Tài liệu ĐỀ TÀI:ĐÁNH GIÁ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THUẾ NHẬP KHẨU ÔTÔ CỦA VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP doc - Pdf 10



Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trường Đại học Ngoại Thương
o0o

Công trình dự thi Cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học trường Đại học Ngoại Thương
năm 2008

Tên công trình:

ĐÁNH GIÁ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
THUẾ NHẬP KHẨU ÔTÔ CỦA VIỆT NAM
VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Nhóm ngành: XH1a
Hà Nội, tháng 7 năm 2007 2 Mục Lục
Phần 1: Đặt vấn đề

3.3.2.Tác động đến nhà nhập khẩu ô tô
3.3.3.Tác động đến các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước và tới ngành
công nghiệp ô tô của Việt Nam
3.3.4.Tác động tới thị trường ô tô
4.Một số đánh giá về chính sách thuế nhập khẩu ô tô của Việt Nam
III-Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu ô tô của
Việt Nam
1.Chỉ coi thuế nhập khẩu ô tô là công cụ hỗ trợ
2.Chính sách thuế nhập khẩu ô tô phải đảm bảo tính dự báo được
Phần 3: Kết thúc vấn đề. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 3 Việt Nam, một quốc gia đang phát triển nhanh chóng ở khu vực kinh tế năng động
nhất thế giới – khu vực Châu Á Thái Bình Dương, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, liên
tục trong nhiều năm (tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5/năm trong 5 năm 2001-
2005 và 8,17% năm 2006 và 8,44% năm 2007)
1
, mức sống của nhân dân ngày càng được
cải thiện. Vì vậy, thị trường ôtô của Việt Nam được đánh giá là một thị trường đầy tiềm
năng. Minh chứng rõ nhất cho điều này là việc xuất hiện trên thị trường hàng loạt những
thương hiệu xe nổi tiếng thế giới như: Porsche, Ferrari, Audi, Bentley, Rolls-
Royce….Tuy nhiên, sự thâm nhập ngày càng mạnh mẽ của dòng xe nhập khẩu đã khiến
cho xe sản xuất và láp ráp trong nước trở nên yếu thế. Để điều tiết thị trường nhằm thực
hiện những mục tiêu dài hạn cũng như để bảo hộ nền sản xuất ôtô còn non trẻ, Nhà Nước


1. Khái niệm thuế nhập khẩu.
1
Theo Bộ Ngoại Giao Việt Nam 4

Trong những năm vừa qua thuế nhập khẩu luôn được coi là công cụ hữu hiệu
trong việc thực hiện chính sách quản lý hàng nhập khẩu, bảo về thị trường trong nước,
góp phần tăng thu ngoại tệ cho ngân sách nhà nước và thuế quan còn là công cụ quan
trọng trong việc thực hiện công tác đối ngoại của một quốc gia.Vậy thuế nhập khẩu là gì?
Có khá nhiều khái niệm khác nhau về thuế nhập khẩu xuất phát từ những cách
tiếp cận khác nhau: từ quan điểm về kinh tế chính trị, từ góc độ cái nhìn của người thu
thuế tới người nộp thuế, rồi trên khía cạnh pháp luật…

Nhìn chung, chúng ta có thể hiểu:
Thuế nhập khẩu là một loại thuế quan đánh vào hàng mậu dịch, phi mậu dịch, khi
hàng hóa đi qua khu vực hải quan của một nước.
2Từ phát biểu trên chúng ta có thể hiểu thuế nhập khẩu ô tô của Việt Nam là một
loại thuế gián thu đánh vào mặt hàng ôtô được phép nhập khẩu qua biên giới của Việt
Nam mà chủ hàng nhập khẩu phải nộp cho cơ quan hải quan khi lô hàng ô tô vào lãnh thổ
hải quan của Việt Nam.


Theo giáo trình Chính Sách Thương Mại Quốc Tế-NXB Lao Động Xã Hội 2006 5

Tỷ suất bảo hộ danh nghĩa (Nominal Protection Rate – NPR):
Có hai loại NPR: là tỷ suất bảo hộ danh nghĩa thuế quan và tỷ suất bảo hộ danh
nghĩa thực
Bảo hộ thuế quan cho ta biết sự bảo hộ giá trị danh nghĩa là như thế nào nếu
không có hạn chế về số lượng, không có buôn lậu và những nhân tố khác có thể làm cho
thuế nhập khẩu trở nên méo mó (thừa hoặc thiếu).
Trên thực tế, khi ta thu một mức thuế đối với hàng nhập khẩu, không nhất thiết
xảy ra việc tăng giá cả tương ứng trên thị trường nội địa đối với hàng hóa đó. Vì vây, tỷ
lệ bảo hộ danh nghĩa thuế quan thường không trùng với bảo hộ danh nghĩathực. Bảo hộ
danh nghĩa thực được hiểu là chênh lệch tính bằng phần trăm (%) mà người sản xuất nội
địa nhận được và giá quốc tế. Bảo hộ thực chịu tác động của tất cả các nhân tố như: hàng
rào thuế quan, phi thuế quan, buôn lậu….
Bên cạnh tỷ suất bảo hộ danh nghĩa NPR, còn có tỷ suất bảo hộ hiệu quả
(Effective Protection Rate – EPR) khi thuế đánh vào thành phần nhập khẩu chênh lệch so
với thuế đánh vào các đầu vào nhập khẩu.
Trong tình huống không co méo mó về thuế nếu thuế nhập khẩu càng cao thì sự
bảo hộ sản xuất nội địa càng lớn. Nhưng chúng ta biết rằng, một điều quan trọng đối với
các nhà sản xuất không chỉ là giá bán hàng của mình trên thị trường mà còn là giá mua
những đầu vào cho sản xuất. Giá mua ấy cũng bị những biện pháp bảo hộ tác động đến.
Tỷ suất bảo hộ hiệu quả cho phép tính đến các tác động phối hợp của những biện pháp
bảo hộ đối với các đầu ra và các đầu vào. Tỷ suất bảo hộ hiệu quả chính là sự biến đổi
phần trăm của giá trị gia tăng vào giá nội địa so với giá trị ấy được tính theo giá quốc tế.
Bảo hộ hiệu quả thật sự càng cao thì khả năng sản xuất hàng có hiệu quả càng cao và do
vậy, nên công nghiệp đó càng được củng cố ở trong nước.
Sự kiện bảo hộ thật sự có thể khác biệt với bảo hộ thuế quan danh nghĩa mang lại

