MỤC LỤC
PHẦN MỘT: LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................1
PHẦN HAI: NỘI DUNG.........................................................................................................4
Chương I: Khái quát chung về đầu tư và vấn đề huy động vốn đầu tư vào ngành Dầu khí
Việt Nam..............................................................................................................................4
I / Đầu tư và nguồn vốn đầu tư........................................................................................4
1.Khái niệm về đầu tư..................................................................................................4
2.Đầu tư phát triển.......................................................................................................5
3. Vốn và nguồn vốn...............................................................................................12
II. Đặc điểm của ngành dầu khí và vấn đề huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí...26
1.Đặc điểm của ngành dầu khí...................................................................................26
2/ Sự cần thiết phải huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt Nam ..............27
Chương II : Thực trạng và giải pháp huy động vốn đầu tư vào ngành Dầu khí ở Việt
Nam giai đoạn hiện nay......................................................................................................29
I/ Thực trạng huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt Nam.............................29
1/ Tình hình phát triển ngành dầu khí ở Việt Nam những năm qua. .......................29
2/ Quy mô và tốc độ huy động vốn vào ngành Dầu khí ở Việt Nam.......................41
II/ Đánh giá thực trạng huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt Nam thời gian
qua:.................................................................................................................................43
1./ Những kết quả đạt được: .....................................................................................43
2/ Những hạn chế còn tồn tại trong vấn đề huy động vốn và phát triển ngành dầu
khí ở nước ta...............................................................................................................49
III Một số giải pháp nhằm huy động vốn đầu tư vào phát triển nghành Dầu khí ở
Việt Nam .......................................................................................................................51
1. Định hướng phát triển ngành Dầu khí những năm tới:......................................51
2. Những cơ hội và thách thức trong vấn đề phát triển ngành Dầu khí :..............53
3. Những yêu cầu đặt ra để huy động vốn có hiệu quả:........................................56
4. Những giải pháp cơ bản để huy động vốn vào phát triển ngành Dầu khí ở Việt
Nam :..........................................................................................................................58
PHẦN BA: LỜI KẾT.............................................................................................................63
PHẦN MỘT: LỜI MỞ ĐẦU
có những giải pháp cụ thể thu hút các nguồn vốn đầu tư vào phát triển ngành
Dầu khí. Đưa ngành Dầu khí phát triển xứng đáng với tiềm năng sẵn có của
đất nước.
2
Tuy bài viết đã có nhiều cố gắng, song không tránh khỏi những thiếu sót
cũng như nhiều hạn chế, em mong sự đóng góp của thầy cô giáo để bài viết
được hoàn thành tốt hơn.
Bài viết được hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo, Tiến sỹ:
Trần Mai Hương. Em xin chân thành cảm ơn cô.3
PHẦN HAI: NỘI DUNG
Chương I: Khái quát chung về đầu tư và vấn đề
huy động vốn đầu tư vào ngành Dầu khí Việt Nam.
Trước khi đi sâu vào nghiên cứu vấn đề “huy động vốn đầu tư cho sự
phát triển ngành Dầu khí”, em xin trình bày những khái niệm cơ bản về đầu
tư, đầu tư cho phát triển và các nguồn vốn cơ bản cần huy động cho công
cuộc đầu tư.
I / Đầu tư và nguồn vốn đầu tư.
1. Khái niệm về đầu tư
Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất
định trong tương lai.
Các nguồn lực sử dụng trong hoạt động đầu tư có thể là tiền, là tài
nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ con người. Còn những kết quả
đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản trí tuệ hoặc cũng có thể
là tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất
cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn xã hội.
Trong những kết quả đạt được trên đây, những kết quả trực tiếp của sự hi
hình đầu tư khác, gồm những đặc điểm chủ yếu sau:
+ Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi quy mô vốn, vật tư, lao động
5
thường là rất lớn. Khi đi vào vận hành kết quả đầu tư, thì vốn đầu tư là yếu
tố nằm đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện. Nó đòi hỏi người chủ đầu tư
phải có những biện pháp, chính sách, quy hoạch, kế hoạch hợp lý để quản lý
vốn một cách chặt chẽ để hoạt động đầu tư có hiệu quả sử dụng vốn cao,
tránh thất thoát vốn.
