Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua – Dự báo trong thời gian tới và đề xuất một số giải pháp - Pdf 64

LỜI MỞ ĐẦU
Lạm phát từ khi xuất hiện đến nay luôn là một trong những vấn đề được đề cập
đến rất nhiều trong mỗi nền kinh tế cũng như trong nền kinh tế toàn cầu. Là một trong
bốn đỉnh của “tứ giác mục tiêu”, việc kiềm chế lạm phát đóng vai trò quan trọng trong
chiến lược phát triển của mỗi quốc gia bởi nó tác động trực tiếp đến lợi ích của các cá
nhâ, tổ chức cũng như chính phủ.
Việt Nam sau khi thống nhất đất nước đã trải qua những thời kỳ “thăng trầm”
của lạm phát. Từ chỗ chưa được chính thức thừa nhận trong nền kinh tế những năm đầu
giải phóng đến cơn bão siêu lạm phát những năm 1986-1988 sau đó “im lặng” trong một
giai đoạn giảm phát, lạm phát lại bùng trở lại ở nước ta sau khi mở cửa nền kinh tế, gia
nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Năm 2007, một năm sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO, lạm phát
phi mã đánh dẫu sự trở lại bằng việc đưa chỉ số giá tiêu dùng lên 12,6%. Năm tháng đầu
năm 2008, chỉ số lạm phát đã vượt qua cả mục tiêu lạm phát cả năm do Quốc hội đề ra
và tỷ lệ lạm phát của cả năm ngoái. Dường như nền kinh tế đang tăng trưởng quá nóng
và không hấp thu được hết những cơ hội của nó. Bên cạnh đó là những bất cập trong hệ
thống tài chính tiền tệ cũng như sự thiếu đồng bộ trong các chính sách của Chính phủ đã
dẫn tới tình trạng lạm phát như hiện nay. Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu xác định
được đúng nguyên nhân lạm phát ở nước ta để có thể “kê đơn đúng bệnh” và đưa ra
những dự đoán trong thời gian tới nhằm chuẩn bị một cách tốt nhất cho nền kinh tế
trong giai đoạn mở cửa hơn nữa.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó và qua nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này trong
quá trình học tập cũng như trong thực tế, em đã quyết định chọn đề tài: “Tình hình lạm
phát ở Việt Nam trong thời gian qua – Dự báo trong thời gian tới và đề xuất một số giải
pháp” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Khóa luận được hình thành trên cơ sở xác định:
♦ Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về lạm phát
- Nghiên cứu thực trạng và những nguyên nhân dẫn đến lạm phát ở Việt Nam
trong thời gian gần đây. Nhìn nhận các giải pháp của chính phủ và rút ra những
1

TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT
I. Khái niệm
1. Định nghĩa lạm phát
Lạm phát là một khái niệm kinh tế đã xuất hiện từ lâu, gắn liền với sự ra đời và
phát triển của tiền tệ. Quá trình phát triển tiền tệ ghi nhận nhiều sự thay đổi trong cách
định nghĩa lạm phát, từ việc giảm hàm lượng kim loại so với giá trị danh nghĩa của tiền
khi mà tiền tệ còn tồn tại chế độ bản vị kim loại, cho đến khi xuất hiện các lý thuyết về
lạm phát và mỗi lý thuyết có một cách nhìn nhận và đánh giá riêng về hiện tương kinh tế
này.
Các nhà kinh tế học theo trường phái “lạm phát tiền tệ”, đại biểu tiêu biểu là
Keynes và Friedman cho rằng “lạm phát là hiện tượng tiền giấy thừa so với nhu cầu lưu
thông hàng hoá và dịch vụ”. Tiền giấy mất giá nên giá cả tăng lên, và “lạm phát ở bất kỳ
nơi nào luôn là một hiện tượng tiền tệ với nghĩa là, nó được và có thể được tạo ra chỉ
bằng cách tăng lượng tiền nhanh hơn so với tăng sản lượng”
Trường phái “lạm phát giá cả” hay quan điểm lạm phát của nhà kinh tế học nổi
tiếng Paul A. Samuelson và William D. Nordhaus cho rằng lạm phát là việc giá cả hàng
hoá tăng lên, không kể trong dài hạn hay ngắn hạn, mang tính đột xuất hay theo chu kì
[21].
Vậy lạm phát là gì? Có nhiều quan điểm khác nhau nhưng hầu hết các nhà kinh
tế học đều đưa ra một đặc điểm chung về lạm phát đó là “hiện tượng giá cả tăng nhanh,
liên tục và kéo dài làm cho tiền tệ mất giá so với hàng hóa và dịch vụ”
Lạm phát là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, còn
sản xuất hàng hóa và lưu thông tiền tệ thì còn lạm phát. Vấn đề chỉ là kiềm chế lạm phát
ở mức độ nào là hợp lý, bởi lạm phát ở mức hợp lý còn có tác dụng kích thích sản xuất
và tiêu dùng.
Bên cạnh khái niệm lạm phát, ta còn thường gặp khái niệm giảm phát và thiểu
phát, vậy đâu là sự khác nhau giữa hai hiện tượng này?
Giáo sư David N. Hyman cho rằng giảm phát là sự suy giảm mức giá chung của tổng
thể các hàng hoá và dịch vụ [18]. Còn hai nhà kinh tế học nổi tiếng P.A Samuelson và
3

