Thực trạng tình hình huy động vốn đầu tư vào ngành Dầu khí ở
Việt Nam giai đoạn hiện nay.
1. Thực trạng huy động vốn đầu tư vào ngành dầu khí ở Việt Nam.
1.1. Tình hình phát triển ngành dầu khí ở Việt Nam những năm qua.
Ngành dầu khí Việt Nam đến nay đã được xây dựng hoàn chỉnh,
bao gồm các hoạt động đầu tư thượng nguồn đến hạ nguồn. Các tổ
chức được xếp vào Tập đoàn dầu khí Việt Nam là:
Tổng công ty Tài chính Dầu khí
(PVFC)
Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Dầu
khí (PV Insurance)
Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ - Kỹ
thuật Dầu Khí (PTSC)
Tổng công ty thăm dò khai thác Dầu
khí (PVEP)
Tổng công ty cổ phần Vận tải Dầu khí
(PV Trans)
Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt
Nam (PVPC)
Tổng công ty cổ phần khoan và dịch
vụ khoan dầu khí (PV Drilling)
Tổng công ty cổ phần dịch vụ tổng hợp
dầu khí ( PETROSETCO)
Tổng công ty khí Việt Nam (PV GAS)
Tổng công ty TNHH một thành viên
Thương mại Dầu khí(PETECHIM
CORP)
Công ty cổ phần bất động sản Dầu khí
(PETROWACO)
Công ty Cổ phần Chế tạo giàn khoan
Dầu khí (PVSHIPYARD)
chất Dầu khí (PVFCCo)
Công ty cổ phần phân phối khí thấp áp
(PVGAS DJSC)
Công ty cổ phần Truyền thông Dầu
khí (PV Media)
Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và Thiết
kế Dầu khí (Petrovietnam Engineering
JSC)
Công ty cổ phần xây dựng Dầu Khí
Nghệ An (PVNC)
Công ty cổ phần xây lắp dầu khí (PV
Construction)
Công ty du lịch dầu khí Phương Đông
(PTC)
Công ty nhựa và hoá chất Phú Mỹ
(PMPC)
Công ty TNHH 1 thành viên Quản lý
và Khai thác tài sản Dầu (PVA)
Công ty TNHH dầu khí Mê Kông
(PETROMEKONG)
Công ty TNHH một thành viên Chế
biến và Kinh doanh sản phẩm dầu
mỏ(PDC Co Ltd)
Công ty TNHH một thành viên Cung
ứng Nhân lực và Dịch vụ Dầu Khí
(PETROMANNING)
Công ty TNHH một thành viên điện
lực Dầu khí Cà Mau (PVCMPC)
Viện Dầu Khí Việt Nam (VPI)
Công ty Cổ phần Điện lực Dầu khí
Trạch
Ban quản lý dự án nhà máy lọc dầu
Dung Quất (DQR)
Ban quản lý dự án nhà số 1 & 5 Lê
Duẩn
Ban Quản lý Dự án Trung tâm
Thương mại Dầu khí Hà Nội (PVTC)
Ban trù bị thành lập Ngân hàng thương
mại cổ Dầu khí (PV-Bank)
Một thực tế là Việt Nam có một tiềm năng dầu khí không phải là
nhỏ. Cùng với việc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, ngành dầu
khí Việt Nam cũng từng bước phát triển. Từ chỗ phải nhập từng lít dầu
hoả để thắp đèn, sau 34 năm thành lập, Tập đoàn dầu khí Việt Nam đã
đưa ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển tương xứng với
tiềm năng của nó.
Ta xem xét tình hình phát triển của ngành dầu khí Việt Nam trong
những năm qua:
“Ở hoạt động tìm kiếm thăm dò” với phương châm chủ yếu là
phát huy nội lực, kết hợp tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư về
khoa học và công nghệ của nước ngoài. Với mục tiêu xác định tiềm
năng và gia tăng trữ lượng dầu khí, phát hiện thêm nhiều mỏ mới, đảm
bảo nhu cầu về sản lượng dầu khí cho đất nước, Tập đoàn Dầu khí
Quốc gia Việt Nam đã không ngừng mở rộng khu vực tìm kiếm, thăm dò
thông qua các hợp đồng phân chia sản phẩm, hợp đồng liên doanh, hợp
đồng điều hành chung hoạt động tự đầu tư, tự điều hành tìm kiếm thăm
dò, có nhiều phát hiện quan trọng, đưa nhanh các mỏ đã được phát
hiện vào khai thác và áp dụng các công nghệ tiên tiến để nâng cao sản
lượng, tăng hệ số thu hồi dầu khí, bảo vệ môi trường tài nguyên. Kết
quả công tác tìm kiếm thăm dò cho đến nay đã xác định được bể trầm
tích Đệ Tam có triển vọng dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long,
Rạng Đông, Lan Tây – Lan Đỏ, Tiền Hải C, mỏ Sư Tử Đen, Rồng Đôi,
Rồng Đôi Tây, Cendoz thuộc lô PM-304, Malaysia. Sản lượng khai thác
trung bình của Tập đoàn Dầu khí đạt trên 350 nghìn thùng dầu thô/ngày
và khoảng 18 triệu m3 khí/ngày. Tính đến hết 12/2006 đã khai thác trên
235 triệu tấn quy trong đó dầu thô đạt trên 205 triệu tấn; thu gom, vận
chuyển vào bờ và cung cấp 30 tỷ m3 khí cho sản xuất điện, sản xuất
đạm và các nhu cầu dân sinh khác.
