THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở XÍ NGHIỆP 22
CÔNG TY 22 TCHC - BQP
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÍ NGHIỆP 22
1. Quá trình hình thành và phát triển
Xí nghiệp 22 nằm trên quốc lộ 5 thuộc địa phận thị trấn Sài Đồng, huyện Gia
Lâm, thành phố Hà Nội, là một xí nghiệp chế biến thực phẩm thuộc ngành hậu cần
quân đội, được ra đời ngày 22 /12 /1970 do yêu cầu phục vụ chiến đấu trong sự
nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.
Trong những ngày đầu thành lập Xí nghiệp có tên là ” Xưởng chế biến thực
phẩm 22 ” gọi tắt là Xưởng 22, đặt dưới sự chỉ đạo và chỉ huy trực tiếp của Tổng
kho 205 - Tổng cục hậu cần. Với nhiệm vụ trọng tâm là sản xuất các sản phẩm khô
/ sơ chế : Lương khô, cơm sấy, thịt ướp, mắm cô hành quân K50, bột cháo, nước
quả ép… để cung cấp cho bộ đội ở khắp các chiến trường.
Bước sang năm 1973 sau khi hiệp định Paris được kí kết quân đội Mĩ rút hoàn
toàn ra khỏi Miền nam Việt nam, theo quyết định số 375 từ nay Tổng kho 205
không trực tiếp quản lý Xưởng 22 nữa mà Xưởng sẽ trở thành một đơn vị sản xuất
độc lập có tên là ” Xí nghiệp chế biến thực phẩm 22 ” được gọi tắt là Xí nghiệp 22
do Cục quân nhu trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy.
Đến năm 1980, Cục quân nhu được tách ra làm hai cục: Cục quân lương và Cục
quân trang. Xí nghiệp 22 được Cục quân lương trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy.
Bước sang năm 1987, khi tình hình biên giới có phần dịu đi, bộ đội làm nghĩa
vụ quốc tế cũng lần lượt trở về tổ quốc thì đó cũng là lúc số lượng và cơ cấu hàng
quốc phòng giảm mạnh. Đây là hiện tượng bình thường đối với một xí nghiệp quốc
phòng khi đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình song đây là giai đoạn rất
khó khăn đối với Xí nghiệp. Đồng thời đây cũng là năm đầu tiên thực hiện Nghị
quyết Đại hội VI của Đảng về đường lối đổi mới tư duy kinh tế. Được sự đồng ý
của Lãnh đạo tổng cục, ngoài những mặt hàng thuộc diện trên giao, cấp trên cho
phép Xí nghiệp được bán một số sản phẩm ra thị trường, được tự do tham gia liên
doanh, liên kết hoặc nhận gia công cho một số đơn vị kinh tế khác có nhu cầu. Như
vậy từ đây, sản phẩm của Xí nghiệp sẽ gồm 2 loại:
Thứ nhất : Sản phẩm quốc phòng được sản xuất theo kế hoạch năm / kế hoạch
nghiệp 22
Mô hình tổ chức quản lý của Xí nghiệp 22
Giám đốc
PGĐ Chính trị
PGD KD - KT
P. T i chínhàP. H nh chínhà P. Kinh doanh
P. Kĩ Thuật
Nh à ăn caTổ bảo vệ
Phân xưởng DV Phân xưởng 2 PX cơ điện
Phân xưởng 1
Giám đốc : là người lãnh đạo cao nhất, trực tiếp điều hành toàn bộ hoạt động
sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp, là người vạch ra kế hoạch năm và kế hoạch dài
hạn trên cơ sở định hướng / chiến lược kinh doanh do Công ty đề ra. Giám đốc là
người có quyền quyết định cuối cùng và cũng là người đại diện cho mọi quyền lợi
và trách nhiệm của Xí nghiệp trước Công ty, trước pháp luật của Nhà nước và các
qui định của Bộ quốc phòng.
Phó giám đốc chính trị : Là người trực tiếp chỉ đạo các hoạt động liên quan đến
công tác Đảng, công tác chính trị, là người bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của Xí nghiệp theo đúng pháp luật của Nhà nước và các qui định của Bộ
quốc phòng. Đồng thời Phó giám đốc chính trị cũng là người kiêm nhiệm tham
mưu cho Giám đốc công tác lao động tiền lương và các vấn đề liên quan đến chế
độ chính sách cho người lao động.
