LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2001− 2020
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Tiến Dũng
Sinh viên thực hiện :
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển kinh tế , nhiều nước trên thế giới đã có được
những thành công to lớn nhờ có các chính sách phát triển kinh tế − xã hội
đúng đắn mà một trong những yếu tố cơ bản là có được chính sách phát triển
công nghiệp phù hợp. Tiêu biểu cho sự thành công này phải kể đến các nước
NIC. Mặc dù với xuất phát điểm không cao nhưng nhờ có chính sách phát
triển công nghiệp đúng đắn, các nước này đã nhanh chóng trở thành những
con rồng châu á và đang cạnh tranh với những nước có nền kinh tế phát triển
khác.
Dự thảo báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
VIII trình Đại hội đại biểu toanf quốc lần thứ IX có nêu: “ Mục tiêu tổng quát
của chiến lược phát triển kinh tế − xã hội 10 năm 2001− 2010 là : Đẩy mạnh
CNH− HĐH đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển , tập trung sức
xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng và công
nghệ cao sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị và trang bị lại kỹ thuật;
Hai thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ II, có thể coi là thời kỳ tăng
trưởng kinh tế nhanh nhất của chủ nghĩa tư bản . Tất cả các nước công nghiệp
chính trong giai đoạn này đều trải qua mọt giai đoạn tăng trưởng nhanh với
lạm phát và thất nghiệp thấp. Đây cũng là lý do đưa học thuyết của J. Keynes-
Nhà kinh tế học người Mỹ (1883-1946) trở thành một tư tưởng kinh tế phổ
biến rộng rãi ở các trung tâm quyền lực của thế giới tư bản .
Thế nhưng, với các cú sốc dầu lửa thập kỷ 70s đã mở đầu cho sự sụp đổ
của một giai đoạn tăng trưởng đầy ấn tượng trước đây.Đã có rất nhiều những
thay đổi mang tính chất cơ cấu trong nền kinh tế thế giới. Sự dịch chuyển lao
động từ khu vực nông nghiệp truyền thống sang các ngành công nghiệp và
dịch vụ tạo ra một thị trường lao động vói giá nhân công tăng và sự lớn mạnh
của các tổ chức nghiệp đoàn.
Bên cạnh các nước công nghiệp phát triển phương Tây, Nhật Bản xuất
hiện với tư ccách là một trung tâm kinh tế lớn của thế giới. Các nước mới
công nghiệp hoá ở Đông á và Đông nam á ciếm vị trí hàng đầu trên một số thị
trường thế giới như : dệt may, điện tử dân dụng, đóng tàu và sắt thép. Những
thay đổi này đã làm phong phú hơn cho bức tranh công nghiệp thế giới. Tăng
trưởng nhanh chóng trong giai đoạn 1970 đã che dấu một thực tế là các nền
kinh tế tư bản có nhiều điểm khác nhau về hệ thống chính sách kinh tế .
Trước những thay đổi ở tren, đi kèm với sự chấm dứt của thời kỳ tăng
trưởng nhanh với lạm phát và thất nghiệp thấp, các nước công nghiệp phát
triển đã buộc phải điều chỉnh tư tưởng kinh tế chủ đạo, xuất hiện rất nhiều các
cố gắng tìm kiếm những phương thức can thiệp của Chính phủ .
Một trong những cố gắng đó được thể hiện qua thuật ngữ “Chính sách
công nghiệp ”.