“Về công nghiệp khí”: được triển khai tích cực theo quy hoạch
tổng thể. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã và đang triển khai
hàng loạt các dự án khí và điện với quy mô càng lớn, đa dạng và phức
tạp, trên diện rộng nhằm không những đáp ứng nhu cầu khí cho điện
mà còn đáp ứng các nhu cầu khí cho côngnghiệp hoá chất, phân bón,
giao thông vận tải, vật liệu xây dựng v.v. Hai hệ thông vận chuyển khí
Rạng Đông Bạch Hổ và Nam Côn Sơn vận hành ổn định, an toàn và
phát huy hiệu quả, cung cấp trên 18 triệu m3 khí/ngày cho sản xuất
điện, phân đạm và sản xuất công nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh
năng lượng và lương thực quốc gia. Các dự án: Hệ thống đường dẫn
khí Phú Mỹ Nhơn Trạch (dự kiến bắt đầu cung cấp khí vào đầu năm
2008); hệ thống đường dẫn khí PM3 – Cà Mau (dự kiến cung cấp khí
vào đầu năm 2007); hệ thống đường ống dẫn khí lô B – Ô môn (dự kiến
sẽ được vận hành vào năm 2009), sẽ đưa ngành công nghiệp khí Việt
Nam lên một mức phát triển mới đóng góp sâu rộng hơn vào sự nghiệp
hiện đại hoá công nghiệp hoá đất nước. Có thể tóm lược tình hình triển
khai các dự án khí - điện trong các năm qua theo các khu vực, lĩnh vực
sau:
Tháng 5/1995 hệ thống vận chuyển khí Rạng Đông Bạch Hổ bắt
đầu từ khí đồng hành Bạch Hổ cấp khoảng 350.000 tấn, đáp ứng
khoảng 40% nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Năm 2002, công suất của hệ thống khí Bạch Hổ một lần nữa được
nâng lên khi khí đồng hành từ mỏ Rạng Đông được kết nối với hệ thống
26 inch, dài 9km và đoạn vận chuyển khí thành phẩm từ Dinh Cố tới
Phú Mỹ với đường kính 30 inch, dài 29km; Trung tâm phân phối khí Phú
Mỹ. Như vậy, cùng với hệ thống khí Bạch Hổ, sự hình thành hệ thống
khí Nam Côn Sơn đang trở thành cột sống của nền công nghiệp khí Việt
Nam, đóng góp đáng kể cho ngân sách Nhà nước, hứa hẹn đảm bảo
khả năng cung cấp khí lên tới 6-10 tỷ m3/năm trong các năm 2006-2010
tại khu vực miền Đông Nam Bộ.
Các kết quả thăm dò khả quan ở thềm lục địa phía Nam và Tây
Nam Bộ của Việt Nam cũng như tại các khu vực chống lấn giữa Việt
Nam và Malaysia, đã cho phép Tập đoàn Dầu khí đầu tư và xây dựng
các kế hoạch phát triển khu công nghiệp Khí - Điện - Đạm Cà Mau. Dự
án đường ống dẫn khí PM3-Cà Mau dài 328km đường kính 18” có công
suất vận chuyển 2 tỷ m3/năm và nhà máy điện Cà Mau I công suất 750
KW sẽ được đưa vào khai thác sử dụng vào năm 2007 và nhà máy điện
Cà Mau II có công suất tương tự như Cà Mau I vào năm 2008. Tập
đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam cùng nhà thầu Chevron đang triển khai
phát triển lô B, 52/97, 48/95. Dự kiến sẽ xây dựng tuyến đường ống dẫn
khí nồi từ khu mỏ này đến Ô Môn và Cà Mau, đây sẽ là tuyến ống huyết
mạch có thể dùng để kết nối mạng Đông Tây và Đường ống xuyên các
nước Đông Nam Á.