MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ CÁC NGUỒN VỐN
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG.
3
1.1 Vốn với qúa trình phát triển nền kinh tế
3
1.1.1 Khái niệm về vốn đầu tư. 3
1.1.2 Các nguồn vốn đầu tư 4
1.1.2.1 Nguồn vốn trong nước 4
1.1.2.2 Nguồn vốn nước ngoài 6
1.2 Vai trò của vốn với qúa trình phát triển kinh tế. 9
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu qủa sử dụng vốn.
13
CHƯƠNGII: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ BIỂN BÌNH THUẬN.
15
2.1 Kinh tế biển Bình Thuận – Vai trò và sự phát triển. 15
2.1.1 Vai trò của kinh tế biển, đảo trong phát triển kinh tế của
nước ta.
15
2.1.2 Vai trò của biển, đảo Bình Thuận trong hệ thống Biển Đông –
Hải đảo.
16
2.1.3 Vai trò và sự phát triển kinh tế biển Bình Thuận. 17
3.2 Những đònh hướng cơ bản phát triển kinh tế biển đến năm 2010. 42
3.2.1 Ưu tiên hàng đầu là đầu tư đúng mức để phát triển mạnh
kinh tế du lòch.
42
3.2.2 Tập trung triển khai thực hiện có hiệu qủa các chương trình
mục tiêu của ngành thủy sản.
43
3.2.3 Hoàn thiện, phát triển các tuyến giao thông, các công trình
ven biển đã được xác đònh trong quy hoạch.
43
3.3 Dự báo nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế biển giai đoạn
2006 – 2010.
44
3.4 Một số giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế biển Bình
Thuận.
45
3.4.1 Các giải pháp vó mô. 45
3.4.1.1 Xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về biển, tạo 45GVHD.TS Ung Thò Minh Lệ
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 3
môi trường đầu tư an toàn, hấp dẫn để thu hút đầu tư.
3.4.1.2 Hoàn thiện các công cụ huy động vốn cho NSNN. 47
3.4.1.3 Hoàn thiện và phát triển thò trường tài chính. 48
3.4.1.4 Hoàn thiện các công cụ tài chính vó mô hỗ trợ cho qúa
trình huy động vốn.
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 4
LỜI MỞ ĐẦU Việc tập trung vào phát triển kinh tế biển trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc không chỉ bởi thế kỷ XXI mà chúng ta đang bước vào được coi
là thế kỷ đại dương, các quốc gia có biển đều nhất loạt hướng về biển để tăng
cường tiềm lực kinh tế của mình, trên thực tế, biển Việt Nam chứa đựng nhiều
tiềm năng phát triển kinh tế rất lớn. Từ vò trí chiến lược của biển - nhân tố đòa
lợi đặc biệt của sự phát triển, đến các nguồn tài nguyên biển phong phú và đa
dạng có khả năng khai thác lớn như tài nguyên về hải đặc sản, tài nguyên du
lòch biển, tài nguyên về dầu khí hay các tài nguyên khoáng sản khác ở vùng ven
biển như than, sắt, titan, cát thủy tinh và các loại vật liệu xây dựng khác. Kinh
tế biển của Việt Nam trong giai đoạn đổi mới vừa qua đã có bước phát triển
đáng kể. Cơ cấu ngành nghề đang có sự thay đổi, việc khai thác nguồn lợi biển
đã có đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Kinh tế biển
đã được chú ý hơn, nhưng nhìn chung quy mô kinh tế biển của Việt Nam còn nhỏ
bé chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế biển của nước ta.
Trong xu hướng chung của thế giới đang nỗ lực gia tăng tốc đôï phát triển
bằng cách huy động mọi nguồn lực sẵn có, là một quốc gia biển, chúng cần thực
hiện nhiều giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa những khả năng vươn ra biển để
sớm “trở thành một nước mạnh về kinh tế biển”. Là một tỉnh ven biển Duyên hải
thuộc vùng kinh tế miền Đông Nam Bộ, Bình Thuận cũng không nằm ngoài xu
hướng phát triển chung đó.
Để thực hiện thành công mục tiêu trên, một trong những giải pháp chủ
yếu được thực hiện là công tác huy động và sử dụng vốn cho đầu tư phát triển
kinh tế biển.
học kinh tế TP Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ bảo. Đặc biệt là TS. Ung Thò Minh
Lệ, người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. GVHD.TS Ung Thò Minh Lệ
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 6
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.1 Vốn với qúa trình phát triển kinh tế.
