BỘ CÔNG THƯƠNG
VỤ KẾ HOẠCH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NĂM 2008 VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM
TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚICHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
KS. LÊ VĂN ĐƯỢC
CƠ QUAN CHỦ QUẢN
BỘ CÔNG THƯƠNG
54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI
CƠ QUAN CHỦ TRÌ THỰC HIỆN
VỤ KẾ HOẠCH - BỘ CÔNG THƯƠNG
54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
KS. LÊ VĂN ĐƯỢC HÀ NỘI, 8/2009 1
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2008 VÀ TRIỂN
VỌNG NĂM 2009 3
2. Dự báo thị trường thế giới năm 2009 57
VIII. HÀNG ĐI
ỆN TỬ VÀ MÁY TÍNH 58
1. Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 58
2
2. Dự báo thị trường thế giới năm 2009 59
IX. DỆT MAY 60
1. Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 60
2. Dự báo thị trường thế giới năm 2009 61
X. DẦU THÔ 63
1. Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 63
2. Dự báo thị trường thế giới năm 2009 63
XI. PHÂN BÓN 64
1. Diễn biến thị trường thế giới năm 2008 64
2. Dự báo thị trường thế
giới năm 2009 65
PHẦN THỨ BA: THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NĂM 2008 VÀ DỰ BÁO NĂM 2009 69
I. NHẬN ĐỊNH CHUNG 69
1. Tổng quan về thương mại Việt Nam năm 2008 69
2. Mục tiêu phát triển thương mại Việt Nam năm 2009 72
II. THƯƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA 73
1. Thị trường nội địa năm 2008 73
2. Mục tiêu phát triển thị trường nội địa năm 2009 75
3. Cung cầu một số mặ
t hàng trọng yếu năm 2008 và dự báo năm 2009 76
III. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU NĂM 2008 VÀ DỰ BÁO NĂM 2009 78
1. Thị trường xuất khẩu 78
2. Mặt hàng xuất khẩu 89
IV. TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU NĂM 2008 VÀ DỰ BÁO NĂM 2009 105
địa ốc ở Mỹ, do người đi vay đặt nhiều hy vọng vào việc mua nhà để bán
kiếm lời, còn các ngân hàng thì nhận thấy những khoản lợi nhuận quá béo bở.
Tuy nhiên, điều đáng nói là rủi ro của hoạt động vay nợ này không chỉ trong
giới hạn giữa người đi vay và các ngân hàng. Danh mục nợ này được các
ngân hàng thương mại bán lại cho các ngân hàng đầu tư, để rồi các ngân hàng
đầu tư sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa các khoản nợ địa ốc thành các loại
chứng khoán, bán cho các nhà đầu tư khắp thế giới.
Khi giá nhà đất ở Mỹ đạt đỉnh và bắt đầu sụt giảm, làm cho tỷ lệ nợ xấu
và vỡ nợ tăng lên, gây sụt giảm mạnh mẽ giá trị của các loại chứng khoán
MBS nói trên. Tới lúc này, hậu quả xuất hiện theo kiểu hiệu ứng domino, từ
người mua nhà, các ngân hàng thương mại, các ngân hàng đầu tư, tới các nhà
đầu tư mua vào chứng khoán nợ địa ốc… cùng bị điêu đứng.
Sự đổ vỡ dây chuyền trong ngành tài chính Mỹ ở thời kỳ đỉnh điểm giữa
tháng 9/2008 đã lan qua Đại Tây Dương, tới châu Âu và gây ra những cơn
“dư chấn” ở châu Á. Sau nỗi hoảng sợ của cả thế giới là trạng thái đóng băng
tín dụng gần như trên phạm vi toàn cầu. Các ngân hàng trước kia dễ dãi trong
việc cho vay bao nhiêu, thì tới nay, họ lại dè dặt bấy nhiêu. Tình trạng đóng
băng tín dụng, vốn là “nguồn nhựa sống” của nền kinh tế đang là một trong
những mối đe dọa lớn nhất hiện nay của kinh tế thế giới. (Thống kê của hãng
tin tài chính Bloomberg cho thấy, từ khi khủng hoảng tài chính bắt đầu tới
4
nay, các tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới đã cắt giảm khoảng 240.000 việc
làm và báo lỗ cùng thâm hụt tài sản hơn 1.000 tỷ USD).
Trong suốt giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng vào năm 2007, tác động
của khủng hoảng tài chính lên các nước đang phát triển là tương đối nhỏ. Tuy
nhiên khi cuộc khủng hoảng lan rộng vào năm 2008 và đặc biệt kể từ giữa
tháng 9 năm 2008, nguy cơ rủi ro đã tăng cao và dòng vốn đổ vào các nước
đang phát triển bị thu hẹp lại. Kết quả là đồng bản tệ ở các nước đang phát
triển bị mất giá nghiêm trọng và giá cổ phiếu tại các thị trường này đã bị giảm
tế Mỹ cắt giảm hơn nửa triệu việc làm trong tháng 11/2008, đẩy tỷ lệ thất
nghiệp lên tới 6,7% và số việc làm bị cắt giảm lên gần 2 triệu kể từ cuối năm
2007. Mặc dù rất khó có thể dự đoán chính xác nhưng hầu hết các nhà kinh tế
học đều cho rằng nền kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng âm cho tới cuối năm 2009
5
hay đầu năm 2010.
