Đề án “Tình hình huy động vốn đầu tư phát triển ở Việt Nam ” - Pdf 71


ĐỀ ÁN

“Tình hình huy động
vốn đầu tư phát triển ở
Việt Nam ”

1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời gian vừa qua Việt Nam đã có những bước phát triển khá thuyết
phục. Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt 7-8%/năm, tình hình chính trị ổn
định và trong con mắt của các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam là một trong những
môi trường đầu tư hấp dẫn, ẩn chứa nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, tiếp tục duy trì và
hơn thế nữa là đẩy mạnh sự tăng trưởng này đ
ang được xem là nhiệm vụ cấp bách,
hàng đầu trong công cuộc Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá, đưa Việt Nam tiến lên
Chủ nghĩa xã hội.
2PHẦN I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
1. Khái niệm đầu tư và đầu tư phát triển
Cùng với xu hướng phát triển chung của xã hội, hoạt động đầu tư trở thành
một nhân tố không thể thiếu cho sản xuất, cho việc gia tăng nguồn lực cho nền
kinh tế. Nhiều nhà kinh tế học đã dưa ra những quan niệm khác nhau khi nhìn
nhận vấn đề đầu tư; nhưng trước hết đầu tư được hiểu là sự hy sinh các nguồn lực
ở hiện tại để tiế
m hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định
trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật
chất, tài sản trí tuệ…
Hoạt động đầ
u tư trực tiếp tái sản xuất các cơ sở vật chất kỹ thuật gọi là đầu
tư phát triển. Đó là một quá trình có thời gian kéo dài trong nhiều năm với số
lượng các nguồn lực được huy động cho từng công cuộc đầu tư khá lớn. Đối với
từng cá nhân, đơn vị đầu tư là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và tiếp tụ
c
phát triển mọi hoật động sản xuất kinh doanh dịch vụ. Đối với nền kinh tế, đầu tư
là yếu tố quyết định sự phát triển nền sản xuất xã hội, là chìa khoá của sự tăng
trưởng.

P2
D’ O Q0 Q1 Q2 Q

Cho đến những năm đầu của thập kỷ 50 thế kỷ XX, Nurkse đã nhấn mạnh
hơn đến vai trò của đầu tư và vốn đầu tư
đến sự phát triển cảu nền kinh tế. Nurkse
cho rằng việc thiếu vốn đầu tư là một nguyên nhân gây ra tình trang nghèo đói.
Ông đã chỉ ra cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói (vicious circle of poverty):
Về phía cung: Một quốc gia có thu nhập thấp sẽ có khả năng tích tuỹ thấp,
tích luỹ thấp dẫn đến thiếu vốn đầu tư, thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng lực sản xuấ
t
bị hạn chế và năng suất lao động cũng không thể tăng cao, năng lực sản xuất thấp
sẽ dẫn đến thu nhập thấp.
Về phía cầu : Thu nhập thấp làm cho sức mua thấp, sức mua thấp làm cho
động lực tăng đầu tư bị hạn chế, đầu tư bị hạn chế dẫn đến năng lực sản xuất thấp
và từ
đó cũng sẽ lại dẫn đến thu nhập thấp.
Thực tế cho thấy, các nước nghèo hiện nay trên thế giới hầu hết chịu cảnh
nghèo đói một phần do những nguyên nhân trên. Tức là sự nghèo đói tại các quốc
gia này một phần là do thiếu vốn đầu tư và sự đầu tư thích đáng, có hiệu quả.
Nguyên nhân của tình trạng đầu tư hạn chế tại các nước này là do hoặ
c vì thiếu
động lực thúc đẩy đầu tư hoặc là khả năng tích luỹ của nền kinh tế quá nhỏ.
Điều này cho thấy rằng, để phát triển và thực hiện xoá đói giảm nghèo thành
công thì phải làm sao phá vỡ được cái vòng luẩn quẩn trên. Một trong những biện
đất đai và
các khả năng sinh học nên để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5-6% là rất khó. Như
vậy chính sách đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc
gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những m
ất cân đối về phát
triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát ra khỏi tình
trang đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh vế tài nguên, địa thế, kinh tế
của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy ngững
vùng khác cùng phát triển.
2.3 Đầu tư tác động tới việc tăng cường khả năng khoa học và
công nghệ của đất nước 5