chóng, có khi tới vài trăm phần trăm một tháng hay vài nghìn phần trăm mỗi năm. Siêu
lạm phát không thể kéo dài trong quá nhiều năm do tiền gần như mất hết giá trị, các
4
doanh nghiệp không thể hoạt động được và phá sản, người dân không dùng tiền trong
các giao dịch nữa và quốc gia gặp phải tình trạng này buộc phải cải tổ chính sách kinh tế
nước mình và tìm cách chấm dứt lạm phát.
3. Đo lường lạm phát
Để đánh giá được tác động của lạm phát đến nền kinh tế, từ đó đưa ra các chính
sách phù hợp trong từng giai đoạn lạm phát, ta cần phải đưa ra được công thức đo lường
chỉ số lạm phát. Tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy
mô và sự biến động của nó phản ánh quy mô và xu hướng của lạm phát.
Tỷ lệ lạm phát được tính như sau:
gp =
%1001 ×









p
n
I
I
Trong đó: gp là tỷ lệ lạm phát (%)
I
n

sử dụng giỏ hàng hoá cố định nên khi tính toán CPI có ba vấn đề chính dẫn đến hạn chế
của CPI sau đây:
Thứ nhất, CPI không phản ánh được độ lệch thay thế vì nó sử dụng giỏ hàng hoá
cố định. Khi giá cả một mặt hàng này tăng nhanh hơn so với các mặt hàng khác thì
người tiêu dùng sẽ có xu hướng ít tiêu dùng những mặt hàng đã trở nên quá đắt đỏ mà
tiêu dùng nhiều những hàng hoá đỡ đắt đỏ hơn. Yếu tố này làm CPI đã đánh giá cao hơn
thực tế mức giá. Ví dụ khi thịt gà trở nên mắc hơn do dịch cúm thì người tiêu dung sẽ
chuyển sang ăn cá biển với mục đích là cung cấp chất đạm cho cơ thể.
Thứ hai, CPI không phản ánh được sự xuất hiện của những hàng hoá mới vì nó
sử dụng giỏ hàng hoá cố định trong khi nếu có hàng hoá mới xuất hiện thì một đơn vị
tiền tệ có thể mua được các sản phẩm đa dạng hơn. Ví dụ ở TP.HCM khi mọi người đều
có điện thoại di động, giá của mặt hàng này đang giảm theo thời gian nhưng nó lại
không nằm trong rổ hàng hóa. CPI không phản ánh được sự gia tăng sức mua này của
đồng tiền nên vì thế lại đánh giá mức giá cao hơn thực tế.
Thứ ba, CPI không phản ánh được sự thay đổi của chất lượng hàng hoá vì nếu
mức giá của một hàng hoá cụ thể nào đó tăng nhưng chất lượng cũng tăng tương ứng
thậm chí tăng hơn thì trên thực tế mức giá không tăng. Chất lượng hàng hoá dịch vụ
nhìn chung đều có xu hướng được nâng cao nên CPI cũng đã phóng đại mức giá.
Ở nước ta hiện nay, việc tính toán CPI do TCTK đảm nhiệm. Quyền số để tính
CPI được xác định năm 2000 và bắt đầu áp dụng từ tháng 7 năm 2001. Quyền số này
dựa trên kết quả của hai cuộc điều tra là Điều tra mức sống dân cư Việt nam 1997-1998
và Điều tra kinh tế hộ gia đình năm 1999. Điều đáng chú ý là quyền số của nhóm hàng
LTTP chiếm tới 47,9% trong khi Văn hoá - Thể thao - Giải trí chỉ chiếm 3,8%.
Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng được TCTK rà soát 5 năm một lần để cập
nhật theo phương pháp luận quốc tế và thực tế của nước ta. Từ 1/05/2006, TCTK đã
quyết định cập nhật phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cho giai đoạn
2006-2010 tập trung vào 2 nội dung chính, bổ sung danh mục mặt hàng, dịch vụ tiêu
6
dùng sử dụng để điều tra giá cho phù hợp với thị trường tiêu dùng của người dân trong
giai đoạn hiện nay.