dẫn tiêu dùng trong nước.

2.3 Thuế nhập khẩu góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách

Trên mỗi đơn vị nhập khẩu, Nhà nước thu được một số thuế nhất định. Và trong
một nước mà hệ thống chưa phát triển, thuế nhập khẩu gần như là một nguồn thu chính vì
dễ thực thu. Nhiều nước châu Á phát triển nhờ vào thương mại quốc tế, và điều đáng
ngạc nhiên là thuế nhập khẩu chiếm một tỷ lệ cao trong tổng nguồn thu Chính phủ. Ví dụ:
Ấn Độ 28,5%; Philipin 24%; Thái Lan 23%, Malaysia 17%; Đài Loan 14%. Trong khi
đó, các nước giàu có tỷ lệ rất thấp Mỹ 1,4%; Canada 1,7%; Anh 0,07%; Pháp 0,03%;
CHLB Đức 0%.
Ở Việt Nam, do mở rộng hoạt động ngoại thương, nên nguồn thu từ thuế xuất
nhập khẩu cũng tăng lên qua các năm và góp phần đáng kẻ vào nguồn thu của ngân sách.
Thuế xuất nhập khẩu, chủ yếu là thuế nhập khẩu ở Việt Nam, trong những năm 90
chiếm từ 25% đến 28% tổng số thu thuế của ngân sách nhà nước. ( Giáo trình Chính sách
thương mại quốc tế 2006)

2.4 Thuế quan là công cụ quan trọng trong đàm pháp quốc tế góp phần thúc
đẩy tự do hóa thương mại.

Các quốc gia không kể quy mô và trình độ phát triển đang tìm mọi cách tham gia
vào thị trường thế giới và khu vực, nhằm thụ hưởng những lợi ích do hợp tác và phân
công lao động quốc tế mang lại. Một trong những cố gắng của các quốc gia theo hướng
này là tìm cách giảm dần và tiến tới xóa bỏ các rào cản thương mại.
Các quốc gia đã và đang đạt được những kết quả nhất định theo hướng này.
Trong 7 vòng đám phán (1948 – 1994), các thành viên GATT đã đạt được thỏa
thuận giảm thuế cho 89.000 hàng hóa. Vấn đề giảm thuế quan, các rào cản thương mại và
loại trừ phân biệt đối xử vẫn là mục tiêu cơ bản của WTO (GATT – 1994).
Theo hiệp định Urugoay (kết quả vòng đàm phán thứ 8 của GATT), từ năm 1994
đến 2005, mức thuế quan trung bình sẽ giảm 40%. Với mức giảm như vậy, mức thuế

Ví dụ: Hiện nay thuế nhập khẩu ô tô mới nguyên chiếc là 83%. Nếu nhập khẩu
một chiếc Audi R8 từ Đức với giá là 247.000 $ và cơ quan hải quan của Việt Nam chấp
nhận lấy mức giá này là mức giá tính thuế thì lượng thuế nhập khẩu phải nộp sẽ là:
Lượng thuế nhập khẩu= $ 247.000 x 1 x 83% = $ 205.010
Giá tính thuế không đồng nghĩa với giá nhập khẩu mà là giá mà cơ quan hải quan
chấp nhận để tính thuế cho lô hàng nhập khẩu đó. Theo hiệp định ACV – Agreement on
Customs Value về xác định trị giá hải quan của WTO (hiệp định ACV là hiệp định cụ thể
hóa các quy định trong điều VII của GATT 1994 cho nên còn được gọi là Hiệp định về
thực hiện điều VII của GATT 1994), Giá tính thuế là giá thực tế đã hoặc sẽ phải thanh
toán cho nghiệp vụ nhập khẩu lô hàng nhập khẩu đến cửa khẩu đầu tiên của nước nhập
khẩu.
Khi thuế nhập khẩu được tính theo giá thì việc xác định giá tính thuế là vô cùng
quan trọng vì nó liên quan đến số tiền phải đóng và chi phí này lại liên quan tới giá hàng
nhập khẩu cao hay thấp. Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã đưa ra 6 phương pháp
xác định trị giá tính thuế.