Xuất phát từ nền công nghiệp lạc hậu, nền kinh tế kém phát triển, công nghệ
là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển
và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta. Theo UNIDO, nếu chia quá trình
phát triển công nghệ của thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt Nam năm 1990 ở giai
đoạn 1 và 2. Với trình độ công nghệ hiện nay, quá trình Công nghiệp hoá- Hiện
đạ
i hoá cảu Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra một chiến lược
đầu tư phát triển công nghệ nhanh và vững chắc.
Có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu phát minh ra công
nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài. Dù là tự nghiên cứu hay nhập từ nước
ngoài cũng cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư. Một phương án đổi mới công
ngh
ệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là phương án không khả thi.
2.4 Đầu tư tác động tới quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

nghệ, cơ sở hạ tầng… Do đó, trong những bước đi ban đầu, để tạo được cú “hích”
đầu tiên cho sự phát triển, để có được tích luỹ ban đầu từ trong nước cho đầu tư
phát triển kinh tế, không thể không huy động vốn từ nước ngoài. Không có một
nước chậm phát triển nào trên con đường phát triển lại không tranh thủ nguồn vốn
đầu tư nước ngoài, nhất là trong diều kiện nền kinh t
ế mở.
Tuy nhiên, cở sở vật chất kỹ thuật để có thể tiếp thu và phát huy tác dụng của
vốn đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế của đất nước lại chính là khối
lượng vốn đầu tư trong nước. Tỷ lệ giữa vốn huy động được ở trong nước để tiếp
nhận và sử dụng có hiệu quả vốn nướ
c ngoài tuỳ thuộc vào đặc điểm và điều kiện
phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước. Ở Trung Quốc, tỷ lệ này là 5:1, một số
nước khác là 3:1, Việt Nam, theo các nhà kinh tế, tỷ lệ này phải là 2:1.
Nói như vậy để thấy một điều là : Nguồn vốn huy động trong nước và nguồn
vốn huy động từ nước ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông qua nhiều
cơ chế tác động, cả trực tiếp và gián tiếp, nguồn vốn nước ngoài có tác dụng rất
lớn làm cho nguồn vốn trong nước tăng lên cả về quy mô và hiệu quả sử dụng.
Đồng thời, các nguồn vốn trong nước cũng tác động tích cực trở lại đối với nguồn
vốn nước ngoài. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, hai nguồn vốn này cũng gây
ra những tác động tiêu cực cho nhau và ảnh hưở
ng không tốt đến sự phát triển
kinh tế của nước nhận đầu tư.
Trước hết, ta hãy cùng xem xét tác dộng của nguồn vốn trong nước đối với
vốn nước ngoài. Có thể nói, nguồn vốn trong nước giữ vai trò quyết định trong
chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Xét về lâu
dài thì nguồn vốn đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tụ
c, đưa đất
nước đến sự phần vinh một cách chắc chắn và không phụ thuộc phải là nguồn vốn
đầu tư huy động được ở trong nước. Quy mô của nguồn vốn trong nước là nhân tố
cơ bản cho phát triển kinh tế. Thực tế là trong một khoảng thời gian tương đối dài,