Tình trạng ảm đạm này không chỉ xuất hiện ở Mỹ. Theo dự báo của
Bundesbank (Ngân hàng Trung ương Đức) thì nền kinh tế Đức sẽ suy giảm
0,8% trong năm 2009. Nhà kinh tế trưởng của Deutsch Bank cho rằng dự báo
này quá lạc quan, đồng thời cho rằng mức độ suy giảm có thể lên tới 4%. Dự
báo mới nhất của IMF thì nền kinh tế Đức sẽ tăng trưởng ảm đạm, mức suy
giảm là 5,6% trong năm 2009 và dần đà phục hồi để giảm mức sụt giảm
khoảng 1% trong năm 2010.
Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản giảm 0,6% trong năm 2008.
Theo số liệu thống kê tháng 11/2008, xuất khẩu của Nhật Bản giảm 27% so
với cùng kỳ năm trước, đây là một mức giảm kỷ lục.
Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới và là bạn hàng quan trọng của
Mỹ cũng phải chịu cùng một lúc 3 tác động của cuộc khủng hoảng, đó là xuât
khẩu vào các nước phát triển giảm, đồng nhân dân tệ lên giá so với đồng USD
và giá thành sản xuất tăng cao. Việc đồng đôla mất giá cũng sẽ làm giảm dự
trữ ngoại tệ của Trung Quốc, do nước này mua nhiều trái phiếu Mỹ. Tốc độ
tăng trưởng ngành công nghiệp của Trung Quốc giảm liên tục từ 16% (tháng
6/2008) xuống 8,2% (tháng 10/2008) và 5,4% (tháng 11/2008), mức thấp nhất
trong 7 năm qua. Kim ngạch xuất khẩu, yếu tố quan trọng tạo đà tăng trưởng
cho Trung Quốc chỉ đạt 114,99 tỉ USD (11/2008). Đây là lần đầu tiên trong 7
năm qua, Trung Quốc chứng kiến mức suy giảm xuất khẩu.
Năm 2008, tăng trưởng của Trung Quốc đạt 9% (so với 13% năm 2007),
tiếp sau là Ấn Độ 7,3% (so với mức 9,3% năm 2007) – đây là 2 nền kinh tế có
quy mô dân số lớn nhất thế giới sẽ tạo ra cú hích cho tăng trưởng của các
nước Mỹ và Châu Âu có lẽ đã đổ vỡ nếu không có sự can thiệp kịp thời của
chính phủ.
Tại Mỹ, Chính phủ nước này năm qua đã phải tiếp quản hai tập đoàn tài
chính nhà đất khổng lồ là cặp “sinh đôi” Fannie Mae và Freddie Mac, hãng
bảo hiểm AIG và ngân hàng Citigroup.
Tại Châu Âu, danh sách các ngân hàng được các nhà chức trách can thiệp
cũng tương đối dài. Nhiều ngân hàng lớn của châu lục này đã bị quốc hữu hóa
một phần hoặc toàn bộ như Northern Rock và Bradford & Bingley của Anh,
Fortis và Dexia của Bỉ, Hypo Real Estate của Đức; Kaupthing, Landsbanki và
Glitnir của Iceland…
Nói về các kế hoạch giải cứu quy mô lớn của Mỹ, cần nhắc tới kế hoạch
700 tỷ USD dành cho ngành tài chính, kế hoạch 800 tỷ USD để “phá băng”
thị trường tín dụng, kế hoạch mua thương phiếu để tăng tính thanh khoản cho
các doanh nghiệp không thuộc ngành ngân hàng, kế hoạch cứu các con nợ địa
ốc khỏi mất nhà… Hiện Chính phủ Mỹ vẫn đang tìm biện pháp để cứu ngành
công nghiệp xe hơi của nước này sau khi một kế hoạch hỗ trợ 14 tỷ USD
dành cho các hãng ôtô bị Thượng viện bác bỏ.
Bên kia bờ Đại Tây Dương, sau nhiều tranh cãi, các nước sử dụng chung
đồng Euro cũng đi tới một kế hoạch giải cứu tập thể cho ngành ngân hàng;
nước Anh cũng tung ra một gói giải cứu trị giá 85 tỷ USD cho hệ thống tài
chính của mình.
Cùng với đó, thế giới cũng chứng kiến sự ra đời của những kế hoạch kích
thích kinh tế lớn chưa từng có. Mở màn là gói kích thích kinh tế thông qua
hoạt động hoàn thuế cho người dân và doanh nghiệp trị giá hơn 150 tỷ USD
của Mỹ. Tổng thống đắc cử Barack Obama của Mỹ hiện đang có ý định đưa
ra một gói kích thích kinh tế nữa, với trị giá có thể lên tới hơn 1.000 tỷ USD.
Nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới Trung Quốc cũng đã tung ra gói
kích thích kinh tế trị giá 568 tỷ USD. Gần đây nhất, hôm 12/12, Nhật Bản đã
công bố kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 255 tỷ USD. Cùng thời điểm, EU
6. Sự đổi hướng trong chính sách tiền tệ của các nước, xuất hiện những
mức lãi suất thấp chưa từng có trong lịch sử
Những biến động lớn chưa từng có buộc ngân hàng trung ương các nước
trên thế giới phải có những thay đổi hiếm gặp trong chính sách tiền tệ. Tựu
chung, từ chủ trương thắt chặt tiền tệ để chống khủng hoảng, thế giới đã
chuyển sang nới lỏng mạnh mẽ chính sách này để chống giảm phát và hỗ trợ
tăng trưởng.