Phó giám đốc kinh doanh kĩ thuật : Là người tham mưu cho Giám đốc xây
dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn / dài hạn, là người phụ trách và
chỉ đạo công tác tạo nguồn, mua sắm vật tư và thiết bị, điều độ sản xuất, dự trữ sản
phẩm… Đồng thời cũng là người chịu trách nhiệm về công tác kĩ thuật của Xí
nghiệp trong việc triển khai phổ biến công nghệ và qui trình kĩ thuật cho cán bộ
công nhân viên, kiểm tra chỉ đạo công tác đánh giá chất lượng nguyên, nhiên, vật
liệu đầu vào và chất lượng sản phẩm đầu ra, công bố định mức kinh tế kĩ thuật…
Phòng tài chính : Là nơi thực hiện công tác hạch toán kế toán toàn Xí nghiệp
điện lưới quốc gia, sản xuất nước phụ vụ cho sản xuất, tham gia sửa chữa, bảo
dưỡng, lắp đặt máy móc thiết bị khi cần thiết…
3. Điều kiện kinh doanh của Xí nghiệp
* Cơ sở vật chất kĩ thuật
Hơn 30 năm xây dựng và trưởng thành có quá nửa thời gian Xí nghiệp đã dành
toàn bộ năng lực sản xuất của mình cho nhiệm vụ sản xuất các sản phẩm phục vụ
sức chiến đấu của bộ đội ở khắp các chiến trường. Vì thế cho đến nay, cơ sở vật
chất của Xí nghiệp vẫn còn tồn tại những máy móc, dây truyền thiết bị sản xuất và
phục vụ sản xuất có từ những ngày đầu thành lập nên thông số kĩ thuật không còn
bảo đảm nữa. Chính vì vậy, sản phẩm sản xuất ra có kiểu dáng chưa đẹp, độ đồng
đều chưa cao, chất lượng không ổn định.
Là một doanh nghiệp sản xuất nên máy móc, dây truyền thiết bị, công nghệ sản
xuất và phục vụ sản xuất có tầm quan trọng đặc biệt, nó quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của Xí nghiệp khi tham gia kinh doanh trên thương trường. Nhận thức
được sâu sắc điều này, trong thời gian qua được sự đồng ý của Lãnh đạo Tổng cục
và Giám đốc Công ty Xí nghiệp đã mạnh dạn đầu tư mua mới một số dây truyền
thiết bị và xây dựng mới / sửa chữa / nâng cấp cơ sở hạ tầng như : Nhà xưởng, nhà
kho, hệ thống thông gió, đường sá… Năm 1993, Xí nghiệp đầu tư mua mới một
dây truyền sản xuất kẹo của Trung quốc, năm 1996 Xí nghiệp đầu tư một dây
truyền sản xuất bánh bích qui của Italy, công nghệ sản xuất của Anh, năm 1998
cùng một lúc Xí nghiệp đầu tư hai dây truyền một dây truyền sản xuất bột canh và
dây truyền sản xuất bia hơi đều do trong nước sản xuất. Nhờ đó đến nay sản phẩm
do Xí nghiệp sản xuất ra đã phong phú và đa dạng hơn, năng suất và chất lượng
được nâng cao phần nào đã thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng.
Do yêu cầu đổi mới và tăng trưởng thường xuyên nên trong thời gian tới Xí
nghiệp đã có kế hoạch mua thêm một dây truyền sản xuất bánh bích qui nữa của
các nước EU, nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các loại hình sản phẩm để
thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng một cách tốt nhất.
* Lao động
Theo Kenichi Ohmae, trong ba yếu tố cơ bản : con người, vốn liếng và tài sản
2000
2001
387
430
456
220
252
270
226
227
227
161
203
229
30
62
55
866.520
1.084.555
1.205.150
Nguồn:Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh năm 1999, 2000, 2001.
Qua biểu trên có thể nhận thấy:
Qui mô lao động có xu hướng tăng dần qua các năm, năm 2000 tăng so với
năm 1999 là 43 người (430 - 387) tức là tăng 11,11% và năm 2001 tăng so với năm
2000 là 26 người (6,05%), điều này cho thấy qui mô sản xuất của doanh nghiệp
không ngừng được mở rộng. Trong lực lượng lao động của Xí nghiệp do tính chất
đặc thù của sản phẩm, đòi hỏi phải có sự khéo léo kiên trì của phụ nữ nên lao động
nữ chiếm một tỉ lệ cao hơn so với nam giới. Năm 1999 lao động nữ chiếm 56,85%,
năm 2000 chiếm 58,60% và năm 2001 là 59,21%, có nghĩa trong thời gian qua lực
lượng lao động nữ được Xí nghiệp tuyển dụng nhiều hơn so với nam giới.
tới.