1.1 .1 Khái niệm về vốn đầu tư.
Tài sản của một quốc gia bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài sản do con
người tạo ra và nguồn nhân lực. Tài sản nhân tạo bao gồm toàn bộ của cải vật
chất được tích lũy trong qúa trình phát triển của đất nước. Những tài sản này
được chia thành 2 nhóm gồm 9 loại:
Nhóm thứ nhất là những tài sản được sử dụng làm phương tiện phục vụ
cho qúa trình sản xuất được gọi là tài sản sản xuất, bao gồm:
1. Công xưởng, nhà máy.
doanh nghiệp và tài sản quốc gia.
1.1.2 Các nguồn vốn đầu tư:
Toàn bộ thu nhập của một quốc gia trong quá trình sử dụng được chia
thành ba qũy: qũy bù đắp, qũy tích lũy và qũy tiêu dùng. Qũy bù đắp và qũy tích
lũy là nguồn gốc để hình thành vốn đầu tư. Qũy bù đắp về bản chất chỉ nhằm bù
đắp lại những tài sản đã hao mòn, nhưng trong qúa trình sử dụng nó cũng có ý
nghóa đóng góp vào qúa trình đầu tư tăng trưởng kinh tế gắn liền với qúa trình
đổi mới công nghệ. Qũy tích lũy là nguồn cơ bản để đầu tư cho tăng trưởng và
phát triển kinh tế. Toàn bộ qũy tích lũy được hình thành từ các khoản tiết kiệm.
Xu hướng chung là khi nền kinh tế càng phát triển thì tỷ lệ tích lũy có khả năng
càng cao. Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có thu nhập
thấp thì quy mô và tỷ lệ tích lũy đều thấp trong khi yêu cầu của sự phát triển
kinh tế ngày càng tăng đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn. Điều đó đặt ra sự cần thiết
phải có nguồn hỗ trợ vốn từ nước ngoài. Mặt khác, trong sự giao lưu quốc tế và
toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, ngay đối với các nước công nghiệp phát triển vẫn
cần có sự kết hợp giữa vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài để phát
triển kinh tế. Như vậy, đối với một nước vốn đầu tư được hình thành từ tiết kiệm
trong nước và tiết kiệm của nước ngoài. Tiết kiệm trong nước bao gồm: tiết
kiệm của Ngân sách nhà nước, tiết kiệm của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh
tế và tiết kiệm của dân cư, đây là nguồn hình thành vốn đầu tư trong nước. Tiết
kiệm của nước ngoài hình thành vốn đầu tư nước ngoài dưới các dạng đầu tư trực
tiếp, gián tiếp và vốn viện trợ phát triển.
1.1.2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước.
Nguồn vốn đầu tư trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia.
Nguồn vốn này có ưu điểm là ổn đònh, bền vững, chi phí thấp, giảm thiểu được GVHD.TS Ung Thò Minh Lệ
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
quân đầu người; chính sách lãi suất; chính sách thuế; chính sách an sinh xã hội;
sự ổn đònh kinh tế vó mô… GVHD.TS Ung Thò Minh Lệ
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 9
Tiết kiệm của khu vực dân cư giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tài
chính do có khả năng chuyển hóa nhanh chóng thành các nguồn vốn đầu tư
thông qua các hình thức như : gởi tiết kiệm vào các tổ chức tín dụng, mua chứng
khoán trên thò trường tài chính, trực tiếp đầu tư kinh doanh…Tiết kiệm của khu
vực dân cư cũng dễ dàng chuyển thành nguồn vốn đầu tư của Nhà nước thông
qua việc mua trái phiếu chính phủ hoặc chuyển thành nguồn vốn đầu tư của
doanh nghiệp bằng việc mua trái phiếu, cổ phiếu của các công ty phát hành.
1.1.2.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm vốn đầu tư gián tiếp và vốn đầu tư trực
tiếp. Vốn đầu tư gián tiếp là những khoản đầu tư thực hiện thông qua các hoạt
động cho vay và viện trợ. Nguồn vốn có thể là của chính phủ các nước, có thể là
của các tổ chức quốc tế . Đầu tư gián tiếp nước ngoài bao gồm viện trợ phát
triển chính thức (ODA) và viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO).