▪ Chỉ số giảm phát GDP, còn gọi là Chỉ số điều chỉnh GDP (D
GDP
-GDP deflator) là chỉ
số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ sản
xuất trong nước. Chỉ số điều chỉnh GDP cho biết một đơn vị GDP điển hình của kỳ
nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêu phần trăm so với mức giá của năm cơ sở. (Số
liệu thống kê của Việt nam công bố đang tính GDP theo giá của năm 1994). Người ta
tính chỉ số giảm phát GDP theo công thức sau:
Chỉ số giảm phát GDP = 100 x
GDP danh nghĩa
GDP thực tế
Khác với CPI, D
GDP
được tính trên giỏ hàng hoá thay đổi do vậy nó phản ánh
được sự thay thế giữa các hàng hoá, dịch vụ với nhau. Mặc dù vậy nó lại không phản
ánh được sự giảm sút phúc lợi của người tiêu dùng trong trường hợp phải tiêu dùng ít
hơn một loại hàng nào đó. Ví dụ: do sau dịch cúm gà, giá gà trở nên quá đắt so với giá
thịt lợn nên người tiêu dùng sẽ mua ít thịt gà hơn và mua nhiều thịt lợn hơn. Phúc lợi
của người tiêu dùng đã giảm xuống do họ phải tiêu dùng thịt gà ít hơn nhưng D
GDP
không phản ánh được điều này cho dù nó phản ánh được sự thay thế giữa thịt gà và thịt
lợn.CPI chỉ phản ánh mức giá của hàng tiêu dùng còn D
GDP
phản ánh giá của cả hàng
hoá do doanh nghiệp, chính phủ mua. Vì thế D
GDP
được coi là phản ánh đúng hơn mức
giá chung.D
GDP
chỉ phản ánh mức giá của những hàng hoá sản xuất trong nước (vì GDP

1
và mức giá tăng nhanh từ P
0
đến P
1
. Tổng cầu tăng liên tục
làm cho đường tổng cầu liên tiếp dịch chuyển về phía bên phải và mức giá không ngừng
tăng lên, tức là xảy ra lạm phát cầu kéo.
Khi đường cầu dịch chuyển đến AD
1
, nền kinh tế ở trạng thái vượt quá trạng sản
lượng tiềm năng và toàn dụng nhân công, người lao động gây áp lực tăng lương làm cho
tổng cung giảm, đường tổng cung AS
0
dịch chuyển về bên trái tới vị trí AS
1
. Mức giá
tăng tiếp từ P
1
đến P
2
, nền kinh tế lại chuyển về trạng thái đạt mức sản lượng tiềm năng
và toàn dụng nhân công. Cứ như thế, sau khi đường tổng cầu dịch chuyển về bên phải
thì đường tổng cung lại dịch chuyển về bên trái kéo theo mức giá tăng liên tục.
9
Q
*
Q
,
AD

Ban đầu đường tổng cầu là AD
0
, đường tổng cung là AS
0
. Khi chi phí đầu vào
tăng (ví dụ giá dầu lửa tăng), các hãng giảm mức cung hàng hoá, dịch vụ và đường tổng
cung dịch chuyển sang tới vị trí AS
1
, sản lượng giảm xuống còn Q’, đẩy mức giá tăng từ
P
0
lên P
1
. Hiện tượng mức giá tăng liên tục, đồng thời sản lượng (hay GDP thực tế) suy
giảm được gọi tình trạng lạm phát đình trệ hay đình lạm (stagflation); kèm theo đó là
thất nghiệp gia tăng.
3. Lạm phát dự kiến (Anticipated inflation)
Trong nền kinh tế tiền tệ, trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, lạm phát vừa
phải có xu hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó. Giá cả trong trường hợp này tăng đều
đều với một tỷ lệ tương đối ổn định. Tỷ lệ lạm phát này được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ
(inertial inflation) và vì mọi người đã có thế dự tính trước mức độ của nó nên gọi là lạm
phát dự kiến.
Mọi hoạt động kinh tế sẽ trông đợi và ngắm vào nó để tính toán điều chỉnh (ví dụ
điều chỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, giá cả trong các hợp đồng kinh tế,
các khoản chi, tiêu ngân sách…)
10
P
(Mức giá)
Q
(Sản lượng)