+ Thời gian thực hiện đầu tư kéo dài. Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công
thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công
trình đầu tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm. Do vốn
lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao
hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn
lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt
chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn
đầu tư xây dựng cơ bản.
+ Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài. Thời gian vận hành các kết
quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời gian
sử dụng và đào thải công trình. Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụng
lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn. Trong suốt quá trình vận hành, các kết quả
đầu tư chịu sự tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực của nhiều yếu tố tự
nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội…
+ Nếu sản phẩm của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng thì
thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên do đó quá
trình thực hiện đầu tư và đi vào vận hành kết quả đầu tư sẽ chịu ảnh hưởng
của điều kiện thời tiết, khí hậu, điều kiện thuỷ văn của địa điểm đó.
+ Dễ gặp phải rủi ro: Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và
thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài…nên mức rủi ro của hoạt
động đầu tư phát triển thường cao.
6
∆
×
Y
K
∆
=
ICOR
1
×
Y
1
Từ đó có thể suy ra:
Y
∆
=
ICOR
1
×
I
Trong đó:
∆
Y: là mức gia tăng sản lượng
cầu của toàn bộ nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư
thường chiếm từ 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế
giới. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn. Xét
theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
cầu. Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu
(AD) tăng (nếu các yếu tố khác không thay đổi.
AD=C+ I + G + X – M
8
Trong đó:
C: tiêu dùng
I: đầu tư
G: tiêu dùng của chính phủ
X: xuất khẩu
M: nhập khẩu
+ Tác động tới tổng cung: Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính
là cung trong nước và cung từ nước ngoài. Bộ phận chủ yếu, cung trong
nước là một hàm của các yếu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công
nghệ…, thể hiện qua phương trình sau:
Q= F (K, L, T, R…)
Trong đó:
K: vốn đầu tư
L: lao động
T: công nghệ
R: nguồn tài nguyên
Sự tác động của đầu tư đến cung, cầu được thể hiện qua mô hình sau:
9
D’
D
E2
này tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế. Ngược lại khi giảm đầu tư cũng
dẫn đến tác động hai mặt theo chiều hướng ngược lại so với các tác động
trên đây. Vì vậy trong điều hành nền kinh tế vĩ mô, các nhà hoặch định
chính sách cần thấy hết tác động hai mặt này để đưa ra chính sách nhằm hạn
chế tác động xấu nhằm phất huy tác động tích cực, duy trì sự ổn định của
toàn bộ nền kinh tế.
- Đầu tư có tác động lớn tới việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao
động.
10
Việc đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng chuyên môn cao, sản phẩm
làm ra có chất lượng yêu cầu cần phải được đầu tư vào công tác đào tạo từ
cấp thấp nhất đến cấp cao nhất, chi phí đào tạo ở đây bao gồm chi phí của
nhà nước và chi phí của dân cư cho con em đi học. Và như vậy, để có được
đội ngũ công nhân lành nghề, đội ngũ quản lý giàu kinh nghiệm cần phải
thông qua tuyển dụng, chọn lọc,… để tiến hành khâu này cần phải tốn một
khoản chi phí nhất định, khi đó sẽ có được đội ngũ lao động có trình độ
chuyên môn, năng suất cao và sản phẩm làm ra có chất lượng tốt nhất.
- Đầu tư với việc tăng cường năng lực khoa học cộng nghệ của đất
nước.
Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát
triển khoa học, công nghê của môt doang nghiệp và quốc gia. Đầu tư và đặc
biệt đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới và cải tạo năng lực sản xuất, phục vụ
của nền kinh tế và của các vùng kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và đồng thời ảnh
hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế.