Với chuỗi cắt giảm lãi suất 10 lần kể từ tháng 9/2007 tới nay, FED đã đưa
lãi suất đồng USD từ mức 5,25% về khoảng thấp chưa từng có trong lịch sử là
0 – 0,25%. ECB, ngân hàng trung ương của khu vực đồng tiền chung châu Âu
với mục tiêu số một là chống lạm phát, cũng đã phải giảm mạnh lãi suất đồng
8
Euro về mức 2,5% sau khi khủng hoảng tấn công mạnh vào Châu Âu. Nhật
Bản lần đầu tiên hạ lãi suất trong 7 năm trở lại đây, đưa lãi suất đồng Yên về
mức 0,3%. Trung Quốc cũng liên tục cắt giảm lãi suất đồng Nhân dân tệ.
Thụy Sỹ trở thành quốc gia đầu tiên tại châu Âu có mức lãi suất dưới 1% khi
đưa lãi suất đồng Franc của mình về 0,5% Đáng chú ý, các quốc gia không
chỉ tiến hành cắt giảm lãi suất riêng lẻ, mà còn thực hiện những đợt phối hợp
cắt giảm lãi suất toàn cầu, mà mở đầu là đợt cắt giảm lãi suất ngày 8/10 do
FED, ECB và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) dẫn đầu trong bối cảnh diễn
biến khủng hoảng căng thẳng.
Cùng với việc hạ lãi suất, các nước cũng liên tục bơm tiền với khối lượng
lớn vào hệ thống tài chính và nền kinh tế để tăng cường tính thanh khoản cho
thị trường. Đến nay chưa có thống kê chính thức, tuy nhiên, số tiền mà Mỹ
cam kết để vực dậy kinh tế và hỗ trợ ngành tài chính đã lên tới con số xấp xỉ
7.000 tỷ USD.
7. Thị trường hàng hóa đạt đỉnh và tụt dốc
Năm 2008 chứng kiến đỉnh cao và sự thoái trào của hoạt động đầu cơ trên
thị trường hàng hoá. Hai mặt hàng được quan tâm nhiều là vàng và dầu thô
vọng và thế giới đang theo dõi các chính sách mà vị Tổng thống Mỹ thứ 44
này sẽ thực thi, nhất là chính sách kinh tế.
II. DỰ BÁO KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2009
Trong bối cảnh năm 2008 và những gì đã và đang diễn ra những tháng
đầu năm 2009, việc dự báo về nền kinh tế thế giới năm 2009 được đánh giá là
rất khó khăn với tất cả các quốc gia, các tổ chức nghiên cứu, tư vấn và các
nhà kinh tế hàng đầu thế giới. Tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2009 được dự
báo sẽ ở mức thấp và là mức thấ
p nhất kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2.
Tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển cũng như các nước đang phát
triển đều sút giảm nghiêm trọng. Kinh tế thế giới có thể phục hồi dần vào năm
sau, với điều kiện là các nước cần phải triển khai một loạt các chính sách
đồng bộ để ổn định tình hình tài chính, quy mô lại các hỗ trợ tài chính, từ
ng
bước cải thiện tình trạng tín dụng, hạ nhiệt thị trường nhà đất và giảm nhẹ
mức độ ảnh hưởng do sự sụt giảm của giá dầu thô và hàng hóa thiết yếu.
Hiện nay, nhiều chính sách đã được các nước đưa ra, nhưng thời gian
phát huy hiệu quả còn ngắn nên tình hình khủng hoảng tài chính vẫn tiếp diễn
và tăng trưởng kinh tế vẫn đang trong chiều hướng đi xuố
ng. Kinh tế thế giới
chỉ phục hồi bền vững nếu khu vực tài chính được phục hồi và các thị trường
chứng khoán được tháo gỡ khó khăn. Để đạt được mục tiêu này, nhiều nước
đã đưa ra các chính sách để khoanh vùng các khoản nợ xấu; lựa chọn các
công ty tài chính có thể đứng vững trong giai đoạn trung hạn và cung cấp các
dịch vụ công để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, ngân hàng… bằng cách bơm
thêm vốn và chia nhỏ các đối tượng sản xuất. Chính sách tài chính, tiền tệ cần
được sử dụng linh hoạt để kích cầu, các chiến lược phát triển cần được xây
dựng có hiệu quả để đảm bảo sự bền vững của thị trường tài chính trong dài
hạn. Ngoài ra, để vượt qua cuộc khủng hoảng, các quốc gia trên thế giới đã có
những nhóm họp để hợp tác thống nhất quan đ
của IMF, với mức khoảng 0,9%, tuy nhiên, đây cũng là mức thấp nhất kể từ
năm 1970 đến nay. Ở các nước công nghiệp hóa, tốc độ
này chỉ còn 0,1%,
trong khi tại các nước đang phát triển là 4,5%, khu vực các nước Trung Đông
và Bắc Phi cũng bị giảm từ 5,8% xuống còn 3,9%. Năm 2009, tăng trưởng
kinh tế của các nước đang phát triển khó phục hồi do khủng hoảng tài chính
