Danh mục các từ viết tắt:
+Bộ NN-PTNT:Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
+Bộ KH&ĐT:Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
+TDMNBB:Trung du Miền núi Bắc Bộ
+BTB:Bắc Trung Bộ
+DHNTB:Duyên hải Nam Trung Bộ
+TN:Tây Nguyên
+ĐNB:Đông Nam Bộ
+ĐBSCL:Đồng bằng Sông Cửu Long.
+TMN:Tấn mía/ngày.
+DT:Diện tích
+NS:Năng suất
+SL:Sản lượng
+USD/T:USD/Tấn
+NMĐ:Nhà máy đường.
+NHTM và QHTPT:Ngân hàng Thương mại và Quỹ Hỗ trợ phát triển.
+CSTK:Công suất Thiết kế.
1
Lời mở đầu
Ta biết rằng,nước ta vẫn đang là 1 nước Nông nghiệp,đang trong quá trình Hiện đại và
Công nghiệp hóa.Mặt khác,với những yếu tố điều kiện tự nhiên thuận lợi,rất phù hợp đối
với phát triển Nông nghiệp.Vì vậy,Nông nghiệp vẫn là 1 nghành cần được ưu tiên đầu tư
từ trước đến nay.
Với những điều kiện tự nhiên thuận lợi ở nước ta,nghành Mía đường là 1 trong những
nghành có thuận lợi để phát triển và ưu tiên đầu tư hàng đầu.Đầu tư vào Mía đường,thứ
nhất để đáp ứng trước mắt nhu cầu tiêu thụ đường trong nước đang dẫn được nâng cao
theo điều kiện mức sống của người dân ngày càng được nâng lên.Thứ hai là để phục vụ
cho xuất khẩu đường ra thế giới thu hút thêm lợi nhuận cho Quốc gia.
Tuy nhiên trên thực tế thì nghành Mía đường vẫn còn 1 số thực trang và tồn tại cần
đáng lưu tâm,ảnh hưởng đến phát triển của nghành Mía đường nói riêng và của cả nền
3
Chương I:
Thực trạng hoạt động Đầu tư phát triển nghành mía đường ở Việt
Nam trong thời gian qua
I.Vài nét chung về nghành mía đường ở Việt Nam
1.Về sản xuất mía của Việt Nam
1.1.Về điều kiện khí hậu
Ta biết cây mía là cây trồng nhiệt đới,phát triển tốt trong phạm vi từ 35° vĩ tuyến Bắc
đến 35° vĩ tuyến Nam.Cây mía là cây không kén đất,có thể trồng được trên nhiều loại
đất từ cất đến sét nặng.Mía sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ từ 21°C-35°C,thời kì
mía chín nhiệt độ thấp từ 14°C-25°C là thích hợp nhất để tích lũy đường trong thân.Cây
mía thích ứng rất rộng từ vùng khô có lượng mưa từ 800-900mm/năm đến những vùng
mưa nhiều từ 2000-3000 mm/năm.Tuy nhiên,mía là một cây ưa nắng,thông thường
khoảng thời gian nắng từ 2400 giờ trở lên trong 1 năm mới đut để cây mía phát triển hết
tiềm năng cuả nó.
Việt Nam nằm ở vị trí từ 8°-23° vĩ tuyến Bắc nên hoàn toàn thích hợp cho cây mía
sinh trưởng và phát triển.Theo đánh giá của các chuyên gia thì “Việt Nam có điều kiện
nông nghiệp trên mức trung bình thế giới nếu đảm bảo đủ tưới” để phát triển mía
cây.Căn cứ vào 4 yếu tố khí hậu chính ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây
mía là:nhiệt độ,thời gian nắng,biên độ nhiệt và lượng mưa hàng năm,có thể xác định như
sau:
-Các vùng thuận lợi nhất để phát triển cây mía ở Việt Nam là Duyên hải Nam Trung
Bộ(DHNTB),Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ;
-Các vùng có tiềm năng để phát triển cây mía là Thanh Hóa-Nghệ An,Đồng bằng Sông
Cửu Long(ĐBSCL)
-Các vùng có tiềm năng hạn chế là Đồng Bằng Sông Hồng(ĐBSH),Hà Tĩnh-Quảng
Bình-Thừa Thiên Huế,trung du và miền núi phía Bắc.