Viện trợ phát triển chính thức (ODA: Official Development Assistance).
ODA là nguồn tài trợ phát triển do các cơ quan chính thức (chính quyền
trung ương hay đòa phương) của một nước hoặc một tổ chức quốc tế viện trợ cho
các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của các
nước này.
Nguồn ODA không chỉ từ các nước Châu u chiếm đại bộ phận khoảng
85%, ngoài ra còn từ Nga và các nước Đông u 10% và các nước Ả Rập có dầu
mỏ 5%. Nguồn viện trợ phát triển chính thức được thực hiện trên cơ sở song
cung cấp thuốc men cho các trung tâm y tế, chỗ ở và lương thực cho các nạn
nhân thiên tai… Hiện nay, loại viện trợ này được thực hiện nhiều hơn bằng các
chương trình phát triển dài hạn, có sự hỗ trợ của các chuyên gia thường trú và
tiền mặt như huấn luyện những người làm công tác bảo vệ sức khỏe, thiết lập
các dự án tín dụng, cung cấp nước sạch ở nông thôn, cung cấp dinh dưỡng và sức
khỏe ban đầu…
Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment):
đây là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào một nước để đầu tư
trực tiếp bằng việc thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh, góp vốn vào các
công ty, liên doanh hoặc các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Là nguồn vốn
lớn có ý nghóa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, FDI đã và đang trở thành
hình thức huy động vốn nước ngoài phổ biến, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa
các nước đang phát triển khi mà các nước phát triển đang dòch chuyển vốn đi tìm
cơ hội đầu tư ở nước ngoài nhằm gia tăng khai thác lợi thế so sánh.
Đối với các nước đang phát triển, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang ý
nghiã quan trọng trong việc tạo nên cú hích ban đầu cho sự tăng trưởng. Bởi lẽ,
khác với nguồn vốn ODA, FDI không chỉ đơn thuần đưa vốn ngoại tệ vào nước GVHD.TS Ung Thò Minh Lệ
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 11
sở tại, mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và
khả năng tiếp cận thò trường thế giới. Tiếp nhận FDI là lợi thế hiển nhiên mà
thời đại tạo ra cho các nước đang phát triển, các nước tiếp nhận cần phải biết
khai thác triệt để các lợi thế có thể có của nguồn vốn này. Tuy nhiên, FDI về
thực chất cũng là một khoản nợ, trước sau nó vẫn không thuộc quyền sở hữu và
chi phối của nước sở tại, nhà đầu tư vẫn toàn quyền sử dụng vốn. Ngày hôm nay
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 12
tại các thò trường tài chính quốc tế. Do vậy, các loại chứng khoán lưu hành trên
thò trường tài chính quốc tế phổ biến là trái phiếu chính phủ.
Ngoài ra, việc huy động vốn nước ngoài còn được thực hiện thông qua
các hoạt động thuê tài chính, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng…
Như vậy, vốn cho đầu tư phát triển nền kinh tế được huy động từ cả
nguồn vốn trong nước lẫn nguồn vốn nước ngoài. Mỗi nguồn vốn có ưu thế và
nhược điểm riêng, đòi hỏi các nước cần phải biết thai thác và sử dụng các nguồn
vốn một cách thích hợp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
1.2 Vai trò của vốn với qúa trình phát triển kinh tế.
Trong qúa trình đầu tư để tạo sự tăng trưởng và phát triển thì yếu tố vật
chất có tính tiền đề không thể thiếu được đó là vốn. Từ thực tiễn của các nước
có mức tăng trưởng cao cho thấy vốn là một nhân tố đặc biệt quan trọng, là chìa
khoá của sự thành công về tăng trưởng và phát triển kinh tế. Cụ thể:
Vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế thể hiện qua việc vốn bảo đảm
sự kết hợp cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư tạo nên sự cân bằng kinh tế vó mô.
Tiết kiệm chính là nguồn gốc của đầu tư, nhưng trong nền kinh tế thò trường, tiết
kiệm và đầu tư được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau. Công chúng quyết
đònh tiết kiệm bao nhiêu trong thu nhập của mình và doanh nghiệp quyết đònh
mở rộng quy mô đầu tư ở mức độ nào, tất cả đều là những biến cố độc lập. Vì
vậy, giữa tiết kiệm và đầu tư khó ăn khớp với nhau, nên dễ dẫn đến tình trạng
nền kinh tế bò thừa hoặc thiếu vốn làm cho sự phát triển không ổn đònh, tăng
trưởng thấp, thất nghiệp gia tăng… Như vậy, để ổn đònh nền kinh tế và thiết lập
sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước.