toàn cầu đã tác động tới nhiều lĩnh vực như sản xuất, công nghiệp, nông
nghiệp, tiêu dùng và xuất khẩu. Xuất khẩu giảm kéo theo sự sụt giảm của
nhi
ều ngành sản xuất khác và làm tăng tỉ lệ thất nghiệp cũng như số người
nghèo. Tăng trưởng của các nước đang phát triển sẽ giảm còn 4,6% (2009) so
với mức dự báo trước đây là 6,4%. Kinh tế Châu Á năm 2009 sẽ tăng trưởng
chậm lại, giảm còn 6,0% (so với mức dự đoán trước đây là 7,1%), kim ngạch
xuất khẩu của các nền kinh tế mới nổi châu Á sẽ giả
m 20%. Tuy nhiên, nhiều
nhà phân tích dự đoán rằng, kinh tế Châu Á vẫn có triển vọng sáng sủa, đóng
vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế toàn cầu. Giá hàng hóa và xăng dầu
giảm mạnh trên thị trường thế giới đã làm dịu lạm phát của khu vực, đặc biệt
đối với một số quốc gia Đông Nam Á – là những nước phụ thuộc rất nhiều
vào năng lượng và gạo nhập khẩu. Xu hướng này s
ẽ còn tiếp tục giảm trong
năm 2009, giúp giảm gánh nặng trợ cấp lương thực, thực phẩm và xăng dầu 1
Theo Dự báo phát triển kinh tế toàn cầu IMF (tháng 1 năm 2009)
Emerging and developing economies: Các nước đang phát triển
Advanced economies: Các nước phát triển
thấp, cầu nhập khẩu giảm và kéo theo là nhu cầu nội địa cũng giảm. Tăng
trưởng trong năm 2009 tại các nước này rất thấp trước khi phục hồi dần vào
năm 2010, dự báo tăng trưởng sẽ ở mức 1,6% trong 2009
1
và phục hồi mức
tăng trưởng 4% trong năm 2010. Các nước đang phát triển ở Châu Phi và một
số khu vực khác được chuẩn bị tốt để đối mặt với các thách thức khi thực hiện
các chính sách kinh tế vĩ mô hiện đại. Tuy nhiên châu lục này sẽ vẫn trong
tình trạng kém phát triển hơn các khu vực khác do tình trạng nghèo đói và
phải dựa chủ yếu vào xuất khẩu hàng hóa.
Các nước đang phát triển ít tiếp xúc với thị trường tài chính quốc tế, vì
thế sự suy thoái tác động lên nền kinh tế của họ theo cơ chế gián tiếp. Trước
hết cơ hội xuất khẩu hàng hóa của họ sẽ bị giảm sút nhanh chóng do các nước
có thu nhập cao giảm thiểu nhu cầu nhập khẩu (trong năm 2009, tốc độ giảm
nhập khẩu ở những nước này khoảng 8,8% so với mức tăng 10,9% trong năm 1
Năm 2007 là 8,3% và 6,1% trong năm 2008 (Số liệu báo cáo của IMF )
12
2008), các khoản tín dụng xuất khẩu bị cạn kiệt và phí bảo hiểm trở nên đắt
đỏ hơn. Hậu quả là sản xuất bị đình đốn, nhiều doanh nghiệp bị phá sản,
người lao động bị mất việc, thị trường nội địa ế ẩm…
Các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển đang trải qua thời
kỳ kinh tế suy giảm nghiêm trọng. Xuất khẩu trong năm 2009 dự báo sẽ giảm
6,4%, sụt giảm nghiêm trọng so với mức tăng trưởng xuất khẩu 6% năm
2008. Nguyên nhân này là do cầu xuất khẩu giảm và tình trạng căng thẳng của
thị trường tài chính quốc tế, đặc biệt là đối với những nước có thâm hụt cán
cân thanh toán vãng lai lớn. Cơ cấu kinh tế vững mạnh ở các nước mới nổi
hoạch có tính thuyết phục để phục hồi khu vực tài chính và các biện pháp hỗ
trợ kích cầu, thì tăng trưởng được dự báo sẽ khả quan hơn trong quí 3 năm
2010.
13
Tại khu vực đồng Euro, suy thoái kinh tế năm 2009 phản ánh rõ khi cầu
nhập khẩu giảm. Tại Nhật, ảnh hưởng của khủng hoảng đã làm cho xuất khẩu,
đầu tư doanh nghiệp và tiêu dùng cá nhân cùng giảm. Khu vực tài chính, mặc
dù không phải trung tâm của cuộc khủng hoảng cũng sẽ chịu ảnh hưởng nặng
nề và tăng trưởng chậm.
Sản lượng và thương mại toàn cầu tụt dốc vào cuối năm 2008.
1
Thương mại quốc tế được dự báo sẽ giảm mạnh với tổng kim ngạch xuất
khẩu toàn cầu giảm 11% năm 2009, phá vỡ mức đáy mức 1,9% của năm
1975. Cơ hội xuất khẩu của các nước đang phát triển sẽ giảm nhanh chóng do
khủng hoảng tại các nước có thu nhập cao và do các khoản tín dụng xuất khẩu
đang cạn dần cùng với bảo hiểm xu
ất khẩu đắt đỏ. Tăng trưởng chậm ở các
nước thu nhập cao ước tính sẽ làm giảm dòng ngoại tệ vào các nước đang
phát triển từ 2% xuống 1,8% GDP của các nước này. Tại các quốc gia, mức
sụt giảm chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự biến động tỷ giá.