Điều kiện khí hậu cũng quyết định đến tiềm năng thời gian vụ ép và lượng đường
mía.Các vùng như Duyên hải Nam Trung Bộ,Tây Nguyên,Đông Nam Bộ,ĐBSCL,Thanh
4
5
Trong 5 năm thực hiện Chương trình 1 triệu tấn đường,diện tích và năng suất mía trên cả
nước đã có tốc độ tăng vọt.Nếu như năm 1994,cả nước chỉ có xấp xỉ 170 nghìn ha thì
đến niên vụ mía năm 1999/2000,diện tích mía của cả nước lên tới 344,2 nghìn ha,tăng
bình quan 15,2%/năm.Năng suất mía bình quân cả nước đạt 51,6 tấn/ha vào năm cuối
cùng của Chương trình mía đương,tăng đáng kể với mức xấp xỉ 45 tấn/ha của năm 1994.
Nhờ tăng trưởng nhanh cả về năng suất và diện tích,sản lượng mía cây tăng đột biến
đạt 17,8 triệu tấn vào niên vụ 1999/2000,gấp 2,4 lần sản lượng cao nhất trước khi có
chương trình mía đượng.Tốc độ tăng sản lượng bình quân đạt 18,8 %/năm,thấp hơn đôi
chút so với bông(19,7%/năm),nhưng cao hơn nhiều so với lạc(1,6 %) và đậu
tương(3,1%).So với các cây công nghiệp lâu năm,tốc độ tăng sản lượng mía cây cũng
chỉ thấp hơn so với cà phê(22%),nhưng cao hơn nhiếu so với cây cao su(10,8%) và
chè(9%).
Tuy nhiên,sự tăng trưởng này là không bền vưng.Trong ba niên vụ mía sau khi kết thúc
Chương trình mía đương,diện tích trồng mía giảm xuồng 300 nghìn ha trong năm
2000/2001,tiếp tục giảm xuông 291 nghìn ha trong niên vụ 2001/2002 và chỉ tăng đôi
chút lên 315 nghìn ha trong vụ 2002/03.Năng suất mía cây cũng có xu hướng chững lại
trong 3 niên vụ vừa qua,chỉ đạt 49,8 tấn/ha vào năm 2000,49,2 tần/ha trong năm 2001 và
49,8 tấn/ha trong niên vụ 2004/2005.Trong trong các vùng nguyên liệu được quy hoạch
và chăm sóc tốt hơn của các nhà máy chế biến đương,năng suất mía bình quân vẫn còn
rất thấp.Niên vụ 2002/2003,năng suất mía trong vùng quy hoạch của Công ti mía đường
Lam Sơn đạt mức cao nhất cả nước là 60 tấn/ha.Phần lớn vùng mía quy họch của các
nhà máy đường như Bình Thuân,Trị An,Quảng Nam,Quảng Bình có năng suất mía bằng
và mía 40 tấn/ha.
Do diện tích trồng mía giảm và năng suất mía có dấu hiệu chững lại,tổng sản lượng
mía cây của cả nước đã giảm mạnh xuống xấp xỉ 15 triệu tấn năm 2000/2001,còn 14,3
triệu tấn niên vụ 2003/2004 và tăng lên 15,7 triệu tấn trong niên vụ 2004/2005.
Năm 2006,diện tích mía của cả nước ước đạt 266 nghìn ha,năng suất đạt 55,3
tấn/ha,sản lượng khoảng 14,7 triệu tấn.So với năm 2001,dienẹ tích chỉ bằng 88%,sản
lượng đạt khoảng 98%,năng suất tăng 11%.Diện tích và sản lượng đạt cao nhất năm
hệ thống tiêu nước.
-Chân ruộng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long.
7
Tính đến năm 2002,diện tích trồng mía chủ yếu là đất đồi và đất ruông.Diện tích đất đồi
chiếm 46%,diện tích đất ruộng chiếm 44%.
