ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤTNÔNG NGHIỆP TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2006 -2010 - Pdf 71

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN SẢN
XUẤTNÔNG NGHIỆP TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2006 -2010
I/NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN
1.Thuận lợi
-Nhà nước đã tập trung ưu tiên các nguồn thu để đầu tư trở lại cho nông
nghiệp -nông thôn đó là thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuỷ lợi phí, thuế tài
nguyên...
-Nhiều chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn đã được ban hành và
thực hiện có hiệu quả trong thời gian qua được nông dân trong tỉnh đồng tình cao
tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đề ra.
-Những thành tựu về phát triển kinh tế và nông thôn, đã tạo ra những điều
kiện ban đầu rất quan trọng về cơ sở vật chất, về vốn, về nguồn nhân lực với kiến
thức và kinh nghiệm phong phú.
-Vốn đầu tư cho nông nghiệp đã được ưu tiên hơn những năm trước và
được giao ngay từ đầu năm kế hoạch.
-Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho nông nghiệp nông thôn được đầu tư
từ những năm trước đây đang tích cực phát huy tác dụng.
-Thời tiết, khí hậu nhìn chung tương đối thuận hoà phù hợp với từng mùa
vụ và cây trồng.
-Kinh tế đối ngoại trong nông nghiệp có cơ hội để phát triển nếu những
lợi thế về sinh thái, về lao động... được phát huy.
Trong giai đoạn 2006 -2010 và những năm tiếp theo nước ta đang hội
nhập với nền kinh tế thế giới, trước hết là ASEAN, nên có điều kiện thuận lợi để
tranh thủ sự giúp đỡ và học tập kinh nghiệm của các nước trong việc lựa chọn,
xác định con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trước hết là nông nghiệp -
nông thôn.
2.Khó khăn thách thức
-Điểm xuất phát thấp lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt,
công nghệ thiết bị lạc hậu, vốn của Nhà nước và của dân còn hạn hẹp, trình độ
quản lý còn yếu.
-Lực lượng lao động trong nông thôn đang dư thừa và ngày càng tăng gây

-Tập trung ưu tiên đầu tư để đẩy nhanh CNH -HĐH nông nghiệp nông
thôn, từng bước xây dựng nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn. Quy
hoạch, chuyển đổi đồng ruộng theo hướng tích tụ ruộng đất thành vùng thửa lớn
chủ động đảm bảo an toàn lương thực trong mọi tình huống. Mạnh dạn chuyển
đổi cơ cấu cây trồng theo hướng đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến,
cho xuất khẩu và tăng giá trị sử dụng đất. Đẩy mạnh chăn nuôi, đưa chăn nuôi
từng bước trở thành ngành sản xuất chính đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong tỉnh
và tăng xuất khẩu. Phát triển nhanh cây công nghiệp ngắn và dài ngày, hình thành
các vùng cây công nghiệp có quy mô và diện tích đảm bảo nguyên liệu cho công
nghiệp chế biến.
-Chuyển đổi mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, đưa nhanh
tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất nông nghiệp. Từng bước cơ khí hoá các
khâu làm đất, thu hoạch, chế biến, nhằm giảm nhẹ sức lao động đồng thời tăng
hiệu quả kinh tế. Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong
nông nghiệp. Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn đáp ứng sản xuất và sinh hoạt
của nhân dân. giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư, thực hiện xoá
đói giảm nghèo, từng bước nâng cao mức sống nông dân.
Với mục tiêu: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 8 -9%, GDP
bình quân đầu người năm 2010 đạt 400-500 USD tăng gấp 1,4 -1,5 lần so với
năm 2004 (đạt mức 80 -84% so với mức bình quân GDP của cả nước). Để có
được kết quả trên thì tốc độ tăng giá trị sản xuất hàng năm của ngành sản xuất
nông nghiệp là 4,5 -5,5% trong đó tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp là 33
-35%.
Sản lượng lương thực có hạt đạt 88 -90 vạn tấn; mía 120 -130 vạn tấn; lạc
50 -55 ngàn tấn...
Hướng bố trí sản xuất chủ yếu
1.1.Trồng trọt
So với năm 2004, diện tích gieo trồng năm 2005 tăng 31.067 ha, trong đó
cây hàng năm tăng 10.429 ha và cây lâu năm tăng 20.638 ha. Trong cơ cấu cây
hàng năm, cây lương thực giảm 11.429 ha (chủ yếu tăng diện tích lạc, vừng,

tập trung 20-22 ngàn ha, trong đó vùng Phủ Quỳ 14-15 ngàn ha, vùng Sông Con
5,5 ngàn ha, vùng Anh Sơn-Con Cuông 1,5 ngàn ha. Sản lượng mía đạt 1,25-1,32
triệu tấn mía.
-Cây công nghiệp dài ngày:
+Cây chè: Phấn đấu đến năm 2005 có 10.000 ha chủ yếu trồng tập trung ở
Thanh Chương, Anh Sơn, diện tích kinh doanh đế năm 2005 đạt 6500 ha, năng
suất tươi đạt 60-70 tạ/ha, sản lượng chè búp khô 8000 tấn, tham gia xuất khẩu
6000-7000 tấn. Chú ý phát triển giống chè tuyết chất lượng cao ở Kỳ Sơn, Quế
Phong.
+Cây cà phê chè: Trồng mới 4.215 ha để cuối năm 2005 có 7000 ha,
trong đó diện tích cà phê kinh doanh 3.300 ha, năng suất cà phê nhân 14 tạ/ha,
sản lượng cà phê nhân 5200 tấn.
+Cây Cao su: Hiện có 3.170 ha, trong đó kinh doanh 470 ha. Tập trung
đầu tư chăm sóc diện tích cao su KTCB (Trồng theo chương trình 327/CP trong
vài năm đầu của kỳ kế hoạch. Thanh lý xong diện tích cao su già cỗi (trên 35
năm). Năm 2005 ổn định ở mức 4.000 ha (trồng thêm khoảng 1.000 ha, chủ yếu ở
Quế Phong, Quỳ Châu), sản lượng cao su mủ khô hàng năm đạt 2000-2200 tấn.
+Cây ăn quả các loại: Quy hoạch các vùng cây ăn quả tập trung gắn với
cải tạo vườn tạp, phát triển vườn đồi trang trại trồng cây ăn quả: Cây cam; ưu tiên
đầu tư phát triển vườn cam ở Tân Kỳ, Nghĩa Đàn (đảm bảo diện tích 5000 ha);
phục tráng giống cam Xã Đoài (chuyển đổi đất ruộng bố trí 500 ha cam Xã Đoài,
500 ha cam Vinh, Nghi Lộc). Sản lượng cam chanh 30-35 ngàn tấn. Khuyến
khích các loại cây ăn quả khác như chuối, hồng, chanh...Tổng diện tích cây ăn
quả đạt 15.000 ha. Phát triển dưa chuột, dứa, chuối gắn với đầu tư các cơ sở bảo
quản chế biến.
1.2.Chăn nuôi
Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi để từng bước trở thành ngành sản xuất
chính, phấn đấu để tỷ trọng thu nhập từ chăn nuôi chiếm 35-36% so với tổng giá
trị sản xuất nông nghiệp vào năm 2005. Muốn vậy, cần điều chuyển chăn nuôi từ
tự cung tự cấp, chăn nuôi tận dụng, chăn nuôi kiêm dụng sang chăn nuôi chuyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status