Mặc dù chính sách công nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với một số
nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Pháp và các nước NIC Châu á
như: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo thời kỳ sau Chiến tranh thế giới II, song
cho đến cuối những năm 1970 khái niệm ít được nhắc đến trên phương diện lý
thuyết. Những người ủng hộ chính sách công nghiệp chủ yếu tập trung vào
+ Chống độc quyền
+ Lập luận ngàn công nghiệp non trẻ
+ Các biện pháp khuyến khích ưu đãi các doanh nghiệp quy mô vừa và
nhỏ
+ Chính sách phát triển vùng
+ Các biện pháp bảo hộ mậu dịch
1.2. Khái niệm chính sách phát triển công nghiệp
Trên phương diện lý thuyết, chính sách công nghiệp được xem xét dưới
nhiều góc độ khác nhau. Một chính sách công nghiệp có thể có phạm vi tổng
quát hay mục tiêu cụ thể, nhấn mạnh vào sử dụng các công cụ theo chiều dọc
hay chiều ngang, và có thể có tác dụng tiêu cực hoặc tích cực đối với tăng
trưởng kinh tế .
Một chính sách công nghiệp có phạm vi rộng nhằm vào khuyến khích
tất cả các ngành công nghiệp , trong khi đó một chính sách công nghiệp có
phạm vi hẹp thì chỉ tập trung vào một hay một số khu vực công nghiệp được
lựa chọn theo những tiêu thức nhất định .
Như vậy, chính sách phát triển công nghiệp được hiểu là sự can thiệp
trực tiếp hay gián tiếp của Chính phủ hướng vào những ngành nhất định để
đạt được những ngành nhất định để đạt được mục tiêu cụ thể (Mục tiêu này
có thể là tăng trưởng, xây dựng năng lực cạnh tranh, tạo công ăn việc làm).
Chính sách công nghiệp thường được thể hiện dưới dạng tổ chức ngành, chọn
ngành ưu tiên, chính sách tài chính và tín dụng (thuế, tợ cấp, đầu tư trực tiếp
của Nhà nước, tín dụng ưu đãi) đối với ngành, chính sách phát triển nguồn
nhân lưc của ngành, chính sách tăng tỷ lệ nội địa hoá các sản phẩm của
ngành, chính sách đầu tư nước ngoài vào các ngành, chính sách kinh tế đối
với các ngành , chính sách đối với các khu vực chế xuất và khu công nghiệp
tập trung.
2. Nội dung và mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp .
2.1 Nội dung
Một là, chính sách phát triển công nghiệp bao gồm toàn bộ những hoạt
Để thiết lầp được một cơ cấu công nghiệp cân đối, các cước chú ý vào
hai vấn đề là thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp quy mô nhỏ và lựa chọn,
phát triển một số ngành công nghiệp mũi mhọn.
- Mục tiêu công bằng là một trong hai mục tiêu chính của chính sách
công nghiệp. Nó bao gồm các mặt như công bằng xã hội và công bằng giữa
các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Việc thực hiện mục tiêu này có ý ngiã
đảm bảo cho sự phát triển bền vững của công nghiệp nói riêng và của cả nền
kinh tế nói chung.
Ngoài hai mục tiêu trên còn có những mục tiêu khác như: đảm bảo
“chất lượng cuộc sống” thông qua việc thiết lập các quy tắc xã hội để kiểm
soát ô nhiễm và chất thải, ban hạnh luật về lương thực, thực phẩm, hoặc cũng
có nước đặt mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp là nhằm tăng thu
nhập về ngoại hối nhằm cải thiện cán cân thanh toán. Trong những năm gần
đây, gới xu thế gia tăng về hội mhaapj kinh tế, các nước còn coi mục tiêu tăng
cường hợp tác kinh tế với thế giới và khu vực là mục tiêu của chính sách phát
triển công nghiệp…
3. Trọng tâm của chính sách phát triển công nghiệp.
Chính sách công nghiệp đặt trọng tâm vào phát triển khu vực chế tạo
của nền kinh tế. Những người ủng hộ chính sách công nghiệp cho rằng hiện
tượng phi công nghiệp hoá ở Anh và Mỹ trong khoảng 3 thập kỷ qua xuất
phát từ việc coi nhẹ vai trò của khu vực chế tạo, lam giảm đóng góp của khu
vực này vào GDP và tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Theo Cohen và Zysman (1987): với tầm quan trọng của khu vực chế
tạo thì đây là một sự sai lầm về định hướng chính sách. Thêm vào đó, các
biện pháp điều chỉnh kinh tế vĩ mô có thể lầ chưa đủ để có thể thúc đẩy sự
phát triển của khu vực chế tạo vì đối với tăng trưởng năng suất của khu vực
này, sự phân bổ vốn còn có ý nghĩa quan trọng hơn là tổng giá trị vốn đầu tư.