Cuộc khủng hoảng tài chính vẫn tiếp diễn và dường như các chính sách
đều chưa đẩy lùi đượ
c cuộc khủng hoảng này. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự
sụt giảm giá trị tài sản ở cả những nước phát triển và những nước đang phát
triển, làm giảm sự thịnh vượng của khu vực tư nhân, từ đó tạo sức ép lên tổng
cầu. Tình hình bất ổn về kinh tế khiến cho các doanh nghiệp và các hộ gia
đình tạm dừng chi tiêu, giảm nhu cầu tiêu dùng và mua sắm hàng hóa có giá
trị l
14
USD trong năm 2008, đẩy thêm 130 đến 155 triệu người vào cảnh nghèo đói.
Cũng từ đó đã phát sinh tình trạng lạm phát. Ở hầu hết các nước đang phát
triển, tỷ lệ lạm phát từ 5% trở lên và hơn 50% trong số đó có tỷ lệ lạm phát
lên đến hai con số. Sức ép lạm pháp đang lắng xuống. Tuy nhiên, sang năm
2009, tình hình giá cả hàng hóa có biến động giảm đã làm dịu sức ép lạm
phát. Tại các nướ
c phát triển, lạm phát dự báo sẽ giảm từ mức 3,25% năm
2008 xuống mức kỷ lục 0,25% năm 2009, trước khi tăng lên mức 0,75% năm
2010. Hơn nữa, một số nước phát triển được dự báo đang trải qua thời kỳ giá
cả hàng hóa tăng thấp (thậm chí là âm). Tại các nước mới nổi và nước đang
phát triển, lạm phát cũng được dự báo giảm từ mức 9,5% năm 2008 xu
ống
5,75% năm 2009 và 5% năm 2010,.
Tăng trưởng toàn cầu sụt giảm làm đảo ngược xu thế bùng nổ giá cả
hàng hóa. Sự đình trệ của tổng cầu đã làm giảm giá cả hàng hóa. Mặc dù cho
cắt giảm sản xuất và những căng thẳng chính trị, giá dầu đã giảm khoảng 60%
so với mức đỉnh đạt hồi tháng 7 năm 2008, mặc dù vẫn còn ở mức cao so với
những năm 1990. Dự báo của IMF về mức giới hạn của giá xăng dầu sẽ điều
chỉnh xuống mức 50 USD/thùng vào năm 2009, (theo Worldbank là mức bình
quân 75 USD/thùng) 60 USD/thùng vào năm 2010 và có thể ở mức thấp hơn.
Năm 2009, do sự giảm tốc của nền kinh tế Mỹ làm cho quan hệ cung – cầu
dầu mỏ đỡ căng thẳng, song nhiều yếu tố làm tăng giá dầu khác vần còn, nên
giá dầu mỏ vẫn có thể tăng đột biến và bấp bênh. Giá dầu giảm trong những
tháng cuối năm 2008 chỉ là tạm thời; xu hướng tăng giá vẫn tồn tại do tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, do việc khai thác dầu trở nên
khó khăn hơn và những hạn chế về công nghệ cũng làm giảm nguồn cung.
Theo đánh giá trữ lượng dầu mỏ trên thế giới chỉ đủ khai thác trong khoảng
40 năm nữa. Do vậy, những biến động giá dầu mỏ sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng
đến kinh tế toàn cầu. Giá kim loại và thực phẩm được đánh giá là sẽ thấp hơn
n có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng toàn cầu.
Ngoài ra, nguy cơ giảm phát đang gia tăng ở các nước phát triển, trong khi
khu vực doanh nghiệp của các nước mới nổi có thể bị ảnh hưởng nặng nề do
bị hạn chế trong việc tiếp cận nền tài chính bên ngoài. Hơn nữa, trong khi các
chính sách tài chính nhằm hỗ trợ ngắn hạn, việc công khai các khoản nợ ngày
càng gia tăng cũng có thể gây ra những phả
n ứng trái chiều của thị trường, trừ
phi Chính phủ xác định chiến lược để duy trì ổn định dài hạn.
Bên cạnh đó cũng có yếu tố khả quan hơn. Cụ thể là, tình hình thị trường
tài chính toàn cầu có thể cải thiện nhanh hơn dự đoán nhờ các biện pháp,
chính sách mạnh mẽ. Điều này sẽ thúc đẩy tiêu dùng và niềm tin của khu vực
doanh nghiệp, từ đó giảm nhẹ
sức ép tín dụng và làm cho tăng trưởng toàn
cầu được cải thiện.
Các nỗ lực chính sách bổ trợ và mạnh mẽ cần được triển khai
Các nỗ lực chính sách đến nay đã giải quyết những nguy cơ bất ổn của
thị trường tài chính trước mắt, nhưng vẫn còn quá nhỏ bé để có thể giải quyết
những bất ổn về khả năng thanh toán trong dài hạn của các thể
chế tài chính.
Quá trình xem xét về các khoản nợ và tái cấu trúc các khoản nợ xấu vẫn chưa
được hoàn thành. Do đó, chính sách tài chính cần tập trung hơn để thúc đẩy
quá trình xác định những khoản nợ tín dụng và hỗ trợ cho các thể chế tài
chính. Cụ thể, cần phải có biện pháp với các ngân hàng mất khả năng thanh
toán, thành lập các cơ quan công lập để giải quyết các khoản nợ xấu, tiếp cận
các ngân hàng non yếu và bả
o vệ các tài sản công.
Chính sách tiền tệ vẫn là chính sách quan trọng. Các ngân hàng trung
ương ở một số nước đang sử dụng lãi suất 0% để kích cầu tiêu dùng và đầu
tư. Việc này có tính hỗ trợ nhất định đối với tăng trưởng thế giới.