P

AS
2
AS
1
AD
2
AD
1
AD
0
Y
**
Y
Mô hình dưới đây cho ta thấy lạm phát dự kiến xảy ra như thế nào. Đó là đường
AD và AS dịch chuyển lên trên cùng một tốc độ. Vì lạm phát đã được dự kiến nên chi
phí sản xuất (kể cả tiền lương) và cả nhu cầu chi tiêu cũng được điều chỉnh cho phù hợp
với tốc độ lạm phát. Như vậy sản lượng vẫn giữ nguyên nhưng giá cả đã tăng lên theo
dự kiến.
Hình 3: Lạm phát dự kiến

E
2

E
1
AS
0

vượt quá tốc độ tăng trưởng thực sẽ dẫn đến lạm phát. Chính sách tiền tệ mở
rộng sẽ kích thích tổng cầu hang hóa dịch vụ trong nền kinh tế, khi tốc độ tăng
trưởng tổng cầu cao hơn tốc độ tăng trưởng tổng cung, thì cũng dẫn đến lạm
phát.
- Lạm phát đẻ ra lạm phát: khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính duy lý
sẽ cho rằng tới đây giá cả hàng hóa sẽ còn tăng, nên đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại.
Tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung, gây ra lạm phát.
III. Mối quan hệ giữa lạm phát với tiền tệ, lãi suất và thất nghiệp
1. Mối quan hệ giữa lạm phát và tiền tệ
Khi nghiên cứu về lý thuyết tiền tệ, ta đã biết dạng thức MS = Md (i, Y) khi thị
trường tiền tệ cân bằng. Xét trong dài hạn, lãi suất thực tế (i) sản lượng thực tế (Y) đạt
mức cân bằng nghĩa là ổn định (Y đạt tiềm năng), cầu tiền thực tế là không đổi và do
vậy MS cũng sẽ không thay đổi. Điều đó có nghĩa là nếu lượng cung tiền danh nghĩa
(M) tăng lên thì giá cả (P) cũng tăng với tỷ lệ tương ứng, nói cách khác tỷ lệ lạm phát sẽ
bằng tỷ lệ tăng tiền. Như vậy, lạm phát là một hiện tượng tiền tệ. Điều này xảy ra trong
thực tế khi nền kinh tế gặp phải cơn sốc (ví dụ giá đầu vào tăng lên) làm cho lượng tiền
thực tế nhất thời giảm xuống. Chính phủ cần phải tăng mức cung tiền danh nghĩa để
đảm bảo nhu cầu thực tế. Nhưng vì sản lượng và việc làm không đổi, lãi suất thực tế
cũng không đổi, chỉ có mức cung tiền danh nghĩa, giá cả cũng như tiền lương danh
nghĩa tăng lên. Lý thuyết này dựa trên giả định mức cầu tiền thực tế không đổi, một giả
định chưa có cơ sở chắc chắn và chưa phù hợp với thực tế. Kết quả nghiên cứu trong
thời kỳ dài hạn (30 năm) ở các nước phát triển đã chỉ ra rằng sự thay đổi của lãi suất và
thu nhập đã dẫn đến cầu tiền thực tế thay đổi. Vì vậy tốc độ tăng tiền danh nghĩa và tốc
12
độ lạm phát rất khác nhau giữa các nước. Tốc độ tăng tiền ở Mỹ là thấp nhất trong các
nước phát triển nhưng tốc độ lạm phát còn cao hơn một số nước. Tốc độ tăng tiền của
Nhật Bản gấp đôi của Pháp nhưng tốc độ lạm phát lại thấp hơn của Pháp.
Tuy nhiên lịch sử lạm phát cũng chỉ ra rằng không có cuộc lạm phát cao nào mà
không có sự tăng trưởng mạnh mẽ về tiền tệ. Lượng tiền tăng càng nhanh thì lạm phát
càng cao và bất kỳ một chính sách vĩ mô nào giảm được tốc độ tăng tiền cũng dẫn đến