Chính vì vậy, Chính phủ cần can thiệp trực tiếp để thúc đẩy phát triển công
nghiệp.
Tuy nhiên, đó cũng là trong tâm gây nhiều tranh cãi. Những người phản
nhất định:
4.1.Do những thất bại của thị trường và vai trò can thiệp của Chính phủ .
Lý thuyết phổ biến nhất lý giải cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền
kinh tế là lý thuyết về sự thất bại của thị trường. Tư tưởng trong tâm của
trường phái này tập trung vào thất bại của cơ chế thị trường trong việc cân
bằng giữa chi phí và lợi ích giữa cá nhân và xã hội, đồng thời cho rằng Chính
phủ có thể can thiệp để khắc phục khuyết tật của thị trường.
Hàng hoá công cộng là một thất bại hay được nhắc đến nhất của cơ chế
thị trường. Vì tính không ngoại trừ của hàng hoá công cộng, các cá nhân luôn
có đông lực thực hiện hành vi của những người ăn theo, ảnh hưởng của vấn
đề những người ăn theo là các hàng hoá công cộng sẽ được cung cấp ít hơn
mức xã hội mong muốn. Vì vậy Chính phủ cần can thiệp thông qua trực tiếp
cung cấp hàng hoá công cộng.
Tiếp nữa, sự tồn tại của tính kinh tế nhờ quy mô có thể là một yếu tố
dẫn đến những cơ cấu thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Trong một cơ
cấu thị trường như vậy, mức giá cung cấp sẽ cao hơn mức giá cạnh tranh hoàn
hảo dẫn đến tổn thất thặng dư tiêu dùng. Phần tổn thất này được chuyển một
phần vào thặng dư sản xuất dưới dạng lợi nhuận độc quyền, phần còn lại là lợi
ích mất không của xã hội. Mặc dù lý thuyết “Điều tốt thứ nhì”và quan điểm
cho rằng can thiệp của Chính phủ có thể là nguyên nhân của thị trường cạnh
tranh không hoàn hảo, sự tồn tại của cơ cấu thị trường này vẫn là một lý do
quan trọng biện minh cho vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị
trường.
4.2. Xuất phát từ lý thuyết về sự thất bại của Chính phủ.
Trong thực tế, cũng như khả năng thị trường tự do có những khuyết tật,
sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế cũng có thể không thành công vì
bản thân Chính phủ cũng có những thát baị của nó.
Có hai yếu tố chính cản trở Chính phủ có thể đạt được mục tiêu can
thiệp vào nền kinh tế.
Thứ nhất, chi phí cần thiết để Chính phủ có thể thu thập đủ và xử lý tốt các
Quan điểm kinh tế chính trị, ở một thái cực là các nhà kinh tế Marxist,
ở thái cực khác là trường phái Chicago xuất phát từ những quan điểm khác.
Chính phủ có thể có một mức độ độc lập nhất định đối với đai chúng,
nhất là khi không có giai cấp nào có đủ khả năng ảnh hưởng mạnh đến các
quyết định chính sách. Trong tình huống này Chính phủ có thể hành động
theo mục tiêu tối đa hoá nguồn thu vào ngân sách.
Theo Findlay (1990), Chính phủ có thể được coi như là một lực lượng
độc lập đưa ra các quyết định không nhất thiết phải xuất phát từ lợi ích của xã
hội.