Mặc dù suy giảm kinh tế toàn cầu có thể kéo dài, nhưng người ta cũng
đã lan rộng thành cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ tháng 10
năm 2008, làm nảy sinh những nguy cơ lớn đối với nền kinh tế các nước
thuộc khu vực Đông Á. Thị trường chứng khoán bị tác động nặng nề, khoản
nợ các công ty ngày càng tăng lên, tỉ giá hối đoái giảm nhanh chóng, luồng
vốn đầu tư trong khu vực giảm đi một nửa trong suốt 9 tháng đầu năm 2008.
Sự suy giảm c
ủa đầu tư kéo theo sự suy giảm về sản xuất, việc làm, thu nhập
của các hộ gia đình và tăng trưởng GDP.
Tăng trưởng GDP của các nước trong khu vực cũng khác biệt nhau.
Trung Quốc tăng trưởng chỉ 9,0% so với 13% năm 2007, trong đó đầu tư và
xuất khẩu giảm sút rõ rệt. Các quốc gia thuộc ASEAN5 gồm Indonesia,
Malaysia, Philipin, Thái Lan và Việt Nam có mức tăng trưởng trung bình là
4,9% trong năm 2008 so với 6,3% năm 2007. Tăng trưởng củ
a Việt Nam
giảm 2 điểm % xuống còn 6,2% do giá dầu và các hàng hoá phi dầu mỏ sụt
giá đột biến. Chỉ một vài quốc gia khác có mức tăng trưởng thấp hơn từ 3,7%
- 5,1% như Papua New Guinea và Fiji do hưởng lợi từ hoạt động xuất khẩu
dầu mỏ.
Ngay cả trước khi cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra thì đã có những
dấu hiệu cho thấy kinh tế trong khu vực sẽ rơi vào giai đoạn khó kh
ăn. Ở
Trung Quốc, tăng trưởng GDP trong quý 3 năm 2008 chỉ đạt 9% so với 11,2
% cùng kỳ năm 2007 và là quý thứ 5 suy giảm liên tiếp. Tình hình của
Malaysia và Thái Lan còn tồi tệ hơn thế. Từ quý 4 năm 2007 đến quý 2 năm
2008, tăng trưởng GDP của Thái Lan giảm từ 7,1% xuống còn 2,9%; của
17
Malaysia giảm từ 6,7% xuống còn 4,2% chủ yếu do hoạt động xuất khẩu và
tiêu dùng cá nhân giảm sút. Tuy nhiên, Indonesia lại tăng trưởng đôi chút nhờ
doanh thu từ xuất khẩu hyđrocacbon, gryxelin và dầu mỏ với giá cao.
trong bối cảnh vốn và tỉ giá hối đoái biến động phức tạp. Dòng v
ốn đổ vào
Trung Quốc vẫn duy trì ở mức khá, trong khi dòng vốn đổ vào các quốc gia
khác lại không ổn định. Đồng tiền các quốc gia cũng chịu áp lực nặng nề
khiến các ngân hàng Trung ương phải can thiệp hỗ trợ (ví dụ như Việt Nam).
Đồng Won của Hàn Quốc mất giá do thâm hụt cán cân thanh toán, hậu quả
của tình trạng khó khăn trong hoạt động ngoại thương. Biến động của tỉ giá
hối
đoái danh nghĩa tác động tới tỉ giá hối đoái thực tế, theo đó đồng nhân dân
tệ của Trung Quốc và đồng tiền các quốc gia Đông Nam Á liên tục tăng giá.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 của khu vực chỉ đạt 6,8% năm
2008. Cầu thị trường xuất khẩu giảm làm ảnh hưởng tới xuất khẩu nhưng
trong một số trường hợp có thể giả
m thiểu tác động bằng các chính sách vĩ
mô và các biện pháp giảm giá tiền tệ. Đầu tư chỉ đạt mức khiêm tốn chủ yếu
do triển vọng xuất khẩu xấu đi, tiêu dùng giảm do giá nhiên liệu và lương
18
thực vẫn ở mức cao. Triển vọng trong tương lai tình hình có nhiều dấu hiệu
khả quan hơn.
Trong nửa đầu năm 2008 chỉ số giá cả tăng cao, chủ yếu do giá lương
thực và nhiên liệu. Những dấu hiệu gần đây cho thấy, áp lực lạm phát đã giảm
đi đáng kể. Ở Trung Quốc chỉ số giá cả giảm nhẹ, do các điều kiện về cung
c
ủa mặt hàng lương thực đã được bình thường hóa. Mặc dù giá lương thực và
nhiên liệu có xu hướng giảm dần trong những tháng tới và tăng trưởng sẽ ổn
định thì về ngắn hạn, lạm phát vẫn giữ ở mức cao. Năm 2008, chỉ số lạm phát
của khu vực là 7,25%, dự kiến năm 2009 sẽ giảm xuống mức 6%.
Các nước đối phó với tình hình lạm phát theo những cách khác nhau.
Một số
như mong
muốn.
Một số quốc gia dự kiến có tăng trưởng kinh tế vững mạnh hơn thì các
chính sách vĩ mô cũng vẫn cần phải thực thi theo hướng thắt chặt (như In-đô-
nê-xia và Việt Nam). Chính sách tiền tệ thắt chặt là ưu tiên hàng đầu để hạn
chế lạm phát và trong một số trường hợp cần phải kết hợp với tính linh hoạt
của tỉ giá h
ối đoái và các chính sách tài khoá. Việc hạn chế tài khoá sẽ giúp
19
giảm áp lực lạm phát đặc biệt ở các quốc gia tăng mức trợ cấp cho lương thực
và nhiên liệu.