vốn nước ngoài đầu tư
vào Việt Nam, vốn trong nước vẫn tiếp tục gia tăng. Nhờ
những nỗ lực trên, trong năm 2000 chúng ta đã ngăn chặn được sự giảm sút về tốc
độ tăng trưởng và làm cho nguồn vốn nước ngoài gia tăng trở lại với sức hút của
một thị trường ổn định và an toàn cho hoạt động đầu tư.
Như vậy, sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam vớ
i nguồn gốc là sự gia tăng
lượng vốn trong nước đã tạo uy tín cho thị trường Việt Nam đối với các nhà đầu tư
quốc tế và qua đó nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam đã tăng đáng kể. Sự tác
động của vốn đầu tư trong nước đối với sự tăng hay giảm của đầu tư nước ngoài
còn thể hiện ở chỗ : Các nguồn vố
n trong nước, đăc biệt là nguồn vốn của ngân
sách nhà nước được sử dụng để xây cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng càng hiện đại,
càng đồng bộ thì hoạt động đầu tư càng thuận lợi và khi đó dòng vốn chảy vào
càng nhiều.
Theo những phân tích trên, nguồn vốn trong nước có ảnh hưởng rất lớn đến
các nguồn vốn nước ngoài. Đến lượt mình, nguồ
n vốn huy động từ nước ngoài đã
tạc dộng trở lại đối với nền kinh tế Việt Nam một cách tích cực và tác động không
nhỏ tới nguồn vốn trong nước. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, tốc độ
tăng GDP của nước ta năm 1995 là 9,5% nhưng nếu không có đầu tư trực tiếp
nước ngoài thì mức tăng trưởng chỉ đạt được 5,2%, tức là đầu tư trực ti
ếp nước
ngoài đã tạo ra tốc độ tăng trưởng GDP là 4,3%. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế,
khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn tạo ra một khối lượng lớn việc làm,
tăng thu nhập cho người lao động. Đây chính là nguồn gốc của tích luỹ để tăng
vốn cho đầu tư. Mặt khác, đời sống của người lao động được cải thiện, nhữ
ng nhu
cầu thiết yếu được đáp ứng tốt hơn, các nhu cầu cao hơn nảy sinh, mở ra những cơ
hội lớn đối với các nhà sản xuất. Nói một cách khác, nó góp phần kích thích các

nhà đầu tư
nước ngoài là lợ nhuận nên việc họ đầu tư vào các lõnh vực có tỷ suất
lợi nhuận cao là điều tất yếu. Tuy nhiên, một khối lượng vốn lớn từ nước ngoài
đầu tư vào, trong nhiều trường hợp, cũng khiến các nguồn vốn trong nước phải
chuyển sang những hướng đầu tư khác không thuận lợi. Ở nước ta, tuy sự tiêu cực
này chưa được thể hiệ
n rõ nét nhưng đó là bài học để chúng ta có những biện pháp
nhằm hạn chế những tác động không tốt của vốn nước ngoài. Vấn đề đặt ra là
chúng ta phải nhận thức được vốn đầu tư chủ yếu phải dựa vào tích luỹ trong nước
và do đó phải thực hiện các chính sách và giải pháp để phát triển kinh tế nhằm
tăng nhanh tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, khuyến khích ti
ết kiệm.

III. NỘI DUNG CỦA VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
1. Nguồn vốn trong nước
9

Đứng trên góc độ vi mô của nền kinh tế, chúng ta phân chia nguồn vốn trong
nước theo các nguồn hình thành sau: Vốn của Doanh nghiệp quốc doanh

Nguồn vốn trong nước Vốn của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Vốn của các tổ chức phi lợi nhuận
Đứng trên góc độ vĩ mô, chúng ta lại chia nguồn vốn trong nước theo các


 Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: Cùng với quá trình
đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng đóng vai trò
đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Nếu như trước năm 1990, vốn
tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước chưa được sử dụng như một công cụ quản
lý và điề
u tiết nền kinh tế thì trong giai đoạn 1991-2000, nguồn vốn này đã có mức
tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của
chính phủ.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong
việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các
đơn vị s
ử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ
đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ
phương thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có
khả n
ăng thu hồi vốn trực tiếp.
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư của nhà nước còn phục vụ công tác quản lý
và điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn tín dụng đầu tư, nhà nước thực hiện
việc khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định
hướng chiến lược của mình. Đứng ở khía cạnh là công cụ điều tiết vĩ
mô, nguồn
vốn này không chỉ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn thực hiện cả
mục tiêu phát triển xã hội. Việc phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn
khuyến khích phát triển những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội
như xoá đói giảm nghèo. Và trên hết, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà
nước có tác dụng tích cực trong việ
c chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá.