Quan điểm về nhóm lợi ích coi Chính phủ như là chiếc hộp đen mà các
nhóm lợi ích trong xã hội có thể đối kháng, hay liên minh với nhau để đưa ra
các quyết định về chính sách. Khi một khu vực công nghiệp nào đó có tầm
quan trọng đối với nền kinh tế, sức ép của nhóm lợi ích này có thể dẫn đến
các quyết định về chính sách thuận lợi đối với nhóm lợi ích đó mà có thể gây
phương hại đến những nhóm lợi ích khác trong xã hội.
Một số nhà kinh tế Marxist cho rằng sự tồn tại của một Nhà nước phu
thuộc chặt chẽ vào phương thức tái sản xuất của xã hội, và vì vậy, Chính phủ
phải hành động vì lợi ích của giai cấp đóng vai trò chủ đạo về kinh tế trong
cấu trúc xã hội.
Nói tóm lại, khác với lý thuyết về thất bại của thị trường, quan điểm kinh tế
chính trị cho rằngcp có thể có sự can thiệp vào nền kinh tế nhưng có thể đươc
biện minh bởi những nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm, mức độ độc lậpcủa
từng hệ thống chính quyền.
Từ những lý do nói trên dẫn đến nền kinh tế nói chung và lĩnh vực công
nghiệp nói riêng cần phải có một chính sách để phát triển đó là Chính sách
phát triển công nghiệp.
5. Phân loại chính sách công nghiệp .
Bản thân nền công nghiệp, đối tượng của chính sách, là thực thể luôn
luôn động. Hơn nữa, chính sách công nghiệp là cái luôn biến đổi từng giờ,
từng phút với sự biến động của thời đại của xã hội và có rất nhiều loại đối
- Vấn đề phát triển công nghiệp có tính chiến lược .
Cần phân biệt rõ chính sách phát triển ngành có tính chiến lược (ngành
xuất khẩu, điện tử …) với chính sách phát triển các ngành sản xuất cơ sở hạ
tầng (sản xuất nguyên vật liệu chủ yếu, linh kiện, phụ kiện, …).
5.3. Phân biệt theo thủ pháp chính sách ( theo cách thức để thực hiện mục
tiêu )
- Vấn đề hoàn thiện cơ sở hạ tầng.
+ Phân biệt chính sách hoàn thiện cơ sở hạ tầng phần cứng và chính
sách hoàn thiện cơ sở hạ tầng phần mềm (môi trưowngf công nghiệp ).
+ Phân biệt chính sách phát triển cơ sở hạ tầng (như tài chính, tiền tệ,
thuế…) với chính sách phát triển kỹ thuật cho phần cơ sở hạ tầng (như nghiên
cứu , quy cách hoá, chế độ quyền sở hữu công nghiệp ) và cả chính sách cơ
cấu công nghiệp cơ sở hạ tầng ( như cơ cấu sản xuất phụ tùng của các doanh
nghiệp trong ngành cơ khí).
- Về kế hoạch triển vọng.
+ Phân biệt kế hoạch mang tính chất giáo dục, nhận thức, hay mục tiêu
chính sách, hay kế hoạch điều chỉnh định hướng.
+ Phân biệt kế hoạch được xây dựng bằng ý trí của Chính phủ hoặc
được xây dựng trên cơ sở của sự thoả thuận với người có lieen quan.
- Về phương pháp luận.
+ Phân biệt chính sách bất biến, chính sách tạm thời hay chính sách
khẩn cấp.
+ Phân biệt chính sách có tính uy quyền (chỉ huy, cơ chế,…) với các
chính sách hỗ trợ (tài trợ, cho vay vốn , chế độ thuế…) hoặc chính sách có
tính hoàn thiện môi trường (như cung cấp thông tin, đưa ra quy cách, phát
triển kỹ thuật,…) hay chính sách mang tính hướng đạo.
