Tình hình huy động vốn đầu tư phát triển Việt Nam - Pdf 31


Lời mở đầu
Trong thời gian vừa qua Việt Nam đã có những bớc phát triển khá thuyết
phục. Tốc độ tăng trởng GDP hàng năm đạt 7-8%/năm, tình hình chính trị ổn định
và trong con mắt của các nhà đầu t quốc tế, Việt Nam là một trong những môi tr-
ờng đầu t hấp dẫn, ẩn chứa nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, tiếp tục duy trì và hơn thế
nữa là đẩy mạnh sự tăng trởng này đang đợc xem là nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu
trong công cuộc Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá, đa Việt Nam tiến lên Chủ nghĩa
xã hội.
Vấn đề mấu chốt, quyết định của mọi sự tăng trởng và phát triển kinh tế xã
hội của mỗi quốc gia là vấn đề đầu t phát triển. Giải quyết các bài toán tăng trởng
và phát triển kinh tế xã hội suy cho cùng là giải quyết các vấn đề đầu t nh nh :
Lấy cái gì để đầu t ? Lấy ở đâu ? Đầu t ở đâu ? Đầu t nh thế nào ? Và quản lý đầu
t ra sao ? Giải quyết tốt những vấn đề trên cũng chính là lời giải của những bài
toán đầu t đặt ra cho nền kinh tế nói chung và nền kinh tế nớc ta hiện nay nói
riêng.
Nhận thức đợc vai trò quan trọng của đầu t phát triển, cộng với những diễn
biến phức tạp của quá trình đầu t hiện nay. Hội nghị BCH TƯ Đảng lần thứ 4 đã
đánh giá một cách kịp thời và chính xác những định hớng và nhiệm vụ của chính
sách đầu t hiện nay trên tinh thần khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, tích cực
tranh thủ ngoại lực. Vấn đề huy động hiệu quả nguồn vốn cho đầu t phát triển luôn
mang theo nó tính chất thời sự, chính vì vậy, đề tài : Tình hình huy động vốn
đầu t phát triển ở Việt Nam mong muốn đem lại một cái nhìn tổng thể về nền
kinh tế Việt Nam trên góc độ đầu t trong giai đoạn vừa qua cũng nh một số giải
pháp tăng cờng trong vài năm tới. Chắc chắn đề tài còn chứa đựng nhiều sai sót, rất
mong đợc sự góp ý từ phía các thầy cô và bạn đọc.
Em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của cô giáo TS. Nguyễn
Bạch Nguyệt đã giúp em hoàn thành đề án này.

Phần I
một số vấn đề lý luận chung

năng tăng, giá cả sản phẩm giảm, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu

dùng đến lợt mình lại kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc
cơ bản của tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho ngời lao động,
nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Mối quan hệ của đầu t đối với tổng cầu đợc thể hiện qua đồ thị sau :
P S
P1
Po D S
P2
D
O Q0 Q1 Q2 Q
Cho đến những năm đầu của thập kỷ 50 thế kỷ XX, Nurkse đã nhấn mạnh
hơn đến vai trò của đầu t và vốn đầu t đến sự phát triển cảu nền kinh tế. Nurkse
cho rằng việc thiếu vốn đầu t là một nguyên nhân gây ra tình trang nghèo đói. Ông
đã chỉ ra cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói (vicious circle of poverty):
Về phía cung: Một quốc gia có thu nhập thấp sẽ có khả năng tích tuỹ thấp,
tích luỹ thấp dẫn đến thiếu vốn đầu t, thiếu vốn đầu t dẫn đến năng lực sản xuất bị
hạn chế và năng suất lao động cũng không thể tăng cao, năng lực sản xuất thấp sẽ
dẫn đến thu nhập thấp.
Về phía cầu : Thu nhập thấp làm cho sức mua thấp, sức mua thấp làm cho
động lực tăng đầu t bị hạn chế, đầu t bị hạn chế dẫn đến năng lực sản xuất thấp và
từ đó cũng sẽ lại dẫn đến thu nhập thấp.
Thực tế cho thấy, các nớc nghèo hiện nay trên thế giới hầu hết chịu cảnh
nghèo đói một phần do những nguyên nhân trên. Tức là sự nghèo đói tại các quốc
gia này một phần là do thiếu vốn đầu t và sự đầu t thích đáng, có hiệu quả. Nguyên
nhân của tình trạng đầu t hạn chế tại các nớc này là do hoặc vì thiếu động lực thúc
đẩy đầu t hoặc là khả năng tích luỹ của nền kinh tế quá nhỏ.
Điều này cho thấy rằng, để phát triển và thực hiện xoá đói giảm nghèo thành
công thì phải làm sao phá vỡ đợc cái vòng luẩn quẩn trên. Một trong những biện

đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh vế tài nguên, địa thế, kinh tế của
những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy ngững vùng
khác cùng phát triển.
2.3 Đầu t tác động tới việc tăng cờng khả năng khoa học và
công nghệ của đất nớc
Xuất phát từ nền công nghiệp lạc hậu, nền kinh tế kém phát triển, công nghệ
là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu t là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và
tăng cờng khả năng công nghệ của nớc ta. Theo UNIDO, nếu chia quá trình phát
triển công nghệ của thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt Nam năm 1990 ở giai đoạn 1

và 2. Với trình độ công nghệ hiện nay, quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
cảu Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra một chiến lợc đầu t phát
triển công nghệ nhanh và vững chắc.
Có hai con đờng cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu phát minh ra công
nghệ và nhập công nghệ từ nớc ngoài. Dù là tự nghiên cứu hay nhập từ nớc ngoài
cũng cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu t. Một phơng án đổi mới công nghệ
không gắn với nguồn vốn đầu t sẽ là phơng án không khả thi.
2.4 Đầu t tác động tới quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Đầu t mà cụ thể là đầu t nớc ngoài sẽ tạo ra những ảnh hởng tích cực đối với
quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Thông qua các hình thức đầu t gián tiếp ODA,
NGO, Việt Nam tạo ra mối quan hệ mật thiết với các nớc và các tổ chức đầu t. Đầu
t nớc ngoài cũng là tiền đề cho nền kinh tế mở đa Việt Nam tham gia vào các khu
vực kinh tế nh APEC hay gia nhập Tổ chức thơng mại thế giới WTO.
II. nguồn huy động vốn đầu t và mối quan hệ giữa
chúng
1. Khái niệm và phân loại nguồn vốn đầu t
Đứng trên góc độ nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng, ta có thể đa ra định
nghĩa về vốn đầu t nh sau: Vốn đầu t là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản
xuất, kinh doanh dịch vụ, là tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác
đợc đa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có

Trớc hết, ta hãy cùng xem xét tác dộng của nguồn vốn trong nớc đối với vốn
nớc ngoài. Có thể nói, nguồn vốn trong nớc giữ vai trò quyết định trong chiến lợc
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Xét về lâu dài thì nguồn
vốn đảm bảo cho sự tăng trởng kinh tế một cách liên tục, đa đất nớc đến sự phần
vinh một cách chắc chắn và không phụ thuộc phải là nguồn vốn đầu t huy động đ-
ợc ở trong nớc. Quy mô của nguồn vốn trong nớc là nhân tố cơ bản cho phát triển
kinh tế. Thực tế là trong một khoảng thời gian tơng đối dài, nền kinh tế nớc ta lâm
vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, sản xuất không phát triển. Nguyên nhân
sâu xa và khách quan là nền kinh tế xuất phát ở trình độ thấp kém, xản xuất nhỏ là
phổ biến lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề và hậu quả chiến tranh để lại khá
nghiêm trọng. Nhng nguyên nhân quyết định là do chúng ta đã duy trì quá lâu mô
hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, đóng cửa nền kinh tế cả bên
trong và bên ngoài. Hệ quả là chúng ta đã kìm hãm các nguồn lực (bao gồm cả
nguồn vốn) trong nớc, mặt khác, những nguồn vốn đã đợc sử dụng lại không đem
lại hiệu quả cao. Từ năm 1986, Đảng đã chủ trơng chuyển đổi nền kinh tế sang
vận hành theo cơ chế thị trờng, thực hiện nhất quán nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, phát huy tiềm năng của toàn xã hội. Kể từ mốc thời gian này, với sự
năng động của các thành phần kinh tế, một khối lợng vốn lớn đã đợc huy động.
Tuy cha ở mực triệt để nhng lợng vốn này đã tạo ra một bớc chuyển biến quan
trọng, góp phần quyết định trong việc cải thiện đời sống kinh tế ở nớc ta. Đạt đợc
những thành quả nh vậy, một phần quyết định là do nguồn vốn trong nớc đã tăng
đáng kể. Nh vậy, quy mô và hiệu quả sử dụng vốn trong nớc là động lực cho tăng