Trị giá giao dịch (Transaction value)
Là trị giá được xác định trên cơ sở giá thực đã trả hoặc sẽ trả khi hàng hóa được
bán từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu dựa trên hóa đơn hoặc ghi trên hợp đồng.
Ngoài giá ghi trên hợp đồng, giá tính thuế còn bao gồm cả những chi phí: phí hoa
hồng và môi giới, các khoản thu về sau mà người bán được hưởng phát sinh do việc bán
lại hàng, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng nhập khẩu tiếp, phí vận tải, bảo hiểm và các
loại phí liên quan khác tính đến điểm nhập khẩu…
Trị giá giao dịch của hàng giống hệt( Transaction value of identical goods)
Điều 2 hiệp định ACV quy định nếu giá tính thuế của hàng nhập khẩu không thể
xác định theo phương pháp trị giá giao dịch nói trên thì giá tính thuế sẽ là giá trị giao dịch
của mặt hàng giống hệt được bán với mục đích xuất khẩu cho cùng một nước nhập khẩu
vào cùng thời điểm hay cùng thời kỳ với lô hàng đang được xác định giá trị.
-Cước phí bảo hiểm, vận tải và chi phí có liên quan phát sinh trong phạm vi của
nước nhập khẩu
-Chi phí và phí tính gộp theo
-Lệ phí hải quan và thuế hải quan của nước nhập khẩu.
Khi áp dụng phương pháp khấu trừ, cần chú ý đến các chi tiết sau: Lựa chọn giá
cả thích hợp, thời gian và điều kiện bán hàng, số lượng lớn nhất.
Trị giá tính toán (Computed value)
Khi không thể xác định giá tính thuế theo các phương pháp trên thì hiệp định
AVC cho phép xác định giá tính thuế dựa vào tổng chi phí sản xuất ra hàng hóa nhập
khẩu. Theo phương pháp này trị giá hải quan được xác định trên cơ sở giá thành của mặt
hàng đang được xác đinh giá tính thuế cộng với một khoản lợi nhuận và chi phí chung
được phản ánh trong nghiệp vụ bán hàng cùng loại từ nước người xuất khẩu sang nước
người nhập khẩu.
Phương pháp dự phòng (Fall-back method)
Nếu không thể áp dụng các phương pháp trên, WTO cho phép xác định giá tính
thuế trên cơ sở kết hợp các phương pháp trên một cách phù hợp nhưng không được dựa
trên các cách sau: dựa trên giá nhập khẩu tối thiểu; dựa trên giá bán trong nước của hàng
hóa tương tự được sản xuất tại nước mà hàng hóa cần xác định trị giá hải quan được nhập 9

khẩu; một hệ thống cho phép chấp nhận giá cao hơn trong hai loại giá sử dụng để xác
định trị giá tính thuế quan của hàng hóa; dựa trên giá bán của hàng hóa tại thị trường
nước xuất khẩu; định giá trên cơ sở giả định hay tùy tiện.

3.2.Thuế tuyệt đối:

Là loại thuế quy định mức thuế theo giá trị tuyệt đối tính trên đơn vị hàng hóa
nhập khẩu.

- Dưới 1.000cc
8703
Chiếc
3.000,00
- Từ 1.000cc đến dưới
1.500cc
8703
Chiếc
7.000,00
- Từ 1.500cc đến 2.000cc
8703
Chiếc
9.000,00
- Trên 2.000cc đến dưới
2.500cc
8703
Chiếc
13.500,00
- Từ 2.500cc đến 3.000cc
8703
Chiếc
15.000,00
- Trên 3.000cc đến 4.000cc
8703
Chiếc
18.000,00
- Trên 4.000cc đến 5.000cc
8703
Chiếc
26.400,00
- Từ 2.000cc trở xuống
8702
Chiếc
7.200,00
- Trên 2.000cc đến 3.000cc
8702
Chiếc
10.800,00
- Trên 3.000cc
8702
Chiếc
15.000,00
Nguồn: quyết định số 14/2008/QĐ-BTC

3.3. Thuế hỗn hợp:
10

Là loại thuế vừa áp dụng tính theo số lượng vừa áp dụng tính theo giáo trên số
hàng nhập khẩu.

II- Chính sách thuế nhập khẩu ôtô của Việt Nam từ năm 2001 đến nay và
những tác động của chính sách đó.

1. Tính cần thiết phải có thuế nhập khẩu ô tô.


phương châm “pháp luật là tối thượng”.Ở Nhật có một quan niệm “điều anh nghĩ trong
đầu - pháp luật không cần quan tâm, nhưng nếu hành động của anh vi phạm pháp luật,
thì chắc chắn sẽ phải chịu sự xử lý nghiêm minh của pháp luật”. Quan điểm đó đã thấm
rất sâu vào các hoạt động liên quan tới tổ chức giao thông của Nhật Bản: ở họ là sự tự
giác, nghiêm túc và thái độ thân thiện khi tham gia giao thông. Hơn thế nữa dù ý thức
chấp hành pháp luật đã quá tốt, nhưng vẫn không thể thiếu bóng dáng “bồ câu trắng” -
những người điều khiển giao thông với sự làm việc cần mẫn và nghiêm minh. Đối với
người dân Nhật Bản, họ luôn biết đặt lợi ích của số đông, của cộng đồng lên trên lợi ích 11

cá nhân với tôn chỉ: “nhà nước vì người dân, người dân vì cộng động.”Do vậy, tuy Nhật
Bản có một lượng ôtô khổng lồ, nhưng họ vẫn có thể quản lý một cách có hiệu quả, trật
tự khi các phương tiện này tham gia giao thông. Tình trạng tắc nghẽn rất ít khi xảy ra.