II.THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở XÍ NGHIỆP 22
1. Đặc điểm về sản phẩm của Xí nghiệp
Xí nghiệp 22 là một doanh nghiệp vừa tồn tại với tư cách là một xí nghiệp quốc
phòng, vừa tồn tại với tư cách là một doanh nghiệp Nhà nước. Nên sản phẩm do Xí
nghiệp sản xuất ra gồm hai loại chính:
Thứ nhất : Sản phẩm quốc phòng bao gồm Lương khô bay, lương khô BB
794… được sản xuất theo kế hoạch năm / kế hoạch dài hạn của Bộ quốc phòng.
Đối với nhóm sản phẩm này, Xí nghiệp được tự do khai thác nguồn cung ứng
nguyên nhiên vật liệu đầu vào cho sản xuất, nhưng lại có sẵn nơi tiêu thụ cho sản
phẩm đầu ra. Vì thế sản phẩm sản xuất ra đến đâu đều tiêu thụ hết đến đó.
Thứ hai : Sản phẩm kinh tế bao gồm Bánh bơ xốp hộp các loại, bột canh, kẹo,
bánh trung thu… được sản xuất theo nhu cầu của thị trường. Đây là nhóm sản
phẩm mà Xí nghiệp phải tự mình vận động để tìm kiếm nguồn cung ứng yếu tố vật
chất đầu vào cũng như thị trường để tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Vì vậy, công tác
tiêu thụ sản phẩm đối với sản phẩm ở nhóm hai hoàn toàn khác so với nhóm một,
nó đòi hỏi phải có sự nỗ lực cố gắng của toàn thể cán bộ công nhân viên trong việc
hướng tới thực hiện mục tiêu thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng thông qua đó
doanh nghiệp sẽ tìm kiếm lợi nhuận. Dưới đây sẽ là những qui cách và chủng loại
của một số sản phẩm chính do Xí nghiệp 22 sản xuất ra.
Qua bảng 3, ta nhận thấy cơ cấu mặt hàng quốc phòng chiếm một tỉ lệ nhỏ so
với tổng số lượng mặt hàng mà Xí nghiệp sản xuất ra. Sở dĩ có hiện tượng này là
do đất nước đã chuyển từ thời chiến sang thời bình đã lâu, tình hình chính trị xã hội
tương đối ổn định nên cơ cấu hàng quốc phòng giảm mạnh là điều có thể giải thích
được.
Biểu 3 : Qui cách và chủng loại của một số sản phẩm chính
Tên sản phẩm Trọnglượng
1gói (g)
1 Thùng
Số gói Trọng lượng
II. Lương khô
1.Lương khô quân nhu
500
300
300
200
200
400
150
300
300
400
450
400
250
300
180
200
30
20
30
50
50
24
48
30
30
24
24
24
50
50
50
10
10
10
10
Nguồn:Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh 1999, 2000, 2001.
Quan sát bảng trên ta có thể nhận thấy sản phẩm của Xí nghiệp được chia ra
làm ba loại:
Thứ nhất: Bánh bích qui các loại, đây là nhóm sản phẩm được Xí nghiệp sản
xuất quanh năm có khối lượng tiêu thụ và sản xuất là lớn nhất. Trong đó phải kể
đến hai mặt hàng Hương thảo 300g và Hương thảo 500g, đây là hai mặt hàng có
nhu cầu rất lớn nhưng công suất máy không theo kịp với nhu cầu nên sản phẩm sản
xuất ra đến đâu đều tiêu thụ hết đến đó, chính vì thế đây là hai sản phẩm bán chạy
nhất Xí nghiệp. Còn các loại bánh khác mặc dù có chất lượng cao, kiểu dáng khá
đẹp, lại được bao gói trong các hộp giấy / sắt… rất độc đáo nhưng khối lượng sản
xuất và tiêu thụ chưa cao bởi vì phần lớn các sản phẩm này đều là các sản phẩm
mới đưa ra thị trường song giá cả lại tương đối cao, phải chịu sự cạnh tranh khốc
liệt của các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo trong nước : Kinh đô, Vinabico, Hải
châu, Hữu nghị…cũng như những sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài.
Thứ hai : Lương khô các loại, đây cũng là nhóm sản phẩm được Xí nghiệp sản
xuất quanh năm, có khối lượng tiêu thụ đứng thứ hai. Mặc dù lương khô được coi
là sản phẩm truyền thống của Xí nghiệp được sản xuất từ những ngày đầu thành
lập, nhưng vài năm trở lại đây nó mới được phép bán ra thị trường nên khối lượng
sản xuất và tiêu thụ chưa xứng với tiềm năng. Đến nay, Xí nghiệp đã đưa ra thị
trường được 5 loại lương khô, các phong lương khô được đóng theo thỏi có trọng
lượng 200g / phong.