Trong tình trạng thừa vốn, nhà nước phải khuyến khích đầu tư và kích cầu tiêu
dùng để tiêu hoá có hiệu qủa lượng vốn từ tiết kiệm. Trong trường hợp thiếu
vốn, nhà nước phải có chính sách thu hút vốn từ bên ngoài, kiểm soát và nâng
cao hiệu quả hấp thụ vốn của nền kinh tế, đồng thời phải thực hành tiết kiệm để
bước để mở đường cho nền kinh tế phát triển. Ngân hàng Thế giới đã nhận đònh
rằng sự gia tăng tổng sản phẩm quốc gia thường tương ứng với sự gia tăng vốn
đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Vì vậy, muốn phát triển kinh tế cần phải có một lượng
vốn lớn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Mặt khác, để đạt được mục đích phát triển
kinh tế nhanh và bền vững, cần phải tạo cơ cấu kinh tế tối ưu phù hợp với đặc
điểm tình hình của mỗi nước. Một cơ cấu kinh tế tối ưu luôn bảo đảm sự phát
triển cân đối, hài hoà cả về cơ cấu ngành và cơ cấu vùng và lãnh thổ. đây,
vốn đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác hiệu quả các nguồn lực
tiềm năng tạo ra động lực đẩy mạnh chuyển dòch cơ cấu theo hướng tối ưu, từ đó
tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững.
Vốn còn là điều kiện không thể thiếu trong việc tạo ra công ăn việc làm,
qua đó nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần cho người dân, góp phần GVHD.TS Ung Thò Minh Lệ
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 14
vào việc phát triển giáo dục, y tế, văn hoá xã hội, thúc đẩy xã hội theo hướng
công bằng, văn minh.
Mỗi loại vốn đầu tư đều có những vai trò riêng biệt đóng góp vào sự phát
triển chung của nền kinh tế.
Vốn Ngân sách nhà nước. Một trong các chức năng quan trọng của nhà
nước hiện đại là chức năng tổ chức kinh tế. Để thực hiện chức năng này nhà
nước sử dụng một trong những công cụ tài chính vó mô là NSNN để phối hợp các
nguồn tài chính cho sự phát triển các ngành kinh tế quốc dân. Chi đầu tư phát
triển được cấp phát chủ yếu từ ngân sách trung ương và một bộ phận đáng kể từ
ngân sách đòa phương. Chi đầu tư phát triển bao gồm những khoản chi cơ bản
sau:
nước đối với những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các dự án trồng rừng
đầu nguồn, rừng phòng hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các dự án
xây dựng công trình văn hóa, xã hội, phúc lợi công cộng, quản lý nhà nước, khoa
học kỹ thuật, an ninh quốc phòng và các dự án trọng điểm của nhà nước do
chính phủ quyết đònh mà không có khả năng trực tiếp thu hối vốn.
Vốn tín dụng ưu đãi thuộc NSNN dùng để chi đầu tư đối với các dự án
xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các cơ sở sản xuất tạo việc làm, các dự án đầu
tư trọng điểm của nhà nước trong từng thời kỳ và một số dự án khác có khả năng
thu hồi vốn đã được xác đònh trong kế hoạch đầu tư của nhà nước.
Vốn tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân hàng là chiếc cầu nối giữa các
nguồn cung cầu về vốn tiền tệ trong nền kinh tế. Bằng việc huy động các nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế để bổ sung kòp thời cho
những doanh nghiệp, cá nhân đang gặp thiếu hụt về vốn một khoản vốn đầu tư
cần thiết để phát triển trên nguyên tắc có hoàn trả. Các tổ chức tín dụng góp
phần quan trọng trong việc điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình
sản xuất kinh doanh không bò gián đoạn, đồng thời còn giúp cho các doanh
nghiệp bổ sung vốn đầu tư để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới
công nghệ, cải tiến quản lý, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển.