Nguồn: Báo Sài Gòn Giải Phóng Online

Trong khi đó, cơ sở hạ tầng giao thông hiện nay của Việt Nam chưa đủ để đáp
ứng nhu cầu đi lại của hàng triệu ô tô, phương tiện đi lại chủ yếu hiện nay vẫn là xe máy -
một phần là do mức thu nhập của Việt Nam còn rất thấp. Thêm vào nữa, ý thức chấp
hành pháp luật khi tham gia giao thông của người Việt Nam chưa thật sự tốt. Do đó, nếu
lượng ô tô đi lại trên đường quá đông vượt ngưỡng có thể kiểm soát được thì ùn tắc chắc
chắn sẽ trở thành một bài toán hóc búa, đau đầu. Một số nước láng giềng của chúng ta
trong khu vực như Thái Lan, Indonesia đã từng mắc phải vấn nạn này và phải mất rất
nhiều công sức để giải quyết.
Ngoài ra, đối với các nước đang phát triển hay chậm phát triển thì nguồn thu từ
thuế nhập khẩu chiếm một tỷ trọng rất lớn trong thu ngân sách nhà nước. Ví dụ: Ấn Độ
28,5%; Philipin 24%; Thái Lan 23%, Malaysia 17%; Đài Loan 14%; Việt Nam 28%. Ô tô
là một mặt hàng có giá thành sản xuất và giá bán trên thị trường cao so với mức thu nhập,

12

Đối tượng chịu thuế nhập khẩu nói chung được quy định tại Nghị Định
149/2005/NĐ-CP ban hành ngày 08/12/2005 về quy định chi tiết thi hành luật Thuế nhập
khẩu, thuế xuất khẩu. Theo đó, đối tượng chịu thuế bao gồm:
Hàng hoá nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam bao gồm: hàng hoá nhập
khẩu qua cửa khẩu đường bộ, đường sông, cảng biển, cảng hàng không, đường sắt
liên vận quốc tế, bưu điện quốc tế và địa điểm làm thủ tục hải quan khác được
thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Hàng hoá được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi
thuế quan vào thị trường trong nước.
Hàng hoá mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hoá nhập khẩu.

Với mặt hàng ô tô nói riêng, từ năm 2001 đến trước ngày 01/05/2006, đối tượng
chịu thuế nhập khẩu là ô tô nguyên chiếc chưa qua sử dụng và phụ tùng, linh kiện bộ
CKD và IKD.
Kể từ ngày 01/05/2006, khi mà ô tô đã qua sử dụng được cho phép nhập khẩu vào
Việt Nam thì đối tượng chịu thuế nhập khẩu ô tô là: ô tô nguyên chiếc chưa qua sử dụng
và đã qua sử dụng, phụ tùng linh kiện bộ CKD, IKD nhập khẩu vào Việt Nam.

2.2. Đối tượng nộp thuế.

Đối tượng nộp thuế nhập khẩu nói chung và đối tượng nộp thuế nhập khẩu ô tô
nói riêng theo quy định tại Điều 4 của Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu số
45/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005, bao gồm:
a) Chủ hàng hoá nhập khẩu;
b) Tổ chức nhận ủy thác nhập khẩu hàng hoá;
c) Cá nhân có hàng hoá nhập khẩu khi nhập cảnh; nhận hàng hoá qua cửa khẩu,
biên giới Việt Nam.


hải quan là vô cùng quan trọng.
Trước đây, việc xác định trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu nói chung và ô
tô nhập khẩu nói riêng được thực hiện theo Nghị định 155/2005/NĐ-CP ban hành ngày
15/12/2005 quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu nhập
khẩu. Hiện nay, việc xác định trị giá hải quan của mặt hàng này được xác định theo Nghị
định 40/2007/NĐ-CP. Nghị định này được ban hành ngày ngày 16/3/2007 nhằm thay thế
Nghị định 155/2005/NĐ-CP.

2.5.2.Thuế tuyệt đối.

Việc tính thuế nhập khẩu cho hàng hóa áp dụng thuế tuyệt đối được thể hiện ở
Thông tư 113/2005/TT-BTC ban hành ngày 15/12/2005. Theo đó thì việc xác định số
thuế phải nộp đối với mặt hàng ô tô đã qua sử dụng áp dụng thuế tuyệt đối thực hiện theo
công thức sau:
Số thuế thuế
nhập khẩu
phải nộp
=
Số lượng đơn vị mặt
hàng thực tế nhập khẩu
ghi trong Tờ khai hải
quan
x
Mức thuế
tuyệt đối quy
định trên một
đơn vị hàng
hoá
thuế nhập khẩu ôtô mới nguyên chiếc tăng lên mức 70%. Đây là lần thứ tư Bộ Tài chính
điều chỉnh thuế nhập khẩu ô tô trong vòng hơn một năm. Chỉ có điều khác với ba lần điều
chỉnh năm 2007 (mỗi lần điều chỉnh giảm 10%, từ 90% xuống còn 60% vào tháng
10/2007), lần này Bộ Tài chính lại tăng thuế nhập khẩu lên 10% so với mức thuế hiện tại.
Một trong những lý do để tăng thuế nhập khẩu mà Bộ Tài chính đưa ra là nhằm hạn chế
ách tắc giao thông khi lượng xe nhập khẩu ồ ạt. Thống kê cho thấy, do được giảm thuế
nên năm 2007, lượng xe ô tô nhập khẩu về tăng ở mức kỷ lục, đạt 28.000 chiếc, gấp hơn
hai lần so với năm 2006, kim ngạch nhập khẩu lên tới 523 triệu USD. Năm 2008, lượng
xe nhập khẩu về tiếp tục tăng, 2 tháng đầu năm lượng xe cập cảng Việt Nam đạt khoảng
10.000 chiếc, bằng doanh số 8 tháng đầu năm 2007. Số liệu từ tổng cục thống kê cho
thấy, xe nhập khẩu nguyên chiếc đã xấp xỉ 80% lượng lắp ráp xe trong nước, tương
đương với 44% thị phần, trong khi đó, vào thời điểm tháng 8/2007, thị phần xe nhập hằng
tháng chiếm không quá 25%. Thế nhưng, trước việc không giảm giá xe của các thành
viên VAMA, và tình hình xe nhập ồ ạt chiếm lĩnh đường phố, Chính phủ đã chỉ đạo bộ
Tài Chính thực hiện đợt điều chỉnh thuế nhập khẩu ôtô đầu tiên trong năm 2008. Theo đó,
xe mới nguyên chiếc sẽ tăng từ 60% lên 70%.
Ngày 21/4/2008, Bộ Tài chính đã chính thức thông báo quyết định tăng thuế suất
nhập khẩu ô tô mới nguyên chiếc dùng chở người từ 70% lên 83%, việc tăng thuế được
áp dụng cho các tờ khai hải quan bắt đầu từ ngày 22/4/2008. Mục đích của việc tăng thuế
lần này mà Bộ Tài Chính đưa ra là để giảm ác tắc giao thông, giảm tình trạng nhập siêu
nhằm kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Ngày 13/05/2008, Bộ Tài Chính ban hành Quyết định 25/2008/QĐ-BTC. Theo
đó, linh kiện, phụ tùng ô tô nhập khẩu tăng thêm 5-10% so với mức cũ. Gương thủy tinh,
gương chiếu hậu chịu mức thuế 33-38%. Thiết bị truyền dẫn dùng cho phát thanh vô
tuyến, truyền hình có hoặc không gắn máy thu, camera số và camera ghi hình ảnh nền
chịu mức thuế là từ 15-37%. Các thiết bị ngắt mạch hay bảo vệ mạch điện, cầu chì, bộ
triệt xung điện… chịu thuế 10-29% tùy loại xe và dung tích xy-lanh.
Ngày 12/06/2008, Bộ Tài Chính ban hành Quyết định 37/2008/QĐ-BTC. Theo
đó, linh kiện, phụ tùng ô tô nhập khẩu tăng thêm từ 5% đến10% so với mức cũ.