Quy hoạch và đặc điểm đất trồng ở các vùng cũng rất khác nhau.Đất đồi dốc thường là
vùng mới canh tác và được khai khoang,cày bừa theo đường cong,chia thành từng cấp và
có hệ thống tiêu.Chân ruộng lúa đã được canh tác không theo quy hoạch,đặc biệt là
thường không có hệ thống tiêu nước.
Bảng 1.1.Phân loại đất trồng mía vùng nguyên liệu các NMĐ
I.Năm 2003-2004
1.Đất ruộng 8512 12.5 11817 14.5 101553 81.7 121882 44.27
2.Đất đồi 44150 66.3 64466 79.1 15040 12.1 126057 45.79
3.Đất bãi 14428 21.2 5216 6.4 7707 6.2 27361 9.94
Tổng cộng 68100 100 81499 100 124300 100 275300 100
II.Dự kiến năm 2006
1.Đất ruộng 21440 18.59 13361 18.69 87568 85.06 113454 40.57
2.Đất đồi 65841 57.1 51597 72.19 9885 9.6 126638 45.29
3.Đất bãi 28020 24.3 6515 9.12 5500 5.34 39535 14.14
Tổng cộng 115301 100 71473 100 102953 100 279627 100
Nguồn:Niên giám thống kê và Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp
Về giống,ngoài các loại giống cũ trong nước thì Việt Nam nhập 1 số giống mới từ một
số nước như Đài Loan,Trung Quốc,Cu Ba,Úc,Ấn Độ và Pháp.Trong những năm
qua,Việt Nam đã nhập nội và chọn lọc được hơn 10 giống có năng suất,có chữ đường
Loại đất
Miền Bắc Miến Trung và
Tây Nguyên
Miền Nam Cả nước
DT(ha) Tỷ
Ngãi,Hiệp Hòa,Bình Dương,La Ngà với các máy móc thiết bị tương đối hiện đai.Hầu hết
các nhà máy đường còn lại do doanh nghiệp Nhà nước thuộc các tỉnh quản lý chỉ có
công suất thiết dưới 500 TMN/nhà máy với công nghệ chế biến lạc hậu.
Do vùng nguyên liệu chưa đáp ứng đủ mía cho nhà máy,nên hầu hết các nhà máy chỉ
huy động công suất ép dưới 70%.Công suất ép của những nhà máy công suất nhỏ(dưới
1000 TMN) do địa phương quản lý rất thấp như Việt Trì,Vạn Điểm,Vĩnh Trụ chỉ đạt
dưới 30%.Nguyên nhân chủ yếu là do máy móc thiết bị đã quá cũ,lạc hậu,thiết bị thay
thế thiếu đồng bộ,không có vùng nguyên liệu ổn định,phải thu gom nguyên liệu ở xa.
9
b.Từ năm 1995.
Kể từ khi thực hiện chương trình mía đường vào năm 1995,số lượng các nhà máy chế
biến đường tăng lên một cách nhanh chóng.
Bảng 1.2 – Tình hình xây mới và mở rộng nhà máy đường.
Niên vụ Số nhà
máy mới
Số nhà máy
mở rộng
Tổng số nhà
máy
Tổng công
suất (TMN)
Công suất bình
quân (TMN\ nhà
máy)
1994/95 5 12 12.700 1.058
1995/96 2 14 15.200 1.068
1996\97 10 24 32.600 1.358
1997\98 11 35 51.800 1.480
1998/99 6 1 41 69.050 1.684
1999/00 2 1 43 74.050 1.722
thì tăng lên 252 nghìn tấn.Năm 2003 và 2004 là 2 năm tổng sản lượng đạt trên 1,2 triệu
tấn trong đó đường công nghiệp đạt trên 1 triệu tấn.So với chỉ tiêu kế hoạch 2001-2005
trình Đại hội Đảng IX,sản lượng đường thực hiện từng năm từ 2001-2004 đều đạt và
vượt kế hoạch(chỉ năm 2005,đạt 90% so với kế hoạch).Tính chung 5 năm,tổng sản lượng
đường tăng 1,8%,riêng đường công nghiệp tăng 5,9% so với mục tiêu kế hoạch.