Tốm lại, có thể tổng kết chính sách phát triển công nghiệp như sau:
Chính sách nhằm ảnh hưởng tới cơ cấu của một nước. Tức là một chính
sách can thiệp vào hoạt động giao dịch với nước ngoài như : ngoại thương,
đầu tư trực tiếp, chính sách hỗ trợ phát triển và bảo hộ (trợ cấp thuế) chính
ngữ “công nghiệp hoá, hiện đại hoá ”.
Xét về bản chất, thuật ngữ “công nghiệp hoá, hiện đại hoá “ ở Việt
Nam bao hàm hệ thống các mục tiêu, các định hướng và hệ thống các chính
sách nhằm chuyển Việt Nam từ một nước nông nghiệp thành một nước công
nghiệp. Trong hệ thống các mục tiêu và định hướng của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở Việt Nam, vấn đề phát triển các ngành, các khu vực, các loại
hình quy mô và các thành phần kinh tế chiếm vị trí quan trọng, ở đây, những
vấn đề chung được đề cập thường là:
- Cơ cấu ngành kinh tế : công nghiệp – nông nghiệp- dịch vụ , ở đây,
các cơ cấu được chú ý trong thiết kế chính sách là : cơ cấu công nghiệp khai
thác- công nghiệp chế biến- công nghiệp điện nước; cơ cấu trồng trọt và chăn
nuôi, cơ cấu các loại hình dịch vụ .
- Cơ cấu gữa đo thị và nông thôn
- Cơ cấu giữa quy mô doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh
nghiệp nhỏ.
-Cơ cấu giữa doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Trên cơ sở các mục tiêu và định hướng phát triển công nghiệp như vậy,
phải thiết lập hệ thống các chính sách được sử dụng để hỗ trợ cho phát triển
công nghiệp, trong đó phải kể đến một số chính sách chính như : chính sách
vốn, chính sách nguồn nhân lực, chính sách phát triển khoa học và chính sách
thuế quan.
Như vậy, chính sách công nghiệp của Việt Nam có thể được hiể là tập
hợp của các định hướng, chính sách, công cụ điều chỉnh đối với một số ngành
công nghiệp để đạt được mục tiêu đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp
sang một nước công nghiệp vào năm 2020. Nhiệm vụ của chính sách công
nghiệp có thể thay đổi qua mỗi thưòi kỳ nhưng đều có mục tiêu chung là điều
chỉnh các hoạt động cuả các khu vực công nghiệp theo chiều hướng có lợi cho
sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
Nhiệm vụ này được thể hiện trên hai mặt sau :
đó không cho phép Việt Nam có thể sử dụng các rào cản bảo hộ thuế quan và
phi thuế quan để trọ giúp cho phát triển công nghiệp trong dài hạn.
III. CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG Á VÀ BÀI
HỌC KINH NGHIÊM CHO VIỆT NAM. (NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, ĐÀI
LOAN).
Kinh nghiệm phát triển của các nước Đông á cho thấy chính sách công
nghiệp là một công cụ hữu hiệu để các nước Đông á xây dựng kinh tế sau sự
tàn phá của chiến tranh và phát triển trở thành các nền kinh tế công nghiệp
hoá mới như : Hàn Quốc, Đài Loan, hay nền kinh tế công nghiệp phát triển
như Nhật Bản.
Chính sách công nghiệp của các nước này có hai đặc điểm chính :
1. Tập trung vào xây dựng cơ sở kinh tế trong nước.
Với xuất phát điểm là các nền kinh tế bị tàn phá và kiệt quệ sau chiến
tranh, vấn đề đặt ra đầu tiên trong chiến lược công nghiệp hoá ở Nhật Bản,
Hàn Quốc, Đài Loan là tái thiết nền kinh tế.