14/2008/QĐ-BTC, 23/2008/QĐ-BTC.
16

Bảng 2-1: Sự thay đổi của thuế suất thuế nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng3
Nguồn: Quyết định 69/2006/QĐ-TTg
4
Nguồn: Quyết định 05/2007/QĐ-BTC
5
Nguồn: Quyết định 72/2007/QĐ-BTC
6
Nguồn: Quyết định 92/2007/QĐ-BTC
7
Nguồn: Quyết định 14/2008/QĐ-BTC
8
Nguồn: Quyết định 23/2008/QĐ-BTC

Mô tả mặt hàng
Mức thuế ban hành
ngày 28/03/2006
3

Mức thuế ban hành
ngày 15/01/2007
4

Giữ nguyên
3.500
- Từ 1.000cc đến dưới 1.500cc
7.000
6.300
Giữ nguyên
Giữ nguyên
7.000
8.000
- Từ 1.500cc đến 2.000cc
10.000
8.500
8.075
8.000
9.000
12.000
- Trên 2.000cc đến dưới 2.500cc
15.000
12.000
11.400
12.000
13.500
17.000
- Từ 2.500cc đến 3.000cc
15.000
15.000
14.250
13.500
15.000
18.000

9.000
7.650
7.267
7.200
8.100
10.800
- Trên 2.000cc đến 3.000cc
14.000
11.200
10.640
11.200
12.600
16.000
- Trên 3.000cc đến 4.000cc
16.000
Giữ nguyên
15.200
14.400
16.000
19.000
- Trên 4.000cc
20.000
Giữ nguyên
Giữ nguyên
24.000
Giữ nguyên
Giữ nguyên
3. Xe chở từ 10 người đến 15 người, kể cả lái
xe, có dung tích xi lanh:

3. Tác động của chính sách thuế nhập khẩu ôtô từ năm 2001 đến nay.

Để thấy rõ được những tác động của chính sách thuế nhập khẩu tới người tiêu
dùng, thị trường, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam cũng như tới các nhà nhập khẩu, các
nhà sản xuất và lắp ráp ô tô trong nước, chúng ta đi xem xét và so sánh những biến động
trước và sau mỗi đợt điều chỉnh thuế lớn.

3.1.Từ năm 2001 đến tháng 1/2007.

Có thể nói chính sách thuế nhập khẩu ôtô có tác động to lớn và nhiều mặt tới
người tiêu dùng, thị trường và cả các nhà sản xuất cũng như các nhà nhập khẩu ôtô. Tại
thời điểm từ năm 2001 đến khoảng cuối năm 2005, khi thuế nhập khẩu ôtô vẫn còn là
100% thì có thể nói thị trường ôtô Việt Nam vẫn còn rất buồn tẻ. Với mức thuế 100% thì
Việt Nam đã trở thành một trong những nước có giá ôtô cao nhất thế giới trong khi thu
nhập của người dân Việt Nam vào loại thấp nhất thế giới. Với mức thuế cao như thế thì
lượng xe nhập khẩu vào thị trường Việt Nam không nhiều. Bởi với mức giá cao do thuế
nhập khẩu là 100%, những dòng xe nhập khẩu gần như không thể cạnh tranh với các
hãng xe lắp ráp ở trong nước. Vì vậy mà thị trường ôtô Việt Nam bị chiếm lĩnh bởi các
thành viên của VAMA (Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam). Trong khi đó, các
doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ôtô ở Việt Nam hoạt động cực kỳ kém hiệu quả (công suất
thực tế hoạt động của dây chuyền thường không quá vài chục phần trăm so với công suất
thiết kế vốn đã rất nhỏ, không hiệu quả theo tiêu chuẩn lắp ráp trong ngành này) nhưng
vẫn sống khỏe nhờ giá bán cao ngất ngưởng trong khi chất lượng ôtô thấp xa so với tiêu
chuẩn ở các nước tiên tiến. Thật vậy, xe trong nước thiếu rất nhiều thứ để trở thành một
chiếc xe an toàn và tiện ích. Chẳng hạn, túi khí (Air bag) được trang bị trong xe ô tô để
khi xảy ra tai nạn người ngồi trong không bị đập đầu vào vật cứng. Thế nhưng ở Việt
Nam chỉ các loại xe đắt tiền mới có, nhưng cũng chỉ có cho người ngồi phía trước, không
có cho phía sau. Trong khi đây là yêu cầu bắt buộc ở các nước, phía trước phía sau đều