3.1. Trong ngắn hạn
Đường cong Phillip trong ngắn hạn cho thấy mối quan hệ giữa lạm phát và thất
nghiệp khi tỷ lệ lạm phát dự kiến của nền kinh tế ở một mức nhất định. Đến đây, cần
nói qua về khái niệm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Đó là tỷ lệ thất nghiệp khi thị trường lao
động ở trạng thái cân bằng. Số người thất nghiệp lúc đó bằng tổng số người thất nghiệp
tự nguyện. Trong ngắn hạn, quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp là tỷ lệ nghịch, tức là
có thể đánh đổi lạm phát cao để lấy thất nghiệp thấp. Nếu lạm phát tăng cao hơn tỷ lệ
lạm phát dự kiến (ei) thì thất nghiệp sẽ giảm xuống thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
(U
N
) và ngược lại. Đường Phillip ngắn hạn sẽ dịch chuyển khi một trong hai yếu tố tỷ lệ
lạm phát dự kiến hoặc tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên thay đổi. Khi tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
tăng từ U
N
đến U
N1
thì đường Phillip mới là là đường (P
1
). Trong trường hợp tỷ lệ lạm
phát dự kiến giảm xuống ei’, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên không đổi thì đường Phillip dịch
chuyển sang (P') (xem hình 4).
Đường Phillip ngắn hạn chỉ thể hiện sự đánh đổi giữa thất nghiệp và lạm phát khi
có các cơn sốt cầu (cầu tăng dẫn đến giá tăng cao, sản xuất tăng và thất nghiệp giảm);
còn khi xuất hiện các cơn sốt cung, chi phí sản xuất tăng, sản xuất bị thu hẹp làm cho
giá cả tăng và thất nghiệp cũng tăng.
14
Tỷ lệ lạm phát
Hình 4: Đường Phillip ngắn hạn và dài hạn
U
N

Lạm phát do cầu: thì sản lượng có thể tăng nhưng tăng bao nhiêu, tăng nhiều ít
như thế nào lại còn phụ thuộc vào độ dốc của đường tổng cung. Khi sản lượng cân bằng
ở dưới mức sản lượng tiềm năng, dịch chuyển của đường tổng cầu sẽ làm cho sản lượng
gia tăng lên. Nhưng khi mức sản lượng cân bằng cao hơn mức sản lượng tiềm năng thì
sự gia tăng tổng cầu sẽ tạo ra sự tăng lên nhanh chóng của mức giá chung, lạm phát tăng
nhanh.
Lạm phát do cung: thì sản lượng giảm giá cả tăng cao, nền kinh tế rơi vào thời kỳ
đình trệ-lạm phát. Sụt giảm sản lượng như thế nào còn phụ thuộc vào độ dốc của đường
tổng cầu
2. Tác động đối với phân phối lại thu nhập và của cải
Nói chung lạm phát tác động đối với phân phối thu nhập ở mức đô nào còn phải
phụ thuộc ở nhiều yếu tố và nhiều nhóm tác nhân kinh tế. Khóa luận xin nêu đưa ra 1 số
hướng tác động như sau:
* Tác động tới người cho vay và người đi vay:
15
Khi nền kinh tế có lạm phát thì mối quan hệ giữa người vay và người cho vay được xem
xét theo lãi suất thực. Thu nhập được chuyển từ người đi vay sang người cho vay khi
lạm phát trong thực tế khác với mức lạm phát dự kiến và ngược lại.Chênh lệch giữa lạm
phát thực tế và lạm phát dự kiến càng cao thì mức độ phân phối càng nhiều.
Muốn tránh được sự phân phối lại này thì quá trình cho vay phải được xác định theo lãi
suất thả nổi, mức lãi suất này phải luôn luôn được xác định theo công thức:
Lãi suất thả nổi= Lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát
* Tác động giữa người hưởng lương và ông chủ:
Nói chung tốc độ tăng tiền công hầu như chậm hơn so với tốc độ tăng của giá. Vì vậy
những người lao động hưởng lương bao giờ cũng bị thiệt thòi và người được lợi là các
ông chủ. Quá trình phân phối này chỉ không diễn ra khi tốc độ tăng của tiền công bằng
với tốc độ tăng của giá.
* Tác động giữa người mua và người bán tài sản tài chính
Đa số các loại tài sản tài chính có mức lãi suất danh nghĩa cố định. Như vậy khi có lạm
phát xảy ra người nắm trong tay lượng trái phiếu sẽ bị thiệt và người lợi sẽ là người phát