Về cơ cấu sản phẩm,các nhà máy đường công nghiệp chủ yếu sản xuất đường kính
trắng(RS) chiếm 80-85%,đường luyện (RE) chiếm từ 15-20%.Chất lượng các loại này
ngày càng đáp ứng theo tiêu chuẩn Việt Nam,được thị trường chấp nhận hơn trước rất
nhiều.
Về các nghành công nghiệp sử dụng phế phẩm phụ liệu của sản xuất đương,đã có một
số nhà máy triển khai như chế biến banh kẹo,cồn,rượu,phân vi sinh,ván ép từ bã mía,…
và rất nhiều nhà máy có nhu cầu phát triển,nhưng thời gian qua do khó khăn về vốn nên
bị chậm lại.
Bảng 1.3. Sản xuất mía đường theo vùng năm 2005 như sau:
Đơn vị:DT:1000ha;NS:tấn/ha;SL:1000 tấn;Công suất:Tấn mía/ngày;
Tổng
số
Tr.Du
&MB
ĐB
SHồng
Bắc
Tr.Bộ
Nam
Tr.Bộ
Tây
Nguyên
ĐNBộ ĐBS
CLong
Tổng DT mía 265.7 21.9 2.49 53.7 51.8 26.5 45.5 64
tấn,tăng 59 nghìn tấn hay 5,8% so với niên vụ trước đó.Trong đó,đường công nghiệp đạt
773 nghìn tấn,chiếm khoảng 72%,đường thủ công đạt 300 nghìn tấn,chiếm 28% tổng sản
lượng cả nước.Trong niên vụ 2004/05,tổng sản lượng đường cả nước ước tính đạt được
1,4 triệu tấn,trong đó đường công nghiệp chiếm tới 87%.
3.Thị trường tiêu thụ đường.
3.1.Thị trường nội địa.
Ta biết,nhu cầu tiêu thụ đường của một quốc gia thường chụi tác động của một số nhân
tố chính như độ co giãn của cầu theo mức thu nhập;tốc độ gia tăng dân số;giá đường và
các sản phẩm thay thế đường;truyền thống văn hóa và năng lực tụ cung cấp đường,v.v…
12
+Độ co giãn của cầu theo thu nhập: Theo thống kế,ở các quốc gia đang phát triển,tăng
thu nhập dẫn đến tăng tiêu thụ đường.Trong khi đó,thu nhập và mức tiêu thụ đường ở
các quốc gia phát triển có quan hệ tỉ lệ nghịch do lo ngại về sức khỏe,chế độ ăn kiêng và
sự xuất hiện của các chất ngọt thay thế khác.Trong những năm gần đây,ngay tại khác
nước đang phát triển,ý thức tiêu dùng của người dân cũng đã thay đổi đáng kể cũng do
lo ngại về sức khỏe,đặc biệt là bệnh tiểu đường.Chính phủ Thái Lan cũng đã khuyến cáo
người dân không nên sử dụng quá nhiều đường vì có thể làm tăng nguy cơ mắc phải
bệnh tiểu đường.Ngay ở Việt Nam,vì nhiều lý do khác nhau,một số người mắc bệnh tiểu
đường cũng tăng nhanh chống và do đó một số ít người tiêu dùng ở các thành phố lớn
cũng bắt đầu lo ngại về việc sử dụng quá nhiều đường có thể gây hại cho sức khỏe.
+Mức tăng dân số:Tốc độ tăng dân số thường là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng
đến lượng tiêu thụ ở các quốc gia đang phát triển.Tốc độ tăng dân số ở Việt Nam đã
giảm đáng kể trong những năm gần đây và đang có xu hướng giảm trong những năm
tới,mặc dù vậy,mưc tăng dân số cơ học vẫn cao trong nhiều thập kỷ tới.
+Giá đường và sản phẩm thay thế đường: Tác động của giá đường ăn đến mức tiêu thụ
được thể hiện qua độ co giãn của cầu théo giá.Hiện nay,nhiều nước trên thế giới có xu
hướng tăng sử dụng các chất ngọt thay thế đường như HFS hay saccharine trong các
nghành chế biến thực phẩm vì giá rẻ hơn nhiều so với đường.