nhiệt điều hoà bị đẩy bẹp vào gầm; két mát
vỡ do đập vào lốc máy.
Nguồn: Báo Dân Trí Điện Tử
Toyota Innova G là chiếc xe một
trong những chiếc xe thành công nhất của
Toyota tại thị trường Việt Nam. Dòng xe này liên tục dẫn đầu danh sách những chiếc xe
bán chạy nhất tại thị trường Việt Nam( xếp trên cả Honda Civic và Ford Escape). Với
doanh số hàng tháng trung bình đạt trên 1.000 xe, Innova đã rất thành công và thực sự trở
thành một hiện tượng tại Việt Nam. “Làn gió mới” Innova không chỉ đứng vững ở vị trí
đầu bảng và còn lập kỷ lục với tổng cộng 20.000 chiếc đã được tiêu thụ. Mẫu xe này
chiếm 62% tổng doanh số của Toyota Việt Nam và 54% thị phần xe SUV/MPV trong
nước. Thế nhưng thực tế đã chứng minh, chiếc xe bán chạy nhất Việt Nam này vẫn còn
thua xa về chất lượng so với xe nhập khẩu.
Các hãng sản xuất, lắp ráp xe hơi tại Việt Nam quảng cáo, tiếp thị khéo đến mức
khó có một khách hàng nào lại không bị ru ngủ. Còn gì du dương, bay bổng hơn những
đêm nhạc giao hưởng của Toyota; êm ái hơn cho giấc ngủ bởi có 6 chiếc gối của Ford
Mondeo bao quanh mình…Thế nhưng những chiếc xe của họ lại không tuyệt vời như
những gì họ nói. Những chiếc xe sản xuất và lắp ráp trong nước có chất lượng kém hơn
xe nhập khẩu nhưng có giá bán lại cao hơn nhiều xe nhập khẩu cùng loại. Một chiếc xe
cùng hãng, cùng mẫu mã, không biết chúng khác nhau ở những gì mà nước ngoài bán với
giá 9.800 USD, còn khách hàng ở Việt Nam phải bỏ ra 27.800 USD. Không những thế,
người mua xe còn phải lót tay cho nhân viên bán hàng mới được lấy xe nhanh chóng.
Tháng 11/2005, Bộ Tài Chính đã giảm thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ 100%
xuống còn 90% nhằm tăng lượng xe nhập khẩu làm đối trọng với xe trong nước. Tuy
nhiên, mức thuế này dường như vẫn còn quá cao. Vì vậy mà tình hình vẫn không thay đổi
nhiều: người tiêu dùng vẫn phải mua những chiếc xe chất lượng không tốt với giá cao,
vẫn không nhận được những dịch vụ hậu mãi có chất lượng từ các nhà sản xuất.
Nhằm tạo sức ép khiến các doanh nghiệp lắp ráp ô tô trong nước (chủ yếu là liên
doanh với nước ngoài) giảm giá, đồng thời cũng nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình hội


người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn. Tuy nhiên, do mức thuế suất vẫn còn cao cho nên
dòng xe này chưa thể trở thành đối trọng khiến xe trong nước phải giảm giá.
Cũng chính vì bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, lợi ích của nhà nhập khẩu và
cũng để thực hiện cam kết đã kí khi gia nhập WTO, Bộ Tài Chính đã tiếp tục tiến hành
giảm thuế nhập khẩu ôtô.

3.2.Tác động của 3 lần giảm thuế nhập khẩu ôtô trong năm 2007.

Ba lần giảm thuế nhập khẩu trong năm 2007, đã làm cho người tiêu dùng và các
nhà nhập khẩu ô tô hồ hởi. Cụ thể là, tháng 1-2007 thuế nhập khẩu từ 90% giảm xuống
còn 80%; tháng 8 tiếp tục giảm xuống còn 70% và đến ngày 19/10/2007 giảm chỉ còn
60% (theo Quyết định 85/2007/QĐ-BTC). Thuế nhập khẩu giảm đã làm gia tăng lượng
xe nhập khẩu vào Việt Nam. Phân khúc xe nhập đã làm thị trường ô tô trong nước sôi
động một cách tích cực.
Việc giảm thuế nhập khẩu đã làm cho lượng xe nhập về tăng đột biến. Theo số
liệu từ Tổng cục Thống kê, chỉ 2 tháng đầu năm 2008 đã có gần 10.000 ô tô được nhập
khẩu nguyên chiếc, tổng giá trị gần 190 triệu USD, ước tính tăng khoảng 330% so với
cùng kỳ năm ngoái.
20

3.2.1. Tác động đến người tiêu dùng và đến các nhà nhập khẩu.

Ba lần giảm thuế liên tiếp của Bộ Tài Chính trong năm 2007 có tác động mạnh
mẽ và trực tiếp đến người tiêu dùng cũng như các nhà nhập khẩu. Việc phát triển phân
khúc xe nhập đã đem đến nhiều cái lợi. Đó không chỉ là việc đóng góp lớn về thuế cho
ngân sách mà đã góp phần làm đa dạng hóa các chủng loại sản phẩm, thương hiệu ô tô
cho người tiêu dùng lựa chọn. Chính vì được giảm thuế nhập khẩu nên trong năm 2007

