Thực trạng tình hinh huy động vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Năm 2007 vừa qua Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới
WTO, trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này là kết quả của một quá
trình đàm phán lâu dài. Gia nhập WTO, Việt Nam đang đứng trước cơ hội
hội nhập thế giới sâu rộng hơn bao giờ hết.
Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước rất thách thức, vậy nên
muốn cạnh tranh đứng vững và phát triển trong môi trường đầy tiềm năng
và nhiều thách thức này, các doanh nghiệp ngoài việc cần phải chuẩn bị kĩ
lưỡng về chiến lược kinh doanh lâu dài, yêu cầu cao về kỹ thuật, chất lượng
ngồn nhân lực thì có 1 điều kiện tiên quyết không thể thiếu đó là nguồn vốn
dồi dào. chúng ta có thể thấy rõ nhu cầu nghiên cứu và ứng dụng vấn đề thu
hút nguồn vốn sao cho hiệu quả, phục vụ những kế hoạch tài chính trong
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của doanh nghiệp, em đã tìm hiểu về thực
trạng huy động vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, sau đây em
xin trình bày phần tìm hiểu của mình mong rằng phần nào sẽ giúp cho các
bạn hiểu thêm về vấn đề này. Rất mong nhận được sự nhận xét của các bạn
và giảng viên thạc sĩ Phan Hồng Mai.
1
Nội dung
1. Các hình thức huy động vốn chủ sở hữu ở các DN VN hiện nay
1.1 Vốn góp ban đầu
Hiện hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều có quy mô nhỏ và vừa.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, thì có tới 96,81% số doanh nghiệp
nước ta thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong đó xét về vốn chủ sở
hữu, số doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm 41,80%, số doanh
nghiệp có vốn từ 1 đến 5 tỷ chiếm 37,03% số doanh nghiệp vốn từ 5 đến 10
tỷ chỉ chiếm khoảng 8,15%, theo số liệu năm 2006 ta có 73% các doanh
nghiệp có số vốn dưới 10 tỷ đồng; số doanh nghiệp có số vốn từ 50-200 tỷ
đồng chiếm 8,5%.. Như vậy, quy mô vốn của các doanh nghiệp Việt Nam
rất nhỏ lẻ, không thể đáp ứng yêu cầu phát triển và cạnh tranh trong giai

vụ nhu cầu tái sản xuất mở rộng.
1.3.Vốn từ phát hành cổ phiếu mới
Đây là kênh huy động vốn đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ doanh
nghiệp cổ phần nào. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, thị trường chứng
khoán đang trên đà phát triển, tuy chưa ổn định, nên việc thu hút nguồn vốn
từ phát hành cổ phiếu mới là rất cần thiết và hoàn toàn có khả năng thực
hiện, doanh nghiệp cũng có thể xây dựng hình ảnh thương hiệu từ phương
thức này, song cần thận trọng, chú ý đề phòng những rủi ro của thị trường.
Theo số liệu của Ủy ban chứng khoán Nhà nước, tính đến ngày
31/12/2006, trên TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh (HoSTC) có 106 công
ty và 2 chứng chỉ quỹ, trên sàn GDCK Hà Nội (HaSTC) có 87 công ty,
tổng giá trị cổ phiếu niêm yết là 221,156 tỷ, chiếm 22,7% tổng GDP 2006,
và lớn gấp 20 lần năm 2005.
Số lượng công ty niêm yết tăng mạnh vào cuối năm 2006, chỉ riêng
tháng 12/2006 có tới 50 công ty niêm yết mới trên HoSTC, bình quân mỗi
ngày gần 2 công ty. Nguyên nhân chính của tình trạng lên sàn ồ ạt là do từ
3
01/01/2007, Luật chứng khoán chính thức có hiệu lực, bãi bỏ ưu đãi thuế
Thu nhập doanh nghiệp cho những doanh nghiệp niêm yết trên sàn sau
ngày này.
Như vậy, thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán đã có
bước phát triển vượt bậc, tạo kênh huy động vốn mới cho doanh nghiệp,
song, thực chất thị trường này còn rất nhiều bất cập.
Đầu tiên, ta điểm qua tình hình phát triển của thị trường chứng khoán
giai đoạn 2005-2007. Một số nét dễ nhận thấy đó là thị trường thường tăng
trưởng nóng trong những tháng cuối năm và đầu năm, còn từ tháng 4 đến
khoảng tháng 7-8 thị trường điều chỉnh giảm. Tình trạng này diễn ra liên
tục cho thấy khả năng tăng trưởng bong bóng và sự mất ổn định của thị
trường. Trong điều kiện tăng trưởng ồ ạt, việc các doanh nghiệp phát hành
cổ phiếu mới là một biện pháp giảm sốt hữu hiệu đối với thị trường, tăng

thiếu, không kịp thời và không minh bạch, thậm chí có những thông tin nội
gián, gây nhiều khó khăn trong việc đánh giá tình hình tài chính của doanh
nghiệp, cũng như dự báo rủi ro kinh doanh cổ phiếu của các nhà đầu tư.
Nguyên nhân tình trạng này là do các doanh nghiệp chưa có ý thức
trong việc cung cấp thông tin. Bề ngoài, các nhà đầu tư phải được cung cấp
những báo cáo tài chính thường kỳ của doanh nghiệp, bao gồm cả báo cáo
kiểm toán của một công ty kiểm toán độc lập. Song, trên thực tế, doanh
nghiệp chưa cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết. Lý do đó là doanh
nghiệp mang tâm lý đề phòng với các cơ quan quản lý nhà nước như thuế
vụ, công an, quản lý thị trường... và các doanh nghiệp phải dè chừng những
đối thủ cạnh tranh, sợ lộ những kế hoạch tài chính của mình.
Hệ thống khai báo và chính sách thuế của Việt Nam còn nhiều bất
cập, làm cho doanh nghiệp luôn muốn khai thấp doanh thu, khai tăng chi
phí để bảo toàn lợi nhuận. Hậu quả là tình hình tài chính của doanh nghiệp
bị bóp méo, gây ảnh hưởng đến hình ảnh của doanh nghiệp, và khó khăn
cho nhà đầu tư.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status