+Truyền thống văn hóa và khả năng tự cung ứng đường:Tiêu thụ đường trực tiếp tại
các nước phát triển có xu thế giảm do thay đổi thói quen tiêu dùng.Trái lại,tiêu thụ
sau:Thị trường tiêu thụ trực tiếp và thị trường công nghiệp chế biến(tức thị trường tiêu
thụ gián tiếp).Hiện nay thì chưa có số liệu nào đáng tin cậy và chính xác về tầm quan
trọng của mỗi loại thị trường như thế nào.Theo điều tra của dự án do Cơ quan phát triển
Pháp tài trợ,trên khoảng 60% lượng đường được tiêu thụ trưc tiếp tại các hộ gia
đình,phần còn lại dưới 40% được tiêu thụ gián tiếp thông qua các sản phẩm chế biến.Tuy
nhiên,theo đánh giá của Hiệp hội mía đường,mức tiêu thụ của công nghiệp chế biến hiện
nay chiếm khoảng 60% trong khi tiêu thụ trực tiếp chỉ chiếm khoảng 40%.Như vậy,nếu
tình cả đường thủ công(chủ yếu được tiêu thụ trực tiếp),hai thị trường này có quy mô
tương đương nhau.Bên cạnh đó,trong những năm vừa qua,tốc độ tăng trưởng của thị
14
trường tiêu thụ gián tiếp cao hơn hẳn so với thi trường tiêu thụ trực tiếp và có xu hướng
này chắc sẽ tiếp tục kéo dài trong những năm tới.
.
3.1.1.Thị trường tiêu thụ đường gián tiếp.
Thị trường đường công nghiệp được phân chia rõ rệt làm 4 phần là:sữa&kem,bánh
kẹo,nước ngọt và các nghành công nghiệp chế biến khác như rau quả,rượu bia hay dược
phẩm.
Nhu cầu tiêu thụ đường của nghành công nghiệp nước ngọt hiện tăng rất mạnh và năng
động nhất trong thị trường công nghiệp,chiếm vị trí số 1 trong thị trường tiêu thụ đường
gián tiếp.Hiện nay,nghành công nghiệp nước ngọt tiêu thụ khoảng 31,3% tổng lường
đường sử dụng trong các nghanh công nghiệp chế biến.Thị trường này tăng trưởng chủ
yếu nhờ 2 công ty nước giải khát lớn là Coca và Pepsi(chiếm tới 90% tổng nhu cầu của
toàn nghành công nghiệp nước ngọt).Với điều kiện khí hậu thuận lợi và xu hướng thay
đổi tiêu dùng sang một số sản phẩm nước ngọt,Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng phát
triển mặt hàng này.
Trước đây,các sản phẩm như sữa và kem là nguồn tiêu thụ đường quan trong nhất. Đến
nay thì khu vực này chiếm khoảng 26,2% tổng nhu cầu đường công nghiệp,chỉ đứng thứ
2 sau nghành công nghiệp nước ngọt.Trong đó,Công ty Vinamilk đang dần trở thành đơn
vị tiêu thụ chính,chiếm khoảng 2/3 tổng nhu cầu của khu vực này,chủ yếu tiêu thụ đường
tinh luyện của công ty đường Biên Hoà.
125.000 12.500 -80.000 -60.000 - -50.600 -50.000 -48.000 -37.000
Nguồn:Báo cáo 5 năm chương trình mía đường,Bộ NN&PTNT.
3.1.2.Xu hướng biến động giá đường.
Trong những năm vừa qua,giá đường trong nước của Việt Nam luôn cao hơn nhiều so
với giá đường nhập khẩu tương đường,nhất là giá đường thế giới.Theo ước tính của các
chuyên giá CIE,FAO thì giá bán buôn đường trong nước Việt Nam bình quân cao hơn
giá nhập khẩu tương đương khoảng 56,5% trong giai đoạn từ 2000-2005.Như trong niên
vụ 2004/2005 thi giá bán của đuờng trong nước là khoảng 480USD/tấn,trong khi đó giá
đương nhập cảng tai Việt Nam là khoảng 280USD/tấn.