Đài Loan, bắt tay vào công cuộc xây dựng lại nền kinh tế sau 1949 với việc
quốc hữu hoá các cơ sở kinh tế từ tay người Nhật thành các doanh nghiệp Nhà
nước trong các lĩnh vực như: tinh chế đường, diện lực, lọc dầu. Các công ty
thuộc lĩnh vực xi măng, giấy và những công ty nhỏ hơn được tư nhân hoá,
nhờ đó giúp chuyển vốn của các địa chủ từ sản xuất nông nghiệp vào khu vực
công nghiệp. Đồng thời Chính phủ ủng hộ sự phát triển của các khu vực thay
thế nhập khẩu bằng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, chú ý phát triển
các công ty tư nhân thông qua việc nhập khẩu máy móc thiết bị bằng nguồn
viện trợ của Mỹ.
Nhật Bản, nền kinh tế sau chiến tranh đang trong tình trạng đổ nát và tụt hậu
khá xa về công nghệ so với các quốc gia công nghiệp hoá. những năm đầu
sau chiến tranh, chiến lược của Mỹ đối với Nhật Bản là kiềm chế tăng trưởng
kinh tế. Tăng trưởng nhanh của Liên Xô cũ và sự mở rộng nhanh chóng của
thế giới cộng sản buộc Mỹ thay đôỉ chiến lược đối ngoại đối với Nhật Bản.
Kế hoạch Marshall do Mỹ đưa ra nhằm mục tiêu hỗ trợ quá trình tái thiết
ngừa và dẹp bỏ mội sự chống đối từ các phe phái đối lập. Sự phát triển của
các Cheabols trong khu vực công nghiệp nặng và hoá chất là sự thể hiện rõ
nét của một chiến lược phát triển công nghiệp hướng nội, nhằm vào mục tiêu
độc lập kinh tế.
Để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các ngành
công nghiệp thay thế nhập khẩu, Chính phủ Hàn Quốc duy trì chế độ tỷ giá
hối đoái kép, đưa ra mức tỷ giá cố định quy định riêng cho xuất khẩu và nhập
khẩu. Đồng thời giảm thuế cho máy móc , thiết bị nhập khẩu.
Bảng 1 - Tóm tắt các chính sách khuyến khích công nghiệp ở Nhật Bản, Hàn
Quốc và Đài Loan.
Nhật Bản Hàn Quốc Đài Loan
Hợp lý hoá công nghiệp
(nửa đầu thập kỷ 50)
Ưu tiên đầu tư nhập khẩu
thiết bị, đầu tư vào máy
móc/ các khoản cho vay
của ngân hàng phát triển
Nhật Bản / Miễn giảm
thuế.
Sau nội chiến Triều Tiên
(Những năm 50)
Phát triển và khuyến khích
các ngành công nghiệp
thay thế nhập khẩu/ hệ
thống trợ cấp bằng hạn
ngạch/ tỷ giá hối đoái kép/
miễn giảm thuế cho máy
móc, nguyên liệu nhập
khẩu
Công nghiệp hoá thay
(những năm 60)
Phát triển một nên kinh
tế mở/ hợp tác giữa Nhà
nước và tư nhân/ điều
chỉnh cơ cấu đầu tư/ phối
hợp các lĩnh vực sản
xuất/ thực hiện chương
trình phát triển kinh tế
ngành(các giải pháp cho
công nghiệp máy móc và
khu vực điện tử)
Chuyển sang công nghiệp
hướng xuất khẩu
(những năm 60)
Ưu tiên tăng trưởng kinh
tế/ thu hút vốn đầu tư
nước ngoài/ khuyến khích
công nghiệp sản xuất hàng
xuất khẩu/ miễn thuế/
khuyến khích phát triển
các ngành công nghiệp
chủ đạo thông qua can
thiệp của Chính phủ và
đầu tư cho nghiên cứu ứng
dụng.
Công nghiệp hoá
hướng xuất khẩu
(những năm 60)
Tăng cường sử dụng
vốn nước ngoài (các
(những năm 70)
Lập kế hoạch phát
triển chính thức cho
các công ty Nhà nước
về sắt thép, hoá dầu,
và đóng tàu/ hình
thành quỹ vốn đầu tư
xã hội.