lên được, nhưng cũng có những doanh nghiệp ngành nghề lại suy sụp, phá sản, thậm chí
còn chuyển hướng kinh doanh khác, dẫn đến thay đổi cơ cấu kinh tế.
4. Những tác động đến tính hiểu quả kinh tế
Lạm phát có thể tác động làm kém hiệu quả của việc sử dụng nguồn nhân lực
như:
* Lạm phát làm biến dạng cơ cấu đầu tư
Khi xảy ra lạm phát, các doanh nghiệp không muốn đầu tư và những dự án có khoảng
thời gian thu hồi vốn dài. Tác động này có thể làm giảm hiệu quả sử dụng các nguồn
nhân lực của nền kinh tế trong dài hạn. Sự giảm sút của năng lực sản xuất có thể làm
cho đường tổng cung AS dịch chuyển sang trái cùng với mức giảm của sản lượng tiềm
năng.
* Lạm phát làm suy yếu thị trường vốn
Nếu lãi suất thực là số âm thì khả năng huy động vốn của các tổ chức tín dụng sẽ rất khó
khăn. Giảm sút của tiết kiệm sẽ làm sụt giảm đầu tư thực tế, sản lượng giảm theo cấp số
nhân, công ăn việc làm ít đi, thất nghiệp tăng lên.
* Lạm phát làm sai lệch tín hiệu của giá
Giá là tín hiệu quan trọng để giúp cho người mua và người bán có được quyết định tối
ưu nhất. Trong thời kỳ lạm phát cao, giá cả tăng nhanh làm cho mọi người không kịp
nhận biết được mốc giá tương đối giữa các hàng hóa thay đổi ra sao, do đó làm giảm
tính hiệu quả khi ra các quyết định mua bán.
17
* Lạm phát làm phát sinh chi phí điều chỉnh giá
Các hang kinh doanh phải tốn thêm chi phí về điều chính giá như chi phí sửa chữa báo
giá, sửa lại giá trên máy tính tiền, sửa thực đơn… Các công ty kinh doanh còn tốn kém
cả chi phí cho các cuộc hội họp về điều chỉnh giá.
* Lạm phát làm lãng phí thời gian cho việc đối phó với tình trạng mất giá của
tiền tệ
Khi lạm phát xảy ra mọi người sẽ giữ ít tiền hơn, các công ty phải tốn kém cho việc xây
dựng kế hoạch quản lý tiền cẩn thận hơn, mọi người tiêu phí thời gian nhiều hơn cho
việc đến ngân hàng rút tiền, nhiều người tính toán phương án để giữ cho tài sản của

I. Giai đoạn từ sau khi giải phóng đất nước đến năm 1990
Sau ngày thống nhất đất nước, Việt Nam đứng trước một cơ hội mới để xây dựng
và phát triển kinh tế vì tiềm năng kinh tế của 2 miền sẽ bổ sung cho nhau và có thuận lợi
cơ bản là có hoà bình. Mặc dù vậy, thời kỳ 1975 – 1990, nền kinh tế phát triển không
theo đúng ý đồ của các nhà lãnh đạo đất nước và lòng mong đợi của nhân dân.
Từ năm 1976 đến 1985, thu nhập quốc dân tăng rất thấp, có năm còn bị giảm,
bình quân thời kỳ 1977-1985 chỉ tăng 3,7%/ năm [35]. Trong khi dân số từ 49,16 triệu
người năm 1976 tăng lên 66,01 triệu người năm 1990, thì do kinh tế tăng trưởng chậm,
nên “cả nước làm không đủ ăn”, thu nhập quốc dân trong nước không đủ cung ứng cho
tiêu dùng. Tình trạng đó đã dẫn đến bội chi ngân sách ngày càng tăng, buộc nhà nước
19
phải phát hành thêm tiền mặt, đẩy giá cả lên cao, vòng xoáy lạm phát ngày càng trở nên
nghiêm trọng.
Xuyên suốt thời kỳ này, lạm phát phi mã diễn ra với mức tăng bình quân của giá
cả là 52%/ năm.
Bảng 1: Chỉ số tăng giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng từ 1976 đến 1985
Năm 1975 1976 1977 1978 1979 1980 1981 1982 1983 1984 1985
Tốc độ
cả năm
100 121,9 118,6 120,9 119,4 125,2 169,6 195,4 149,5 164,9 191,6
Lạm phát thời kỳ này có đặc điểm là tăng liên tục và tốc độ lạm phát ở cao nhất
vào năm 1986. Lạm phát chưa được chính thức thừa nhận mà lại quy vào xử lý ở các
mặt "giá - lương - tiền" thông qua việc bù giá vào lương, đổi tiền vào năm 1985. Chính
quan điểm này đã kéo theo một đặc điểm khác là lạm phát trong giai đoạn này ở dạng
tiềm ẩn. Trong nền kinh tế, người ta không chính thức thừa nhận lạm phát để có biện
pháp ứng phó cho đến tận tháng 6/1980. Phần lớn khoảng thời gian 1976 - 1986 lạm
phát vẫn âm ỷ, như chờ cơ hội để bùng phát vào thời kỳ sau (1986 - 1988).
Và quả thực, trong ba năm từ 1986 đến 1988, siêu lạm phát đã hoành hành ở
nước ta với tốc độ tăng lên mức ba con số. Giá bình quân năm 1986 bằng 570% so với
năm 1985 [14]. Cho đến nay, ít ai có thể hình dung được nước ta đã trải qua thời kỳ lạm