Tuy nhiên năm 2005,giá đường trong nước đã giảm đáng kể,chỉ cao hơn đôi chút so
với giá nhập khẩu tương đương tại cảng.Tại niên vụ 2005/2006 thi do sản xuất trong
nước tăng quá mạnh vượt xa nhu cầu tiêu thụ trong nước dẫn đến tình trạng ứ đọng sản
phẩm của các nhà máy chế biến đường và việc nhập khẩu đương lậu qua đường biên giới
đã buộc các nhà máy phải hạ giá bán để tiêu thụ sản phẩm.
Trong hai năm vừa qua giá đuờng thị trường trong nước tương đối ổn định, ở mức
thấp nên góp phần hạn chế tình hình nhập lậu đường qua đường biên giới.Riêng ở thời
điểm cuối năm 2005 mặc dù giá đường trong nước tăng lên tương đối cao so với các
nước nhưng giá đường thế giới cùng kỳ cũng ở mức cao;do vậy,hiện tượng nhập lậu
đường không còn diễn ra mạnh như trước đây. Đường nhập khẩu vào Việt Nam phụ
thuộc chủ yếu vào mức chênh lệch giữa giá đường trong nước và giá thế giới.Khi độ
chênh lệch giá chỉ còn khoảng 30% thì hầu như hiện tượng nhập lậu đường qua biên giới
cũng đã thực sự chấm dứt.
3.2.Thị trường đường thế giới.
Trong vòng 10 năm quá,tiêu thụ đường trên thế giới tăng tương đối ổn định ở mức
1,71% bình quân hàng năm.Nhu cầu tiêu thụ đường trong niên vụ 2004/2005 đạt xấp xỉ
148 triệu tấn,tăng khoảng 1,87% trong cùng giai đoạn.
18
Trong những năm qua,tình hình xuất khẩu đường của các nước có nhiều thay
đổi.Brazin có tốc độ tăng trưởng đường mạnh,nhất là trong giai đoạn từ 1999-00 đến
2004-05.Trong vòng 11 năm(1994-2005),xuất khẩu đường của Brazin tăng bình quân
21
Năm 2006,do thiên tai hạn hán và lũ lụt diễn ra trên diện rộng trên thế giới,đồng thời
giá xăng dầu cũng tăng cáo,mức sản xuất cồn nhiên liệu từ mía ở các nước sản xuất
đường lớn như Braxin,Úc,… được giữ nguyên và tăng lên,nên khó có khả năng tăng sản
lượng đường.CUng cơ bản đáp ứng với cầu và có phần bị thiếu hụt,vì vậy giá bán đường
trong năm 2006 có khả năng vẫn giữ được ở mức cao.Sang năm 2007 này,tình hình có
thể diễn biến khác nếu thời tiết thuận lợi cho sản xuất mía đương.
Như vậy,có thể thấy trong vài năm tới giá đường sẽ phục hồi,tiếp tục giữ ở mức cao,là
cơ hội để nghành đường thế giới,trong đó có Việt Nam sẽ phát triển ổn định.
4.Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển nghành mía đường.
4.1.Vùng nguyên liệu trồng mía.
Nói chung, vùng nguyên liệu quy mô nhỏ bé, phân tán, chưa được đầu tư tương xứng
với yêu cầu sản xuất công nghiệp. Đặc biệt là diện tích trồng mía bình quân cho mỗi hộ
nông dân quá thấp (0.3 – 0.5 ha/hộ). Một nhà máy đường phải quan hệ hợp đồng
với 20 – 30 ngàn hộ nông dân bán mía, bình quân mỗi hộ chỉ bán được từ 30-40
tấn mía/vụ; năng suất và chất lượng mía thấp; bình quân năng suất chỉ đạt khoảng
50 tấn/ha và dưới 10ccs (độ đường).
Xét cả về năng suất nông nghiệp và nâng suất công nghiệp chế biến, ngành mía
đường Việt Nam còn thấp, thua quá nhiều so với các ngành mía đường lớn của
khu vực và thế giới. Bình quân ở Việt Nam chỉ mới đạt 4-5 tấn đường/ha, trong
khi đó ở Thái Lan là 7-8 tấn/ha, ở Úc và Brazil là 9-12 tấn/h
4.2.Điều kiện thời tiết,khí hậu.