Ngoài 2 hãng đại gia trên, hầu hết các hãng khác cũng đã giảm giá xe tuy mức
giảm vẫn còn thấp. Công ty Trường Hải - nhà nhập khẩu các sản phẩm nhãn hiệu Kia
cũng đã giảm xe: Kia Morning có giá là 17.700 giảm xuống còn 17.200 USD.
Tuy nhiên, mức giảm của các doanh nghiệp nhập khẩu vẫn thấp hơn mong đợi
của xã hội. Theo tính toán mức giảm giá của công ty nhập khẩu vẫn thấp hơn so với mức
giảm thuế nhập khẩu của Bộ Tài chính. Nếu thuế nhập khẩu giảm 10% thì tổng số thuế
được giảm (sau khi tính thuế nhập khẩu, GTGT, tiêu thụ đặcbiệt) sẽ tương ứng khoảng
17% đối với xe 7 chỗ ngồi và 19% đối với xe 5 chỗ ngồi. Tính ra mỗi xe sẽ có mức giảm 21

2000-3000USD chỉ chiếm 4-5% đối với loại xe có giá thấp hơn 50.000USD; còn loại xe
trên 70.000USD thì mức giảm này tính ra chỉ khoảng 2-3%.
Mức giảm ấy tuy ít hơn kỳ vọng của nhiều người nhưng đó cũng có thể coi là một
động thái tích cực của các nhà nhập khẩu nhằm giảm bớt gánh nặng về giá cho người tiêu
dùng. Như vậy, việc giảm thuế nhập khẩu ô tô (cả 3 lần giảm thuế nói chung) đã mang lại
tác động tích cực cho người tiêu dùng và cả các nhà nhập khẩu. Với mức thuế mới, người
tiêu dùng có thể mua những loại xe nhập khẩu với chất lượng tốt hơn, đồng thời cũng tiết
kiệm được một khoản chi phí đáng kể do giảm thuế nhập khẩu làm giảm giá xe nhập. Đối
với các nhà nhập khẩu, việc giảm thuế lần này thực sự đã mang lại rất nhiều cơ hội cho
họ. Việc giảm giá của dòng xe nhập khẩu đã khiến người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn
đến dòng xe này. Thị trường xe nhập trở nên nhộn nhịp hơn, các doanh nghiệp nhập khẩu
hàng về còn không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường.

3.2.2.Tác động đến các nhà sản xuất và lắp ráp ô tô trong nước.

Mục đích của Bộ Tài Chính trong các lần giảm thuế trong năm 2007 còn là để
kích cầu cho xe nhập về nhiều làm đối trọng về giá với xe sản xuất trong nước. Sau khi
Bộ Tài chính có quyết định giảm thuế suất thuế nhập khẩu một số mặt hàng trong đó có ô


Vậy, câu hỏi đặt ra là: “Tại sao các liên doanh trong nước không giảm giá xe
trong khi giá xe nhập khẩu đã giảm?”
Theo nhóm tác giả, sở dĩ các liên doanh trong nước không giảm giá xe là do các
nguyên nhân sau:
Thứ nhất, giá xe của các liên doanh trong nước khi tung ra thị trường vẫn thấp
hơn so với mức độ giảm giá của xe nhập khẩu nên họ vẫn bình chân như vại. Điều đó cho
thấy việc giảm thuế suất như thế là chưa đủ để buộc xe trong nước giảm giá và mức độ
bảo hộ đối với ngành công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn còn quá cao. Trong vấn đề này,
cũng cần bàn thêm về chính sách thuế đối với linh kiện, phụ tùng nhập khẩu để sản xuất,
lắp ráp ô tô ở trong nước. Riêng đối với công nghiệp ô tô Việt Nam, có một thực tế là hầu
như 100% là nhập khẩu dưới dạng linh kiện rời từ nước ngoài để lắp ráp, gần như không
có sản xuất nội địa, tỷ lệ nội địa hóa rất thấp ( chủ yếu là công lao động mà thôi) và mặc
dù có chính sách khuyến khích về tăng tỷ lệ nội địa hóa, thì bản thân các doanh nghiệp
sản xuất lắp ráp ô tô trong nước cũng bằng cách này, hay cách khác để lách qua những
quy định tỷ lệ nội địa hóa. Ví dụ như Toyota Việt Nam là một trong các doanh nghiệp có
tỷ lệ nội địa hóa cao nhất hiện nay. Tuy nhiên để có được điều này, họ đã nhập dây
chuyền dập tôn, nhôm từ nước ngoài, nhập nhôm từ nước ngoài và làm mỗi một công
đoạn là dập sau đó tuyên bố sản xuất ở Việt Nam, nhờ đó tăng được tỷ lệ nội địa hóa lên.
Do đó, để điều tiết hành vi của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước không
chỉ cần có thuế đánh vào thành phẩm, mà còn cả thuế đánh vào linh kiện nữa. Với mức
thuế nhập khẩu linh kiện sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước hiện đang ở mức thấp, với
những ưu đãi về thuế để khuyến khích đầu tư ban đầu, ưu đãi về tiền thuê mặt bằng, giá
nhân công rẻ mạt, chưa kể các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước sẵn sàng nhập khẩu
các linh kiện giá rẻ, kém chất lượng về để lắp ráp nhằm đảm bảo giá thành, trong bối
cảnh chưa có một tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam ( có lẽ đây cũng
là nguyên nhân dẫn đến việc ô tô sx, lắp ráp trong nước chất lượng thấp như thế) thì thuế
nhập khẩu ở mức 60 %, một mức giảm giá xe nhập khẩu chỉ ở mức 4- 5%, vẫn đảm bảo
lợi nhuận cho xe sản xuất, lắp ráp nội địa vì mức giá của xe nội địa vẫn thấp hơn xe nhập
khẩu. Một điều nữa là tâm lý của các nhà nhập khẩu ô tô, vì giá ô tô Việt Nam đang ổn