Tín dụng ngân hàng góp phần khai thác có hiệu qủa tiềm năng về lao
động, đất đai và tài nguyên thiên nhiên sẵn có. Lao động Việt Nam còn rất dồi
dào nhưng chưa được khai thác sử dụng hợp lý. Nếu ngành ngân hàng có chính
sách phù hợp như đẩy mạnh cho vay hộ sản xuất, mở rộng đầu tư vốn tới tất cả
các thành phần kinh tế, đầu tư vào các ngành, các lónh vực có tiềm năng phát
triển, có lợi thế cạnh tranh, sẽ góp phần khai thác tiềm năng kinh tế, tận dụng
sức lao động xã hội, nâng cao hiệu qủa sử dụng đất đai, mặt nước nhằm tăng
thêm của cải, vật chất, góp phần tăng trưởng kinh tế và gia tăng xuất khẩu để
mang ngoại tệ về cho xã hội. GVHD.TS Ung Thò Minh Lệ
nhà kinh tế Roy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ đã chỉ ra. Hệ số này có thể
tính bằng công thức sau.
I
ICOR =
(lần)
Δ GDP GVHD.TS Ung Thò Minh Lệ
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 17
Trong đó: I
: Tổng vốn đầu tư phát triển.
Δ GDP : Mức tăng GDP
Hệ số ICOR theo phương pháp này thể hiện: Để tăng thêm một đồng
GDP cần phải tăng thêm bao nhiêu đồng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.
Mức tăng GDP tỷ lệ thuận với mức tăng vốn đầu tư và tỷ lệ nghòch với hệ
số ICOR. Do vậy, nền kinh tế càng phát triển, để tăng 1% GDP thì cần lượng
vốn đầu tư càng vốn.
Ngoài ra còn có nhiều chỉ tiêu khác phản ánh hiệu qủa của việc sử dụng
vốn đầu tư như :
- Tỷ số giá trò xuất khẩu / vốn đầu tư.
Chỉ tiêu này được đo bằng tổng giá trò xuất khuẩu trên vốn đầu tư, nó sử
dụng để đo lường khả năng tạo kim ngạch xuất khẩu. Chỉ tiêu này nói lên rằng
với 1 đồng vốn đầu tư sẽ tạo ra bao nhiêu giá trò xuất khẩu.
- Thu ngân sách / vốn đầu tư
tích vùng biển rộng gấp 3 lần diện tích đất liền. Trong vùng biển Việt Nam có
khoảng 3 ngàn hải đảo lớn nhỏ, trong đó 66 đảo có dân ở thường xuyên. Vì vậy,
biển, vùng ven biển và các hải đảo của nước ta có vò trí cực kỳ quan trọng trong
phát triển kinh tế, về chính trò và an ninh quốc phòng.
Biển Đông đóng vai trò là “chiếc cầu nối”, là điều kiện thuận lợi để giao
lưu kinh tế giữa nước ta với các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước trong
khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Những năm gần đây, trong xu thế đổi mới và phát triển chung của cả
nước, kinh tế biển đã có những bước phát triển mới và chiếm một tỷ trọng đáng
kể trong nền kinh tế quốc dân.
Dầu khí là ngành công nghiệp khai thác quan trọng nhất ở thềm lục đòa
nước ta. Công tác thăm dò dầu khí được xúc tiến mạnh mẽ trên toàn vùng biển,
nhất là ở thềm lục đòa Đông Nam Bộ đã phát hiện và đưa vào khai thác nhiều
mỏ dầu khí. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng không những đáp ứng nhu cầu
sử dụng lâu dài ở nước ta mà còn có thể xuất khẩu với khối lượng lớn, làm tiền
đề cho sự phát triển nhiều ngành công nghiệp từ nguyên liệu dầu và khí ở đất
liền.
Nguồn lợi thủy sản vùng biển nước ta được đánh giá vào loại phong phú
trong khu vực. Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn nhiều loại đặc sản khác có
giá trò kinh tế cao như tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Theo đánh giá sơ bộ,
trữ lượng cá biển Việt Nam trong phạm vi độ sâu từ 200 m nước trở vào đạt
khoảng 3 triệu tấn, cho phép khai thác tối đa hàng năm từ 1,2 – 1,4 triệu tấn mà GVHD.TS Ung Thò Minh Lệ
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 19
không ảnh hưởng đến nguồn lợi. Khả năng khai thác tôm biển dự tính khoảng từ
GVHD.TS Ung Thò Minh Lệ
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 20
trong những trọng điểm trong hệ thống Biển Đông – Hải đảo của Việt Nam cả
về kinh tế lẫn quốc phòng.