Ngành mía đường Việt Nam chịu tác động rủi ro rất lớn bởi thời
tiết hạn hán và bão lũ, các vùng nguyên liệu phần lớn nằm ở các vùng trung du và
miền núi, nông dân và nông thôn vốn là những vùng khó khăn, chưa được đầu tư
các công trình thuỷ lợi, giao thông…
4.3.Quan hệ cung cầu thị trường.
Ngành mía đường Việt Nam cũng đang chịu tác động lớn bởi quan hệ cung cầu và
giá đường của thị trường thế giới. Phần lớn trong số 60 quốc gia sản xuất đường
lớn trên thế giới đều có chính sách trợ giá đường nội tiêu thông qua thuế nhập
nhất,chỉ 7000 USD/TMN.Nhà máy Tate&Tyle tại Nghệ An sử dụng công nghệ tiến tiến
của Anh nên có suất đầu tư cao nhất,là 14.200 USD/TMN.Thông thường các nhà máy sử
dụng công nghệ hiện đại khác có suất đầu tư khoảng 12.000 USD/TMN.Trong chi phí
nàt có cả phần xây dựng cơ bản và thiết bị trong nước chiếm khoảng 40% tổng chi phí.
Với cùng 1 loạt công nghệ thiết bị,suất đầu tư cho 1 TMN cũng có sự khác nhau đáng
kể tùy theo quy mô của nhà máy.Với công nghệ tương đối hiện đại,chi phí đầu tư của 1
nhà máy có quy mô 1.000 TMN có thể lên tới 10 triệu USD.Trong khi đó,1 nhà máy có
quy mô 4.000 TMN,chi phí đầu tư chỉ khoảng 25 triệu USD.Như vậy,chi phí đầu tư cho
1 TMN của các nhà máy chỉ bằng khoảng 65% chi phí đầu tư cho 1 TMN của các nhà
máy có quy mô nhỏ.
Ngoài ra,có rất nhiều dự án nhà máy đường phải điều chỉnh nhiều lần, tăng đến 60,
thậm chí 100% tổng vốn đầu tư. Ví dụ, Nhà máy đường Phụng Hiệp, tăng từ 134,2 tỷ
đồng lên đến hơn 210,362 tỷ đồng; Nhà máy đường Linh Cảm tăng từ 98,4 tỷ lên đến
122,6 tỷ; Nhà máy đường Vị Thanh tăng từ 81,3 tỷ lên đến 173,6 tỷ; Nhà máy đường Trị
An tăng từ 97,3 tỷ đồng lên đến 161,1 tỷ đồng; Nhà máy đường Bến Tre từ 95,2 tỷ tăng
lên 157 tỷ đồng…
1.2.Về cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển mía đường.
24
Vốn đầu tư xây dựng các nhà máy đường là khá lớn bằng các nguồn vốn như: vay
nước ngoài nhập thiết bị trả chậm, vay tín dụng nước ngoài từ nguồn của Ngân hàng
phát triển châu Á (ADB), Quỹ Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), tín dụng đầu tư theo
kế hoạch Nhà nước, một số nhà máy bắt đầu đi vào hoạt động, đã đến kỳ trả nợ. Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh phải chịu trách nhiệm
chỉ đạo các nhà máy thuộc phạm vi quản lý của mình đề ra các biện pháp trả nợ, ưu tiên
trước hết trả nợ vốn vay nước ngoài nhập thiết bị trả chậm. Trên cơ sở phát triển vùng
nguyên liệu để phát huy tối đa công suất thiết kế, giữ giá mua nguyên liệu hợp lý, kinh
doanh tổng hợp, hạ nhanh giá thành sản phẩm, kinh doanh có lãi, để tự tạo ra nguồn thu
trả nợ.
Hiện nay, do đường sản xuất ra giá thành cao nên ứ đọng, tiêu thụ chậm và không xuất
khẩu được. Do vậy, không tiếp tục xây dựng thêm nhà máy mới và mở rộng nhà máy cũ.