trởng kinh tế và qua đó thể hiện tiềm năng phát triển kinh tế của một quốc gia. Đối
với các định chế tài chính và các nhà đầu t nớc ngoài, đây là tiêu chí hàng đầu để
cho vay vốn hoặc đầu t trực tiếp. ở nớc ta, cùng với việc khai thông nguồn vốn
trong nớc, từ năm 1998, nguồn vốn nớc ngoài cho đầu t phát triển kinh tế đã không
ngừng gia tăng. Vào những năm 1997-1998, khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
khu vực nổ ra làm cho tốc độ nền tăng trởng kinh tế bị sụt giảm mạnh, kéo theo sự
suy giảm của khối lợng vốn nớc ngoài đầu t vào Việt Nam, vốn trong nớc vẫn tiếp

những nguồn lực của nền kinh tế mà trớc đây cha đợc sử dụng hết (do không đủ
vốn, do thiếu công nghệ kỹ thuật, do không có thị trờng) nay đợc đa vào sản xuất
bằng cách hợp tác kinh doanh với nớc ngoài. Cùng với quá trình hoạt động có hiệu
quả của các doanh nghiệp liên doanh, phần vốn góp của phía Việt Nam trong các
doanh nghiệp đó cũng tăng lên, có nghĩa là quy mô vốn trong nớc tăng lên. Nh
vậy, vai trò của vốn đầu t nớc ngoài thể hiện ở chỗ: với sự có mặt của nguồn vốn n-
ớc ngoài, tính hiệu quả trong hoạt động thị trờng Việt Nam đợc cải thiện và qua đó
tác động tích cực đến nguồn vốn trong nớc.
Vốn huy động trong nớc và vốn huy động từ nớc ngoài có mối quan hệ khăng
khít với nhau, hỗ trợ nhau cùng gia tăng về số lợng và hiệu quả sử dụng. Kinh
nghiệm thực tế của các nớc trong khu vực đã cho thấy, những năm khởi đầu của
quá trình phát triển kinh tế đều phải dựa vào vốn nớc ngoài. Nguồn vốn này đã
đóng góp một phần đáng kể (đối với một số nớc góp phần quyết định nh Hàn
Quốc, Philipin) tạo nên sự phát triển nhanh của các nớc này đồng thời đa đến sự
lệ thuộc nhiều mặt của nớc đó vào nớc ngoài. Mặt khác, do mục tiêu của các nhà
đầu t nớc ngoài là lợ nhuận nên việc họ đầu t vào các lõnh vực có tỷ suất lợi nhuận
cao là điều tất yếu. Tuy nhiên, một khối lợng vốn lớn từ nớc ngoài đầu t vào, trong
nhiều trờng hợp, cũng khiến các nguồn vốn trong nớc phải chuyển sang những h-
ớng đầu t khác không thuận lợi. ở nớc ta, tuy sự tiêu cực này cha đợc thể hiện rõ
nét nhng đó là bài học để chúng ta có những biện pháp nhằm hạn chế những tác
động không tốt của vốn nớc ngoài. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải nhận thức đợc
vốn đầu t chủ yếu phải dựa vào tích luỹ trong nớc và do đó phải thực hiện các
chính sách và giải pháp để phát triển kinh tế nhằm tăng nhanh tổng sản phẩm xã
hội và thu nhập quốc dân, khuyến khích tiết kiệm.
III. nội dung của vốn đầu t phát triển
1. Nguồn vốn trong nớc
Đứng trên góc độ vi mô của nền kinh tế, chúng ta phân chia nguồn vốn trong
nớc theo các nguồn hình thành sau:
Vốn của Doanh nghiệp quốc doanh
Nguồn vốn trong nớc Vốn của Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

nền kinh tế thì trong giai đoạn 1991-2000, nguồn vốn này đã có mức tăng trởng
đáng kể và bắt đầu có vị trí quan trọng trong chính sách đầu t của chính phủ.
Nguồn vốn tín dụng đầu t phát triển của nhà nớc có tác dụng tích cực trong
việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nớc. Với cơ chế tín dụng, các
đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đầu
t là ngời vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu t, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín

dụng đầu t phát triển của nhà nớc là một hình thức quá độ chuyển từ phơng thức
cấp phát ngân sách sang phơng thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi
vốn trực tiếp.
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu t của nhà nớc còn phục vụ công tác quản lý và
điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn tín dụng đầu t, nhà nớc thực hiện việc
khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định hớng
chiến lợc của mình. Đứng ở khía cạnh là công cụ điều tiết vĩ mô, nguồn vốn này
không chỉ thực hiện mục tiêu tăng trởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục tiêu phát
triển xã hội. Việc phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu t còn khuyến khích phát
triển những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội nh xoá đói giảm
nghèo. Và trên hết, nguồn vốn tín dụng đầu t phát triển của nhà nớc có tác dụng
tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng Công nghiệp hoá - Hiện
đại hoá.
Nguồn vốn đầu t từ doanh nghiệp nhà nớc: Đợc xác định là thành
phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp nhà nớc vẫn nắm giữ
một khối lợng vốn nhà nớc khá lớn. Theo báo cáo tổng kết công tác tổng kiểm kê
tài sản và xác định lại giá trị tài sản doanh nghiệp nhà nớc tại thời điểm 1/1/2000,
tổng nguồn vốn chủ sở hữu tại các doanh nghiệp nhà nớc là 173.857 tỷ đồng. Mặc
dù vẫn còn một số hạn chế nhng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế
nhà nớc với sự tham gia của các doang nghiệp nhà nớc vẫn đóng vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế nhiều thành phần.
DNNN vẫn đóng góp một lợng lớn vào GDP của nền kinh tế, nộp ngân sách
chiếm 40% tổng thu của ngân sách nhà nớc, tạo việc làm cho trên 1,9 triệu ngời.

Đây sẽ là câu hỏi đặt ra cho các nhà kinh tế trong việc quản lý hoạt động và cũng
sẽ là bài toán có nhiều lời giải cho việc huy động vốn đầu t từ khu vực đợc đánh
giá là còn chứa ẩn nhiều tiềm năng này.
1.3 Tiết kiệm của khu vực dân c
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nớc, một bộ phận không nhỏ trong dân
c có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích luỹ truyền
thống, nhìn tổng quan, nguồn vốn tiềm năng trong dân c không phải là nhỏ, tồn tại
dới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt Nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn
vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Thực tế phát hành trái phiếu chính
phủ và trái phiếu của một số ngân hàng thơng mại quốc doanh cho thấy, chỉ trong
thời gian ngắn đã huy động đợc hàng ngàn tỉ đồng và hàng chục triệu USD từ khu
vực dân c.
Với khoảng 15 triệu hộ gia đình đóng góp khoảng 1/3 GDP, trong giai đoạn
1996-2000 tiết kiệm của khu vực dân c chiếm khoảng 15% GDP. Nhiều hộ gia
đình đã thực sự trở thành các đơn vị kinh tế năng động trong các lĩnh vực kinh
doanh thơng mại, dịch vụ, sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. ở mức độ
nhất định, các hộ gia đình cũng sẽ là một trong số các nguồn tập trung và phân
phối vốn quan trọng trong nền kinh tế.

Vốn của dân c phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy
mô của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào:
Trình độ phát triển của đất nớc (ở những nớc có trình độ phát triển
thấp thờng có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp).
Tập quán tiêu dùng của dân c.
Chính sách động viên của nhà nớc thông qua chính sách thuế thu nhập
và các khoản đóng góp đối với xã hội.
2. Vốn nớc ngoài
2.1 Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI)
Đây là vốn của các doanh nghiệp và các nhân nớc ngoài đầu t sang các nớc
khác và trực tiếp hoặc tham gia quản lý quá trình sử dụng và thu hồi số vốn bỏ ra.