10/2006. Dẫn dắt thị trường vẫn là những cái tên quen thuộc như Innova, Camry,
Chevrolet Captiva, Everest 4x2, Grandis, APV, Hi-Lander… Capitva là mẫu bán chạy
nhất trong dòng xe thể thao việt dã, với 440 xe, còn Honda Civic dẫn đầu thị trường
sedan với 518 xe, tăng 85 chiếc so với tháng trước.
Trong tháng 10/2007, Toyota tiếp tục dẫn đầu thị trường ôtô Việt Nam và Hiệp
hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam với 2.016 chiếc. Kế đến là Tổng Công ty Công nghiệp
Ôtô Việt Nam (Vinamotor) đã tiêu thụ được 1.268 xe, và thứ ba là Trường Hải với 1.209
xe. Tính gộp 10 tháng đầu năm, các thành viên VAMA đã tiêu thụ tổng cộng 58.320 xe,
tăng 88% so với cùng kỳ năm ngoái và cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2006 (40.853
chiếc) và năm 2005 (39.876 chiếc).

Bảng 2-2: Tình hình tiêu thụ xe trong tháng 10/2007

Loại xe
Bắc
Trung
Nam
Tổng
cộng
(chiếc)
Xe du lịch
1
.047
9
9
7
18
1.8
64
Xe đa dụng MPV

.002
4.2
23
Tổng cộng
3
.801
9
54
4
.326
9.0
81
Nguồn: Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt nam(VAMA)

Nói tóm lại, việc giảm thuế nhập khẩu là một động thái đúng đắn của Bộ Tài
Chính nhưng nó là chưa đủ để làm giảm giá bán xe bởi tình trạng khan hiếm hàng vẫn
còn tiếp diễn. Cũng chính vì khan hiếm hàng mà cho dù giá bán cao ngất ngưởng đã
đành, các khách hàng còn phải lạy lục người bán để mua được một chiếc xe. Cho nên
việc điều chỉnh thuế nhập khẩu ô tô( cả ô tô đã qua sử dụng và chưa qua sử dụng) của Bộ
Tài Chính không có tác động đáng kể đến các liên doanh sản xuất và lắp ráp ô tô trong
nước. 24 3.3 Tác động của quyết định tăng thuế nhập khẩu ôtô trong năm 2008

Trong năm 2007, sau ba lần liên tiếp có quyết định giảm thuế nhập khẩu ôtô của
Bộ Tài Chính, mức thuế suất từ 90% xuống chỉ còn 60%; điều này nhận được sự hưởng

tiêu chuẩn chất lượng, môi trường, hay có thể sản xuất và đáp ứng được từ trong nước:
chẳng hạn phân bón, dầu mỡ động thực vật, thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu, đường
tinh luyện Trong khi đó, ôtô chính là mặt hàng trong nước chưa đáp ứng được và nhu
cầu đang ngày càng lớn.
Theo nhiều ý kiến, có vẻ lợi ích dường như đang dồn về phía các doanh nghiệp
sản xuất trong nước mà chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Họ vừa
có thể tăng lượng xe sản xuất, tăng giá bán xe, hưởng ưu đãi thuế trong khi nhu cầu và lợi
ích tiêu dùng bị xâm hại bởi tình trạng khan hiếm và đội giá của mặt hàng này, cái thiệt
lớn nhất thuộc về người tiêu dùng. Bởi vì chỉ sau một tuần có quyết định tăng thuế nhập
khẩu lên 70%, nhưng thị trường đã có dấu hiệu găm hàng và làm giá. Theo tính toán của
các chuyên gia, khi tăng thuế nhập khẩu từ 60% lên 70% thì giá xe sẽ tăng cao lắm 25

khoảng 6%, thế nhưng hiện đã có nhiều doanh nghiệp kinh doanh cho biết sẽ tăng giá xe
lên 10%-15%. Phải chăng đây là cơ hội bóp chẹt người tiêu dùng?
Bên cạnh thuế nhập khẩu đối với xe mới nhập khẩu nguyên chiếc thì thuế đối với
xe cũ nhập khẩu cũng đã được tăng lên. Theo tính toán, với mức thuế mới đối với xe đã
qua sử dụng này, giá xe nhập về Việt Nam sẽ tăng từ 5-15% tùy loại xe (tùy dung tích xy-
lanh). Hiện nay, giá một chiếc xe đã qua sử dụng nhập về Việt Nam có giá chênh lệch
không đáng bao nhiêu so với xe mới sản xuất trong nước. Chính vì thế, gần như ngay sau
khi thông tin tăng thuế được đưa ra, trên các diễn đàn về ôtô tràn ngập những thông tin
phản ứng. Phần lớn đó là những ý kiến rất không vừa lòng, không có sự đồng tình đối với
quyết định của Bộ Tài Chính.
Phản ứng của hầu hết các doanh nghiệp cũng như người dân đều cho rằng việc
tăng thuế này có tác dụng chính là bảo hộ cho các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp trong
nước. Điều đáng nói là 3 lần giảm thuế trong năm 2007 của Bộ Tài chính nhằm ép các
liên doanh giảm giá bán thế nhưng trái với mong muốn của Bộ Tài chính,giá bán xe trong
nước không hề giảm. Thế nên, việc liên tục tăng thuế trong đầu năm 2008 được coi như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status