ững năm gần đây các loại hình doanh nghiệp
dân doanh có những bước phát triển mạnh mẽ. Hoạt động đầu tư từ khu vực này
gia tăng mạnh mẽ. Hàng chục ngàn doanh nghiệp được thành lập mới với số vốn
hàng chục tỉ đồng (chỉ riêng 8 tháng đầu năm 2001, có khoảng 11 ngàn doanh
nghiệp mới được thành lập với số vốn 13.000 tỉ đồng). Nhà nước cũng có những
hỗ tr
ợ thiết thực nhằm tăng cường thêm sức mạnh cho các doanh nghiệp tư nhân.
Các cuộc hội thảo liên tiếp được mở ra, mục đích là lắng nghe, tiếp nhận ý kiến
của các doanh nghiệp, từ đó tiến hành điều chỉnh luật cũng như ban hành các
chính sách mới tạo diều kiện hơn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, tăng khả
năng cạnh tranh khi hộ
i nhập quốc tế và khu vực. Đặc biệt là với các doanh nghiệp
có quy mô vừa và nhỏ, các dự án hỗ trợ về luật, nghiệp vụ, việc thành lập các tổ
chức, hiệp hội theo ngành nghề, lĩnh vực đang là những hoạt động có ý nghĩa được
Đảng và Nhà nước quan tâm kịp thời, đúng mức. Thực tế cho thấy, các doanh
nghiệp tư nhân đã có thêm những sức mạnh mới, Việ
t Nam đã được bạn bè trên
thế giới biết đến qua nhiều thương hiệu nổi tiếng, điều này càng khẳng định vai trò
không nhỏ của doanh nghiệp tư nhân cũng như số lượng vốn huy động được từ
khu vực này. Dự báo trong thời gian tới, các doanh nghiệp sẽ còn tăng thêm cả về
số lượng, quy mô vốn cũng như chất lượng hoạt động. Đây sẽ là câu h
ỏi đặt ra cho
các nhà kinh tế trong việc quản lý hoạt động và cũng sẽ là bài toán có nhiều lời
giải cho việc huy động vốn đầu tư từ khu vực được đánh giá là còn chứa ẩn nhiều
tiềm năng này.
1.3 Tiết kiệm của khu vực dân cư
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trong
dân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích luỹ truyền
thống, nhìn tổng quan, nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ, tồn


hội của nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, với vốn đầu tư trực tiếp, nước nhận đầu tư
không phả
i lo trả nợ, lại có thể dễ dàng có được công nghệ (do nguời đầu tư đem
vào góp vốn và sử dụng), trong đó có cả công nghệ bị cấm xuất theo con đường
ngoại thương, vì lý do cạnh tranh hay cấm vận nước nhận đầu tư; học tập được
kinh nghiệm quản lý, tác phong làm việc theo lối công nghiệp của nước ngoài,
gián tiếp có chỗ đứng trên thị trường thế giới, nhanh chóng được th
ế giới biết đến
thông qua quan hệ làm ăn với nhà đầu tư. Nước nhận đầu tư trực tiếp phải chia sẻ
lợi ích kinh tế do đầu tư đem lại với người đầu tư theo mức độ góp vốn của họ. Vì
vậy có quan điểm cho rằng đầu tư trực tiêp sẽ làm cạn kiệt tài nguyên của nước
nhận đầu tư.
Tùy theo đi
ều kiện cụ thể của mình các nước ASEAN và NICs Đông Á, có
nước dựa chủ yếu vào vốn đầu tư gián tiếp (Hàn Quốc, Philipin, Thái Lan, 13