và tình trạng nợ chồng chất nếu không sử dụng hiệu quả vốn vay và thực hiện
nghiêm ngặt chế độ trả nợ vay. Các nớc Đông Nam á và Nics Đông á đã thực
hiện giải pháp vay dài hạn, vay ngán hạn rất hạn chế và đặc biệt không vay thơng
mại. Vay dài hạn lãi suất thấp, việc trả nợ không khó khăn vì có thời gian hoạt
động đủ để thu hồi vốn.
Thực chất nguồn vốn ODA đã đợc phân bổ theo các nguồn khác nh vốn ngân
sách nhà nớc, vốn tín dụng đầu t phát triển Tuy nhiên, ở đề án này đề cập đến với
vai trò nh là một nguồn vốn nớc ngoài, không nằm trong cơ cấu của tổng vốn đầu t
toàn xã hội, chỉ đa ra để so sánh và đánh giá nhằm tăng cờng khả năng thu hút
nguồn vốn này ngày càng lớn hơn.
2.3 Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thơng mại
Điều kiện u đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng nh đối với nguồn vốn
ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có u điểm rõ ràng là không gắn với các ràng buộc về
chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này thờng là tơng đối
khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là trở ngại không nhỏ đối
với các nớc nghèo.
Do đợc đánh giá là mức lãi suất tơng đối cao cũng nh sự thận trọng trong
kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nớc đi vay, của thụ trờng thế giới và xu hớng
lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thơng mại thờng đợc sử
dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thờng là ngắn hạn. Một bộ
phận của nguồn vốn này có thể đợc dùng để đầu t phát triển. Tỷ trọng của nó có
thể gia tăng nếu triển vọng tăng trởng của nền kinh tế là lâu dài, đặc biệt là tăng tr-
ởng xuất khẩu của nớc đi vay là sáng sủa. Đối với Việt Nam, việc tiếp cận đối với
nguồn vốn này vẫn còn khá hạn chế.
2.4 Vốn đầu t gián tiếp của t nhân nớc ngoài thông qua
thị trờng vốn quốc tế
Với xu hớng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trờng vốn
quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn vốn
cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lợng vốn lu chuyển trên phạm vi toàn cầu. Thực
tế cho thấy, mặc dù trong vòng 30 năm qua tất cả các nguồn vốn đều có sự gia tăng

Khả năng thanh toán cao do có thể mua bán, trao đổi trên thị trờng thứ
cấp, chính vì vậy hình thức này tơng đối hấp dẫn đối với các nhà đầu t
nớc ngoài. Lý do này cho phép ngời phát hành có thể có đợc mức lãi
suất u đãi hơn so với các hình thức vay nợ khác.
Đối với hình thức huy dộng này, ngời đi vay có thể tăng thêm tính hấp
dẫn bằng cách đa ra một số yếu tố kích thích nh: cho phép chuyển đổi
trái phiếu thành cổ phiếu hoặc nếu mua đợt này sẽ đợc u tiên mua

trong những đợt phát hành sau. Với những yếu tố kích thích nh trên thì
có thể khuyến khích nhiều ngời mua trái phiếu hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh đó thì hình thức phát hành trái phiếu ra thị trờng vốn
quốc tế vẫn còn một số trở ngại đối với Việt Nam. Đó cũng là nhợc điểm hay hạn
chế của biện pháp huy động vốn này.
Hệ số tín nhiệm của Việt Nam rất thấp, thậm chí Việt Nam cha đợc
các tổ chức quốc tế xếp hạng độ tín nhiệm. Chính vì vậy, nếu phát
hành thì trái phiếu của Việt Nam sẽ phải chịu lãi suất ở mức cao.
Việt Nam vẫn còn quá ít kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó,
so với một số hình thức huy động vốn khác thì thời gian chuẩn bị vẫn
còn tơng đối dài.
Bởi vậy để phát hành trái phiếu ra thị trờng vốn quốc tế, Việt Nam phải
nghiên cứu, xem xét kỹ lỡng, lựa chọn cẩn thận hình thức trái phiếu phát hành, thời
gian đáo hạn, thị trờng phát hành và nhà bao tiêu phù hợp với điều kiện của bên
Việt Nam. Hơn nữa, cũng cần cân nhắc thận trọng giữa việc huy động vốn qua
phát hành trái phiếu với các hình thức huy động vốn khác, nh đầu t trực tiếp và vay
nợ qua hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, bên cạnh việc xây dựng dự án cho việc phát
hành trái phiếu, Việt Nam cũng cần xây dựng một kế hoạch chi tiết cho việc sử
dụng vốn có hiệu quả.
Phần II
thực trạng huy động vốn đầu t phát
triển ở Việt Nam trong giai đoạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status