2.1.3 Vai trò và sự phát triển kinh tế biển Bình Thuận.
2.1.3.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội của Bình Thuận.
Bình Thuận là một Tỉnh Duyên hải thuộc vùng kinh tế miền Đông Nam
bộ, khu vực có thò trường sôi động và rộng lớn, gần các thành phố công nghiệp
lớn của cả nước. Phía bắc giáp hai Tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận, phía tây giáp
Tỉnh Đồng Nai, phía tây nam giáp Tỉnh Bà Ròa- Vũng Tàu, phía đông và đông
nam giáp biển đông.
Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa gắn với mùa gió Tây nam từ
tháng 5-10 và mùa khô gắn với mùa gió Đông bắc từ tháng 11-4 năm sau. Trung
bình hàng năm nhiệt độ không khí 27
o
C. Lượng nước mưa 1.200 mm phân bố
tương đối đều trong mùa mưa. Độ mặn của nước biển dao động từ 31-34
o
/oo rất
thuận lợi cho sinh vật biển phát triển.
Bình Thuận có lợi thế đặc biệt về kinh tế biển, là một trong ba ngư trường
lớn của cả nước, có vò trí chiến lược quan trọng, nhiều tiềm năng du lòch, dầu
khí, sa khoáng. Vùng kinh tế ven biển và hải đảo có 4 huyện, 1 thành phố và 1
huyện đảo Phú Qúy là cửa ngõ quan trọng, vò trí thuận lợi cho xây dựng khu kinh
tế mở trong tương lai.
lớn.
Dọc bờ biển và đảo Phú Qúy có nhiều eo vònh, vũng có khả năng nuôi hải
đặc sản trên biển dưới nhiều hình thức như: nuôi tôm hùm, cá mú trong lồng, bè;
khoanh nuôi trên biển một số loại như điệp, dòm, sò lông… và trồng một số loài
rong có giá trò kinh tế như rong sụn, rong câu…
Toàn Tỉnh có khoảng 1.635 ha bãi bồi ven sông, ven biển có khả năng
nuôi nước lợ (tôm sú, cua).
Với lợi thế về điều kiện thiên nhiên ưu đãi, sự dồi dào về tài nguyên
biển, ngành kinh tế thủy sản được đánh giá là ngành kinh tế mũi nhọn; là ngành
cung cấp nguồn đạm động vật trực tiếp cho nhân dân, nguồn nguyên liệu quan
trọng cho chế biến xuất khẩu và phục vụ du lòch của Tỉnh.
* Tài nguyên Du lòch biển là ưu thế đặc biệt, cần được khai thác tổng hợp
để phát triển mạnh.
Với chiều dài 192 km trải dài trên đòa bàn 5 huyện, thành phố, bờ biển
Bình Thuận có nhiều bãi biển với cảnh quan đẹp và đa dạng, môi trường sinh
thái tự nhiên trong lành tạo nên những vùng thu hút khách du lòch rất lớn như:
Vónh Thủy- Rạng- Hàm Tiến- Mũi Né- Hòn Rơm (Phan Thiết); Mũi điện- Tiến
Thành- Thuận qúy – Kê Gà (Hàm Thận Nam); Đồi Dương (Hàm Tân); Vónh
Hảo- Cà ná- Cù lao cau – Bình Thạnh (Tuy Phong). GVHD.TS Ung Thò Minh Lệ
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 22
Bình Thuận còn có các danh lam thắng cảnh và di tích văn hóa lòch sử
được nhiều người biết đến như: Khu bảo tồn thiên nhiên Biển Lạc – Núi Ông,
Thác Bà, Chùa Núi Takou, Chùa hang Cổ Thạch, Dinh Thầy Thím, Tháp Chàm
Poshanư, Vạn Thủy Tú (nơi thờ cúng cá voi của cư dân đòa phương, hiện đang
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 23
2.1.3.3 Tình hình phát triển kinh tế biển Bình Thuận.
2.1.3.3.1 Kinh tế thủy sản.
Được thiên nhiên ưu đãi về nguồn lợi thủy sản, với các nghề biển truyền
thống là thế mạnh của Tỉnh. Kinh tế thủy sản là ngành kinh tế đặc trưng của
Bình Thuận đang ngày càng phát triển và có những đóng góp đáng kể trong
thành tựu kinh tế xã hội của Tỉnh nhà. Năm 2004 GDP ngành thủy sản đạt 402 ,9
tỷ đồng, chiếm 11,93% GDP toàn Tỉnh, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm
giai đoạn 2001-2004 là 11.5% (giá so sánh 1994).