Inđônêsia, Malaixia), có nhiều nước lại chủ trọng vốn đầu tư trực tiếp (Singapo,
Hông Kông).
Để thu hút nhanh các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, các nước
ASEAN và NICs Đông Á đã tạo môi trường thuận lợi cho nàh đầu tư như cung
cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ, có luật đầu tư ưu đãi, luật các khu chế xuất. Hướng thu
hút vố
n đầu tư nước ngoài ở các nước ASEAN là kỹ thuật cao, ở các nước NICs là
phục vụ xuất khẩu.
2.2 Vốn đầu tư gián tiếp
Đây là nguồn vốn của chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính
phủ được thực hiện dưới các hình thức khác nhau là viện trợ hoàn lại, viện trợ

kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nước đi vay, của thụ trường thế giới và xu 14

hướng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại thường
được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn.
Một bộ phận của nguồn vốn này có thể được dùng để đầu tư phát triển. Tỷ trọng
của nó có thể gia tăng nếu triển vọng tăng trưởng c
ủa nền kinh tế là lâu dài, đặc
biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là sáng sủa. Đối với Việt Nam, việc
tiếp cận đối với nguồn vốn này vẫn còn khá hạn chế.
2.4 Vốn đầu tư gián tiếp của tư nhân nước ngoài thông
qua thị trường vốn quốc tế
Với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường
vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn
vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn
cầu. Thực tế cho thấy, mặc dù trong vòng 30 năm qua tất cả các nguồn vốn đều có
sự gia tăng về khối lượng nh
ưng luồng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán có
mức tăng nhanh hơn các luồng vốn khác. Tính từ đầu những năm 70 đến cuối
những năm 90 của thế kỷ XX, vốn đầu tư trực tiếp cảu các nước thuộc nhóm G7
chỉ tăng 30 lần, trong khi đầu tư chứng khoán tăng khoảng 200 lần. Riêng trong
thập kỷ 90, khối lượng cổ phiếu mà các nước công nghiệ
p phát triển đã phát hành
trên thị trường vốn quốc tế đã tăng 6 lần, đạt khoảng 4 tỷ USD.
Ngay tại nhiều nước đang phát triển, dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng
khoán cũng gia tăng mạnh mẽ. Mặc dù vào nửa cuối những năm 90, có sự xuất
hiện của một số cuộc khủng hoảng tài chính nhưng đến cuối năm 1999 khối lượng
giao dịch chứng khoán tại các thị trường mới nổi vẫn rất đáng kể. Riêng năm

được mức lãi suất ưu
đãi hơn so với các hình thức vay nợ khác.
 Đối với hình thức huy dộng này, người đi vay có thể tăng thêm tính
hấp dẫn bằng cách đưa ra một số yếu tố kích thích như: cho phép
chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu hoặc nếu mua đợt này sẽ được ưu
tiên mua trong những đợt phát hành sau. Với những yếu tố kích thích
như trên thì có thể khuyến khích nhiều người mua trái phiếu hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh
đó thì hình thức phát hành trái phiếu ra thị trường vốn
quốc tế vẫn còn một số trở ngại đối với Việt Nam. Đó cũng là nhược điểm hay hạn
chế của biện pháp huy động vốn này.
 Hệ số tín nhiệm của Việt Nam rất thấp, thậm chí Việt Nam chưa được
các tổ chức quốc tế xếp hạng độ tín nhiệm. Chính vì vậy, nế
u phát
hành thì trái phiếu của Việt Nam sẽ phải chịu lãi suất ở mức cao.
 Việt Nam vẫn còn quá ít kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Bên cạnh
đó, so với một số hình thức huy động vốn khác thì thời gian chuẩn bị
vẫn còn tương đối dài.
Bởi vậy để phát hành trái phiếu ra thị trường vốn quốc tế, Việt Nam phải
nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng, lựa chọn cẩn thận hình thứ
c trái phiếu phát hành,
thời gian đáo hạn, thị trường phát hành và nhà bao tiêu phù hợp với điều kiện của
bên Việt Nam. Hơn nữa, cũng cần cân nhắc thận trọng giữa việc huy động vốn qua
phát hành trái phiếu với các hình thức huy động vốn khác, như đầu tư trực tiếp và
vay nợ qua hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, bên cạnh việc xây dựng dự án cho việc
phát hành trái phiếu, Việt Nam cũng cần xây dựng mộ
t kế hoạch chi tiết cho việc
sử dụng vốn có hiệu quả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status