- Nhật Bản:
Mặc dù trong quý I năm 2008, kinh tế Nhật Bản có tăng trưởng đôi chút,
song giá hàng hoá tiêu dùng tăng và nhu cầu của các thị trường xuất khẩu
giảm đã đặt gánh nặng lên toàn bộ nền kinh tế. Trong quý 2 năm 2008, tốc độ
tăng trưởng kinh tế dự kiến chỉ
đạt 3% và trên thực tế, chỉ đạt dưới 1% trong
suốt 4 quý qua. Nền kinh tế Nhật suy giảm trong thời gian qua, chủ yếu do
tiêu dùng và đầu tư, trong khi hoạt động xuất khẩu rơi vào giai đoạn tồi tệ.
Những dấu hiệu gần đây cho thấy tình hình kinh tế Nhật trong thời gian
tới còn ảm đạm hơn rất nhiều. Nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường lớn như
M
ỹ, Châu Âu giảm sút mạnh; chi phí đầu vào gia tăng và những kỳ vọng về
lợi nhuận hầu như không có, đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu tư của
các doanh nghiệp. Thêm vào đó, giá lương thực thực phẩm và năng lượng
tăng cao, cùng với mức lương ngày càng đi xuống, đã làm chi tiêu của người
dân giảm xuống mức thấp nhất. Mặc dù so với các nướ
c khác, Nhật Bản đã
sớm tiến hành những điều kiện tài chính thắt chặt, song cũng không ngăn
20
ngày một tăng lên, do áp lực về tiền lương hưu cho người lao động vẫn phải
là một ưu tiên hàng đầu trong chính sách kinh tế trung hạn. Những kế hoạch
của Chính phủ Nhật hiện nay cần phải được thực thi hiệu quả hơn nhằm hạn
chế tình trạng vay nợ của dân chúng và đạt được sự cân bằng về tài khoá tới
năm 2010.
Như hầu hết các quốc gia khác, kinh tế
Úc và New Zealand cũng suy
giảm đáng kể sau một thời gian dài phát triển do bùng nổ thị trường nhà đất
và hàng tiêu dùng. Lạm phát lên cao tới mức kỷ lục. Chính phủ hai quốc gia
này phải đối phó tình trạng khó khăn bằng cách thực hiện các chính sách tiền
tệ thắt chặt, nhờ đó áp lực về cầu nội địa giảm đi đáng kể. Tốc độ tăng trưởng
GDP thực tế của Úc xuố
ng dưới mức dự kiến, chỉ đạt 2,1% năm 2008 so với
mức 4,0% năm 2007 và dự kiến sẽ giảm 1,4% năm 2009. Việc điều hoà cầu
thị trường nội địa và thắt chặt điều kiện tín dụng đã khiến Ngân hàng dự trữ
của Úc và New Zealand phải nới lỏng chính sách tiền tệ.
1.2. Nam Á
Tăng trưởng GDP ở khu vực Nam Á giảm sút rõ rệt trong năm 2008, chỉ
đạ
t mức 7,0%, giảm 1,7% so với năm 2007. Trong đó, tăng trưởng GDP năm
2008 của Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh lần lượt là 7,3%; 6,0% và 5,6%.
Cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra ở Mỹ và Châu Âu từ giữa tháng 9
năm 2008 đã gây ra những rối loạn về tài chính tại thị trường các nước mới
nổi, trong đó có các nước Nam Á. Tăng trưởng GDP của khu vực này cũng đã
bắt đầu giảm sút, ngay từ trước khi diễn ra cuộ
c khủng hoảng tài chính toàn
cầu với các dấu hiệu như: áp lực lạm phát tăng và điều kiện tín dụng thắt chặt,
đồng thời nhu cầu của các thị trường bên ngoài giảm và giá hàng hóa thế giới
m vào giữa
năm 2008. Điều này ảnh hưởng đáng kể tới tăng trưởng kinh tế của khu vực
và là yếu tố chính khiến cho cán cân thanh toán của khu vực thâm hụt nặng
nề. Giá hàng hóa tăng cũng tạo áp lực về lạm phát. Giá các mặt hàng tăng, đặc
biệt là lương thực, thực phẩm, dầu mỏ, năng lượng chi phối lớn đến chi tiêu
của các hộ gia đình, trong đó nhữ
ng hộ có thu nhập thấp bị ảnh hưởng nhiều
nhất. Chính phủ của một số quốc gia đã nỗ lực giảm thiểu tác động của giá cả
hàng hóa tới nền kinh tế bằng cách trợ cấp cho thị trường nội địa và điều này
đã đặt gánh nặng lên chính sách tài khóa. Các điều kiện tín dụng thắt chặt, cầu
giảm, giá hàng hóa tăng và niềm tin của dân chúng giảm sút đ
ã khiến cho tiêu
dùng và đầu tư giảm sút. Tốc độ tăng trưởng đầu tư đã suy giảm một con số
sau thời gian tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm gần đây. Ở Ấn Độ tốc
độ tăng trưởng của tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế đều suy giảm do
chính sách kinh tế tiền tệ thắt chặt, lạm phát gia tăng, thâm hụt tài khóa và cán
cân thanh toán. Khủng hoảng kinh t
ế toàn cầu đã tác động mạnh mẽ tới thị
trường chứng khoán của Ấn Độ và khiến cho đồng Rupee mất giá. Nhiều nhà
đầu tư nước ngoài đã rút khỏi Ấn Độ.