kinh tế lúc đó có tới hai hệ thống giá (giá chính thức do Nhà nước quy định và giá trên
thị trường tự do) với nỗ lực ổn định và phấn đấu hạ giá hàng hoá khiến cho giá cả - một
đòn bẩy kinh tế quan trọng - bị "đông cứng".
Tuy tư duy kinh tế ở nước ta lúc đó đã có sự đổi mới, được đánh dấu bằng sự ra
đời của Nghị quyết 26 (23/6/1980) về giải quyết vấn đề phân phối lưu thông (trọng tâm
là điều chỉnh giá cả) nhưng ngay trong chủ trương này cũng chứa đựng những mâu
thuẫn. Cuộc tổng điều chỉnh giá lần thứ hai được tiến hành với sự ra đời Nghị quyết 8
của Ban chấp hành Trung ương Đảng (năm 1985) về cải cách giá - lương - tiền. Song,
sai lầm lớn nhất của cả hai cuộc tổng điều chỉnh giá là Nhà nước đã không có chính
sách chống lạm phát thông qua khống chế bội chi ngân sách và kiểm soát hệ thống tiền
tệ tín dụng. Chính cải cách giá đã đẩy lạm phát tăng vọt trong thời kì 1986 - 1988.
Tháng 9/1985, Nhà nước nâng giá trị danh nghĩa của tiền lên 10 lần bằng cách thu hồi
tiền cũ, phát hành tiền mới. Trong vòng ba năm (từ tháng 1/1986 đến tháng 12/1988),
lượng tiền giấy tăng lên 96,07 lần, chỉ số giá tiêu dùng tăng hơn 100 lần, giá cả tăng liên
tục [6]. Sự leo thang của giá cả làm cho tình trạng đầu cơ tích trữ hàng hóa càng phổ
biến, hàng hóa rất khan hiếm trên thị trường, cung càng thiếu hụt vì tiền thu được từ
việc bán các sản phẩm đầu ra không đủ để mua đầu vào tiếp theo do giá tăng quá nhanh.
21
Vào tháng 6/1987, Nhà nước công bố giá kinh doanh thương nghiệp ổn định trong từng
khoảng thời gian và là mức giá giới hạn cho các mặt hàng quan trọng lưu thông trong cả
nước. Đây là giá cả "phi thị trường" gây kìm hãm sản xuất.
Thứ tư, việc tăng cung tiền trong nền kinh tế là một tác nhân quan trọng gây ra
lạm phát. Giai doạn 1986-1988, chúng ta đã phát hành tiền vào lưu thông với một số
lượng lớn: năm 1985 phát hành 12.300 triệu đồng; 1986 phát hành 55.400 triệu đồng và
năm 1988 phát hành ttiền đạt tới 83,3 tỷ đồng, so với năm 1985 đã tăng lên gấp 13,4 lần
[8]. Công tác tín dụng trong giai đoạn này trở nên phức tạp hơn do tác động của lạm
phát cao. Dư nợ tín dụng tăng nhanh theo đà trượt giá. Hơn nữa, việc đổi tiền đã được
tiến hành trên cơ sở mười đồng cũ đổi một đồng mới có giới hạn, số tiền vượt quá giới
hạn được giữ lại ở Ngân hàng nhà nước trong một thời gian dài. Mặc dù biện pháp này
cắt giảm ghê gớm sự tích lũy tiền mặt hiện thời nhưng tác dụng của việc kiểm soát vốn

