiện trợ giúp pháp
lý, chính sách ưu việt của Nhà nước dành cho những người có hồn cảnh đặc
biệt trong xã hội.
19
- Trợ giúp pháp lý thơng qua hình thức đại diện ngoài tố tụng: Người thực
hiện đại diện ngoài tố tụng trong hoạt động trợ giúp pháp lý là trợ giúp viên pháp
lý và Luật sư sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý. Thông qua Quyết
định cử đại diện cho người được trợ giúp pháp lý trước cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Phạm vi đại diện chỉ trong yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý
và phải tuân thủ các quy định của pháp luật, sử dụng các biện pháp phù hợp với
quy định của pháp luật để thực hiện đại diện cho đối tượng trước các cơ quan, tổ