Trong giai đoạn phát triển, xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia
tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối. Tuy nhiên, qua trình chuyển
từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ ba cũng là quá chuyển từ đầu tư ít
sang đầu tư lớn ,thay đổi cơ cấu đầu tư. Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ
không đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đổi và sự phát triển của
(1)
+
Vốn lưu
động bổ
sung
(2)
+
Vốn đầu tư
phát triển khác
(3)
12
Bảng 1: Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn thời kỳ 1995-2009
Đơn vị tính: %
Năm Nguồn vốn trong nước Nguồn vốn nước ngoài Tổng số
1995 69.6 30.4 100
1996 74.0 26.0 100
1997 72.0 28.0 100
1998 79.2 20.8 100
1999 82.7 17.3 100
2000 82.0 18.0 100
2001 82.4 17.6 100
2002 82.6 17.4 100
2003 84.0 16.0 100
2004 85.8 14.2 100
2005 85.1 14.9 100
2006 83.8 16.2 100
2007 75.7 24.3 100
2008 70.2 29.8 100
2009 74.3 25.7 100
Trong giai đoạn 1995-1997, nguồn vốn trong nước chiếm hơn 70%, vốn đầu
Vốn tín dụng đầu tư
phát triển nhà nước
Vốn đầu tư của các
doanh nghiệp nhà nước
2003 100 43.62 31.06 25.32
2004 100 44.71 28.17 27.12
2005 100 43.76 30.45 25.79
2006 100 45.03 30.81 24.16
2007 100 49.49 25.48 25.02
2008 100 54.40 22.26 23.34
2009 100 54.13 14.50 31.37
2010 100 54.21 15.41 30.38
Thực trạng Việt Nam cho thấy vốn đầu tư từ ngân sách chiếm tỷ trọng
lớn nhất, khoảng 50% trong tổng số vốn từ khu vực nhà nước. Tỷ trọng vốn
tín dụng đầu tư phát triển nhà nước chiếm khoảng 30% giai đoạn 2003-2006
và giảm dần từ năm 2007 đến 20010 chỉ còn 15,41%. Vốn đầu tư của các
doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ nhỏ nhất nhưng có xu hướng tăng dần, từ
2008 đến nay nguồn vốn này đã đóng góp 30% vào tổng vốn đầu tư khu vực
nhà nước.
14
+ Vốn ngân sách nhà nước
Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nói chung của nền
kinh tế quy mô tổng thu ngân sách nhà nước không ngừng gia tăng nhờ mở
rộng nhiều nguồn thu khác nhau (huy động qua thuế, phí, bán tài nguyên,
bán hay cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước…). Đi cùng với sự mở rộng
quy mô ngân sách, mức chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước
cũng gia tăng đáng kể. Tổng thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2001-
2005 tăng bình quân 15%, tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước hàng năm
đạt gần 23% GDP. Nguồn thu ổn định từ sản xuất trong nước đã bước đầu
dần dần tăng. Tổng chi ngân sách nhà nước tăng bình quân 14,9%, tỷ lệ chi
thường nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư chiếm 14-15% tổng
vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu là đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi
mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp.
- Nguồn vốn của dân cư và tư nhân
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư,
phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Theo ước tính
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tiết kiệm trong dân cư và các doanh nghiệp dân
doanh chiếm bình quân khoảng 15% GDP, trong đó phần tiết kiệm của dân
cư tham gia đầu tư gián tiếp vào khoảng 3,7% GDP, chiếm khoảng 25%
tổng tiết kiệm của dân cư; phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư trực
tiếp vào khoảng 5% GDP và bằng 33% số tiết kiệm được. Trong giai đoạn
2001-2005, vốn đầu tư của dân cư và tư nhân chiếm khoảng 26% tổng vốn
đầu tư toàn xã hội. Từ đó đến nay nguồn này tiếp tục gia tăng cả về quy mô
và tỷ trọng.
Thực tế thời gian qua cho thấy đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân
và hộ gia đình có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc phát triển nông
nghiệp và kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển nông nghiệp,
16
tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và vận tải trên các địa phương.
Trong 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, nhà nước liên tục hoàn thiện
các chính sách nhằm tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư bản tư nhân, kinh
tế hộ gia đình mạnh dạn bỏ vốn đầu tư và thúc đẩy sự đan xen, hỗn hợp các
hình thức sở hữu trong nền kinh tế. Với Luật Doanh nghiệp thống nhất
(2005) và Luật đầu tư chung (2005) chính thức có hiệu lực từ giữa năm
2006, các tầng lớp dân cư và khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục được khuyến
khích, động viên đại bộ phận tích lũy cho đầu tư phát triển.