Ở Pakistan kinh tế suy giảm trầm trọng trong suốt năm 2008 với mức
lạm phát rất cao và thâm hụt cán cân thanh toán nặng nề. Thêm vào đó, những
rối loạn về chính trị và những quan ngại về tình hình an ninh sau đó là những
nhân tố tác động tới kinh tế của Pakistan. Trước khi đạt được thỏa thuận với
IMF về một khoản tín dụng vào giữa tháng 11 năm 2008, Pakistan gần như
rơi vào tình trạng khủng hoảng về thanh toán. Nền kinh tế của nước láng
giềng Afganistan cũng trên đà suy thoái, do sản lượng nông nghiệp giảm sút,
giá lương thực trên thị trường quốc tế tăng mạnh và chính sách hạn chế xuất
khẩu lúa mỳ
do chính quyền Parkistan áp đặt. Tốc độ tăng trưởng GDP của
loạt các biện pháp, trong đó có việc giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc và lãi suất.
Triển vọng trung hạn
Xét về trung hạ
n, tình hình kinh tế của các nước trong khu vực còn nhiều
bất ổn. Dự kiến tăng trưởng GDP năm 2009 của khu vực chỉ đạt 4,3%, giảm
nhẹ so với mức 7,0% của năm 2008. Trong đó, GDP của Ấn Độ, Pakistan và
Bangladesh lần lượt là 4,5%; 2,5% và 5,0%.
Những bất ổn của khu vực tài chính sẽ làm nảy sinh những rủi ro tiềm
ẩn, làm ảnh hưởng tới triển vọng FDI, đặc biệt là ở Ấ
n Độ và Pakistan. Đồng
thời các yếu tố này cũng làm cho đầu tư tư nhân giảm sút. Giá chứng khoán đi
xuống cũng tác động xấu tới tài sản của các nhà đầu tư, đặc biệt là ở Ấn Độ
với mức vốn hóa thị trường đạt 160% GDP năm 2007 và 90% năm 2006, và
thị trường nhà đất bắt đầu giảm nhiệt.
Nhu cầu của thị trường nước ngoài đang suy giả
m sẽ làm cho xuất khẩu
của các nước trong khu vực tăng trưởng chậm lại, bao gồm cả lĩnh vực dịch
vụ. Sự bất ổn của ngành công nghệ thông tin và truyền thông sẽ ảnh hưởng
lan tỏa tới các hoạt động của khu vực tài chính, sự bất ổn của nguồn thu từ
xuất khẩu quần áo và hoạt động du lịch sẽ ảnh hưởng tới chi tiêu.
Tuy nhiên, giá cả
hàng hóa thế giới dự kiến sẽ giảm, sẽ có lợi cho các hộ
gia đình và chính phủ, đồng thời làm giảm chi phí nhập khẩu, thúc đẩy hoạt
động ngoại thương. Thâm hụt cán cân thanh toán của khu vực dự kiến sẽ thu
hẹp. Thêm vào đó việc giảm giá của đồng tiền các nước so với đồng USD như
ở Ấn Độ, Pakistan và Nepal sẽ nâng cao tính cạnh tranh của hoạt động xuất
khẩu.
Để
giải quyết những khó khăn do khủng hoảng tài chính gây ra, Chính
phủ các nước Nam Á đang theo đuổi các biện pháp linh hoạt. Các chính sách
lương thực, thực phẩm và năng lượng) ở khu vực này sẽ dưới 2%. Một số
chuyên gia cho rằng lạm phát vẫn được kiểm soát tốt, trong đó, Anh sẽ có
mức lạ
m phát thấp hơn các nước khác trong khu vực.
Giá dầu và giá lương thực tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến chi tiêu của
người dân, các điều kiện tài chính nhanh chóng được thắt chặt. Các ngân hàng
ở Châu Âu đang rơi vào tình thế rất khó khăn bởi các khoản vay liên quan tới
nhà đất của Mỹ và chất lượng các khoản tín dụng đang giảm đi nhanh chóng
kể từ năm 2007. Niềm tin đối với khu vực này giảm sút rõ r
ệt. Các ngân hàng
đang cố gắng duy trì ngân quỹ của mình khi mối quan ngại về rủi ro cán cân
thanh toán ngày càng tăng lên. Tính thanh khoản trên tài sản cần phải được
cải thiện và có thể thực hiện bằng cách giảm các khoản cho vay.
Những gia đình và công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản đang
phải lâm vào cảnh nợ nần chồng chất, đặc biệt là ở I–re-land, Tây Ban Nha và
Anh – nơi các khoản vay nhà đất có mối liên hệ ch
ặt chẽ với lãi suất ngắn
hạn. Mặc dù so với Mỹ, việc kinh doanh bất động sản ở Châu Âu chiếm một
tỷ lệ lớn hơn trong các hoạt động kinh doanh, nên việc mở rộng các hoạt động
đầu tư kinh doanh bất động sản gần đây cũng ít được công bố rộng rãi, trừ
Phần Lan, Hy Lạp, Ireland, Tây Ban Nha và Anh. Hơn nữa, các quốc gia này
ít chịu ảnh hưởng của các biế
n động về tài chính ở Mỹ; tiết kiệm của các hộ