5,1% [11]. Tuy không thể nói đây là mức tăng trưởng lý tưởng nhưng nếu xét đến
những khó khăn gặp phải do hậu quả của thời kỳ siêu lạm phát để lại thì có thể coi đây
là một thành công lớn của Đảng và nhà nước ta lúc bấy giờ.
Một chính sách tài chính quốc gia tiến bộ hơn hẳn so với giai đoạn trước để điều
tiết cầu với liều lượng mạnh chính là một biện pháp góp phần quan trọng làm giảm hẳn
lạm phát. Lãi suất tiết kiệm được nâng lên cao hơn tỷ lên trượt giá (hay lãi suất thực
dương). Tỷ lệ lạm phát bình quân trong năm 1989 là 2,45%/tháng trong khi lãi suất gửi
tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng là 10%/ tháng [12] nên lượng tiền gửi vào ngân hàng tăng
mạnh làm giảm cầu trên thị trường. Nhờ đó, nhà nước hạn chế được việc phát hành
thêm tiền giấy mà vẫn có thể khắc phục tình trạng bội chi ngân sách. Lượng tiền mà
ngân hàng thu về được dùng để đầu tư vào sản xuất, như vậy nhà nước cũng không cần
phát hành thêm tiền để đảm bảo hoạt động của các xí nghiệp, góp phần làm cung cầu về
tiền trên thị trường trở nên cân bằng hơn. Từ đây, các doanh nghiệp không thể vay vốn
vì những mục đích trục lợi riêng tư, mà phải có kế hoạch bảo tồn và phát triển nó sao
cho trả được khoản vay khi đến hạn. Do đó, hiệu quả sử dụng vốn được nâng lên rõ rệt.
Chính sách lớn thứ hai được sử dụng để kiềm chế lạm phát là nhấn mạnh sản
xuất nhập khẩu nhằm làm tăng cung hàng hóa cho xã hội. Để đạt mục tiêu đó, nhà nước
đã khuyến khích sự phát triển của kinh tế tư nhân, giao quyền sử dụng vốn và gắn trách
nhiệm bảo toàn, phát triển vốn cho các doanh nghiệp quốc doanh. Thế độc quyền của
khu vực kinh tế nhà nước từng bước bị phá vỡ, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng
hơn, thúc đẩy tất cả các thành phần kinh tế tham gia một cách hiệu quả vào sản xuất,
kinh doanh, tạo ra nhiều hàng hoá, dịch vụ. Nhà nước còn đẩy mạnh hoạt động xuất
23
nhập khẩu, nhất là nhập khẩu các hàng tiêu dùng, máy móc, vật tư khan hiếm phục vụ
cho sản xuất.
Ngoài các biện pháp trên, điểm tiến bộ rõ rệt trong chính sách giá cả là chuyển
giá nhà nước quy định sang giá cả thị trường. Chính phủ chỉ điều tiết gián tiếp giá cả
của một số mặt hàng thiết yếu như gạo, vàng bằng cách khi cần thiết thì mua vào và bán
ra nhằm điều tiết cung cầu thị trường. Một động thái nữa thực hiện nhận thức đúng đắn
hơn về vai trò của quy luật giá trị là việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái cho sát hơn với tỷ

9.30%
16..80%
5.60%
3.20%
9.20%
0.0%
10.0%
20.0%
30.0%
40.0%
50.0%
60.0%
70.0%
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
GDP
tỷ lê lạm phát
(Nguồn: [22], [11])
Năm 1991, lạm phát phi mã lên tới 67,5%. Trong thời gian này nước ta còn phải
trải qua hai năm lạm phát phi mã nữa đó là năm 1992: 17,5% và năm 1995: 16,8%. Tuy
nhiên có những năm lạm phát lại đạt tới những con số rất đáng “yên tâm”, năm 1993 và
1996, lạm phát chỉ dừng lại ở con số trên 5%, đặc biệt, năm 1997 còn xuống tới mức
3,2%. Các năm còn lại lạm phát chủ yếu xoay quanh con số trên dưới 9%. Có thể thấy
giai đoạn này, lạm phát biến động không ổn định, vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng
này?
Năm 1991-1998 là giai đoạn chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường, việc
kích thích cả nhà nước lẫn tư nhân đầu tư để đáp ứng nhu cầu lớn của thị trường sau
thời kỳ bao cấp đầy khó khăn, thiếu thốn đã làm cho đầu tư ở nước ta thời kỳ này bùng
phát. Đầu tư tăng khiến cho cầu về các nguyên vật liệu, bán thành phẩm, các máy móc,
trang thiết bị ở mức cao dẫn đến giá thành tăng nhanh.
Hình 6: Đầu tư và tiết kiệm so với GDP vẫn thấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status