Có thể nhận thấy huy động nguồn lực trong nước nhìn chung vẫn còn
nhiều hạn chế. Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của đất nước lớn nhưng khả
năng đáp ứng các nguồn vốn thấp. Trong cơ cấu nguồn vốn trong nước,
nguồn vốn ngân sách chiếm tỷ trọng cao, các nguồn vốn khác chiếm tỷ trọng
4
811 4547.6 2852.5
200
5
970 6839.8 3308.8
200
6
987 12004 4100.1
200
7
1544 21347.8 8030
200
8
1171 60217 12000
200
9
839 21800 10000
* Giai đoạn 2000 – 2007 là giai đoạn FDI phục hồi và tăng tốc. Nếu
như năm 2000 Việt Nam mới chỉ thu hút được 391 dự án với 2413.5 triệu
USD vốn thực hiện thì đến năm 2007 đã là 1544 dự án ( tăng 394,9% so với
năm 2000). Cùng với đó, vốn thực hiện cũng tăng 332,7% đạt 8030 triệu
USD. Đây là một con số kỉ lục, cho thấy mức độ khả quan của việc thu hút
FDI vào Việt Nam trong những năm tiếp theo và là tiền đề tốt để tiếp tục
quảng bá môi trường đầu tư, củng cố niềm tin đối với các nhà đầu tư nước
ngoài.
Mặt khác, cơ cấu FDI theo đối tác trong giai đoạn này cũng có nhều
thay đổi. Trong những năm đầu của thế kỉ 20,các nhà đầu tư lớn chủ yếu
18
đến từ châu Âu, chiếm 36% tổng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam. Tuy
Riêng năm 2009, vốn đầu tư đăng kí vào Việt Nam đạt 21,8 tỉ USD,
bằng 30% so với năm 2008; vốn thực hiện đạt 10 tỉ USD. Xuất khẩu của khu
vực đầu tư nước ngoài (kể cả dầu khí) năm 2009 đạt 29,9 tỷ USD, bằng 86,6
% so với năm 2008 và chiếm 52,7 % tổng xuất khẩu cả nước. Nhập khẩu của
khu vực đầu tư nước ngoài năm 2009 đạt 24,8 tỷ USD, bằng 89,2 % so với
năm 2008 và chiếm 36,1% tổng nhập khẩu cả nước. Như vậy, trong năm
này, khu vực đầu tư nước ngoài đã xuất siêu 5,03 tỷ USD. Theo các báo cáo
nhận được đến 15/12/2009, trong năm 2009 cả nước có 839 dự án mới được
cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 16,34 tỷ USD. Tuy chỉ
bằng 24,6 % so với năm 2008 nhưng đây là cũng là con số khá cao trong bối
cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay. Trong năm 2009, có 215 dự án đăng ký
tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3%
so với năm 2008.
b. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA):
Trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều thuận lợi,
việc thu hút vốn ODA đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp công
nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam trong nhiều năm nay. Hiện nay, với
quy mô tài trợ khác nhau, Việt Nam đã có trên 45 đối tác hợp tác phát triển
song phương và hơn 350 tổ chức quốc tế và phi chính phủ đang hoạt động.
Bảng 4: Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 2000 – 2007
20
Năm Cam kết Ký kết
2000 2.400,50 1.772,02
2001 2.399,10 2.427,42
2002 2.462,00 1.826,17
2003 2.838,40 1.772,98
2004 3.440,70 2.569,22
2005 3.748,00 2.529,11
2006 4.445,60 2.824,58
2007 5455 3.122,47
Các số liệu của WB đã cho thấy luồng vốn đầu tư từ các ngân hàng
thương mại nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu tăng, WB đã ước tính luồng
vốn đầu tư thật sự vào Việt Nam có thể đạt được mức tăng 10%/năm. Các
kết quả khả quan này, theo các nhà đầu tư nước ngoài, là do môi trường đầu
tư ở Việt Nam đã được cải thiện đáng kể. Việc gia nhập vào WTO vào tháng
11/2006 đã giúp cho Việt Nam rất nhiều trong việc thu hút vốn từ các ngân
hàng thương mại quốc tế. Với tư cách là thành viên của WTO, Việt Nam trở
nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài do đã tạo ra được sự tin
tưởng vào cơ chế, chính sách ổn định ở nước ta.