* Nghề khai thác thủy sản.
Thực hiện chủ trương khuyến khích khai thác xa bờ của Đảng và nhà
nước. Ngành Thủy sản đã đẩy mạnh phát triển tàu thuyền công suất lớn vươn ra
khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ, trong bốn năm từ 2001-2004 đã đóng mới
429 thuyền, tổng công suất 50.535 cv, bình quân công suất đóng mới là
117cv/thuyền. Năng lực tàu thuyền tiếp tục được tăng thêm, dự kiến đến cuối
năm 2005, toàn Tỉnh sẽ có 5.415 thuyền với tổng công suất 302.000 cv, công
suất bình quân đạt 54,4 cv/thuyền, tăng 27cv/thuyền so với năm 1993.
Nhờ năng lực khai thác hải sản phát triển ổn đònh theo hướng phát triển
nhanh tàu thuyền công suất lớn với trang thiết bò hiện đại, sản lượng khai thác
hải sản hàng năm đều tăng, nếu như năm 2000 sản lượng hải sản khai thác được
128.000 tấn, năm 2001 khai thác 130.000 tấn thì đến năm 2004 sản lượng khai
thác đã lên đến 152.000 tấn.
Mô hình tàu thu mua hải sản và dòch vụ hầu cần trên biển ngày càng phát
triển, toàn tỉnh đã có 44 tàu có trang bò máy cáp đông, kho lạnh hoạt động đạt
hiệu qủa kinh tế cao. Hình thành đội tàu thuyền thu mua hải sản và dòch vụ hậu
cần trên biển.
Nhiều nghề khai thác hải sản, nhiều công cụ, thiết bò, hầm lạnh và cả quy
* Nghề chế biến, xuất khẩu thủy sản.
Việc đầu tư cho chế biến thủy sản xuất khẩu cũng đã được các doanh
nghiệp quan tâm, nhất là trong thành phần kinh tế tư nhân. Các cơ sở chế biến
đã từng bước đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cấp dây chuyền sản xuất, tăng
năng xuất lao động, giảm đònh mức tiêu hao nguyên liệu, hạ giá thành sản phẩm
để tăng sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thò trường.
Các mặt hàng chế biến nội đòa chủ yếu là nước mắm, cá khô tẩm gia vò,
các loại thủy sản tươi sống. Các cơ sở chế biến nước mắm đã chú trọng chế biến
nước mắm cao đạm chất lượng cao tham gia vào thò trường nước ngoài.
Thò trường xuất khẩu hàng thủy sản của các doanh nghiệp chủ yếu là các
nước châu Á, khối Asean. Nhiều nhất là thò trường Nhật Bản, Hàn Quốc, kế đến
là Đài Loan, Singapore, Trung Quốc. Gần đây một số doanh nghiệp đổi mới
công nghệ chế biến, đáp ứng được yêu cầu chất lượng cao đã xuất thành công
vào thò trường một số nước EU và Mỹ, trong đó số lượng kim ngạch thủy sản
xuất khẩu chiếm tỷ trọng ngày càng có triển vọng là thò trường Mỹ, Pháp, Đan
Mạch và các nước châu u khác. Thò trường tiêu thụ nội đòa hàng hải sản có mặt
hầu hết ở các khu công nghiệp, các tỉnh phía nam, nhiều tỉnh ở phía bắc, vùng GVHD.TS Ung Thò Minh Lệ
Nguyễn Thò Như Hoa - Luận văn Cao học kinh tế
Trang 25
cao nguyên với những mặt hàng thủy sản tươi sống, sơ chế bảo quản tươi, hải
sản khô, nước mắm.
Sản lượng chế biến và kim ngạch xuất khẩu thủy sản qua các năm đều
tăng. Năm 2000 sản lượng chế biến đạt 8.531 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt
29,39 triệu USD, năm 2001 đạt 10.100 tấn và 30 triệu USD, dự kiến đến cuối
năm 2005 đạt 15.500 tấn và 50 triệu USD.