Trong năm 2008, WB đã dành cho Việt Nam nhiều khoản vay ưu đãi
với số tiền cho vay rất lớn, cùng với thời gian vay kéo dài. Có nhiều dự án
cho vay với kỳ hạn 40 năm. Đó là cơ sở, nền tảng vững chắc tạo điều kiện
thuận lợi cho nước ta đi lên. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
và WB đã ký kết Hiệp định Tín dụng và các văn kiện khác cho khoản tín
dụng xóa đói giảm nghèo lần thứ 7 (PRSC-7) với trị giá 150 triệu USD (kí
kết vào ngày 29/7/2008 tại Việt Nam), được vay trong 40 năm trong đó có
10 năm ân hạn với lãi suất 0%. Sau sự thành công của kí kết này, ngày
7/8/2009, đại diện của WB tại Việt Nam đã tiếp tục kí Hiệp định tài trợ và
các văn kiện pháp lí liên quan đến Chương trình Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo
8 (PRSC8) trị giá 350 triệu USD.
22
Là một đối tác quan trọng, từ năm 2003 cho đến nay, ADB đã cho
chúng ta vay nhiều khoản tín dụng ưu đãi. Ngày 1/12/2003, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam và ADB đã ký kết Hiệp định khoản vay trị giá 55 triệu USD
cho dự án "Phát triển giáo dục trung học phổ thông". Thời hạn vay là 32
năm, trong đó có 8 năm ân hạn, lãi suất trong thời gian ân hạn là 1%/năm, lãi
suất trong những năm tiếp theo là 1,5%/năm; phần vốn đối ứng của Chính
phủ Việt Nam là 25 triệu USD. Dự án được tiến hành từ năm 2003 - 2009.
Không chỉ quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế, ADB còn rất quan tâm
đến chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt là giới trẻ Việt Nam. Ngày
tư vào trái phiếu của các quốc gia khác.
Về phía bản thân các chủ thể trong nước, rõ ràng, để phát hành trái phiếu
ra thị trường quốc tế thì hiện tại doanh nghiệp vẫn đang gặp các trở ngại nhất
định về định giá hệ số tín nhiệm, về năng lực tài chính, về khâu kiểm toán...
Điều quan trọng nhất lúc này là các doanh nghiệp Việt Nam phải chuẩn bị
tất cả các điều kiện phát hành và chờ đến khi thị trường phục hồi trở lại sẽ
chớp lấy thời cơ. Doanh nghiệp Việt Nam phải xác định được nhà đầu tư vào
trái phiếu là ai để công bố công khai kế hoạch phát hành, mục đích huy động
vốn, tình hình hoạt động... một cách minh bạch. Đây là điều kiện tối cần
thiết để đẩy nhanh tiến trình thâm nhập thị trường vốn quốc tế của các doanh
nghiệp Việt Nam, từ đó tạo tiền lệ mở đường cho phát hành cổ phiếu và
niêm yết quốc tế.
Tuy nhiên, cũng nhận thấy rằng, nguồn vốn đầu tư nước ngoài vẫn
chưa thực sự chiếm tỉ trọng cao trong tổng cơ cấu nguồn vốn đầu tư, chưa
thực sự thể hiện hết khả năng kích thích tăng trưởng, thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội Việt Nam như mong đợi. Mặt khác, đối với từng nguồn vốn thì cơ
cấu đầu tư vào Việt Nam cũng chưa hợp lí, còn nhiều hạn chế. Đơn cử như
việc các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào hàng năm với con số khá cao,
24
nhưng lại chỉ tập trung chú trọng vào các ngành bất động sản, dịch vụ lưu
trú, còn các ngành khác thì hầu như không có hoặc không đáng kể. Hơn thế
nữa, đối với việc sử dụng các nguồn vốn vay, do trình độ quản lí và trình độ
công nghệ yếu kém, đã làm giảm khả năng tác động của nguồn vốn nước
ngoài với vai trò là “cú huých” của nền kinh tế.
* Về cơ bản, cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn của Việt Nam vẫn còn nhiều
điểm hạn chế, chưa hợp lí. Đặc biệt là việc sử dụng quá nhiều nguồn lực
trong nước cho đầu tư phát triển, mà chưa phát huy được hết khả năng thu
hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác, trong từng nguồn vốn, cũng chưa huy
động triệt để mọi nguồn lực, gây nhiều gánh nặng cho ngân sách nhà nước.
Điều đó là do một vài tồn tại :