Tự do hoá phối hợp các
ngành công nghiệp nặng,
Khuyến khích phát
triển các ngành công
hoá chất.
(những năm 80)
Tự do hoá kinh tế/ tư nhân
hoá một số khu vực công
cộng/ tự do hoá quản lý
cốn đầu tư nước ngoài/ tự
do hoá tài chính/ tiếp tục
khuyến khích phát triển
doanh nghiệp quy mô vừa
và nhỏ.
nghiệp kỹ thuật cao.
(những năm 80)
Xác định các ngành
công nghiệp chiến
lược/ miễn thuế đối
với các ngành điện tử
Khuyến khích xuất khẩu
cũng là 1 phần của CNH
CNH thay thế nhập khẩu
(nửa đầu thập kỷ 50)
Thành lập các ngành
công nghiệp công cộng
vay với lãi suất thấp của
Ngân hàng phát triển
Nhật Bản/ thành lập
Ngân hàng xuất khẩu
Nhật Bản (1950)/ khuyến
khích về thuế, khấu trừ
thu nhập cho xuất khẩu/
phát triển bảo hiểm xuất
khẩu/ thành lập JETRO.
thay thế nhập khẩu ở Hàn
Quốc/ thành lập quỹ
khuyến khích xuất khẩu/
trợ cấp tín dụng cho xuất
khẩu, trợ cấp khác cho
xuất khẩu.
chủ đạo/ lán sóng viện
trợ của Mỹ/ hạn ngạch
nhập khẩu để bảo hộ/ chế
độ tỷ giá kép/ áp dụng hệ
thống hai giá để khuyến
khích xuất khẩu.
Khuyến khích phát triển
công nghiệp
(cửa sau những năm 50)
xuất khẩu
(những năm 60)
Khuyến khích các xí
nghiệp tư nhân trong các
ngành CNXK/ các khoản
trợ cấp trực tiếp/ cho vay
lãi suất thấp/ miễn giảm
thuế, khấu hao theo gia
tốc/ khuyến khích phát
triển xuất khẩu sản phẩm
công nghiệp nhẹ/ thành
lập KOTRA.
CNH hướng xuất khẩu
hoàn toàn
(những năm 60)
Các khoản cho vay đặc
biệt/ cho vay xuất khẩu/
phát triển KCX/ khuyến
khích các công ty thương
mại/ miễn giảm thuế/ ban
hành luật đầu tư/ tăng
cường sử dụng vốn nước
ngoài.
Tăng trưởng nhanh của
Công nghiệp xuất khẩu
(những năm 70)
Mở rộng các khoản cho
vay lãi suất thấp/ phát
Sự tiến bộ của các ngành
hoá dầu, máy móc, phụ tùng, điện tử được xác định là các khu vực ưu tiên và
được hưởng các ưu đãi của Chính phủ về miễn giảm thuế kinh doanh về thuế
xuất khẩu, cho vay lãi suất thấp, cho phép nhập khẩu công nghệ nước ngoài,
và miễn phải chịu luật chống độc quyền. Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản
cũng chủ ý thay đổi về thể chế để khuyến khích xuất khẩu .
Mục tiêu chính sách công nghiệp những năm 60 được bổ sung thêm nội
dung bảo vệ các ngành công nghiệp trước những tác động của tự do hoá. Nếu
như việc bảo vệ các ngành công nghiệp này vẫn sử dụng những công cụ chính
sách như thời kỳ trước đây thì sẽ không có sự chuyển hướng của chính sách
công nghiệp. Thay vào đó, các công cụ chính sách theo chiều ngang được
thực hiện để tăng cường sức cạnh tranh cho công nghiệp Nhật Bản. Mục tiêu
nâng cao sức cạnh tranh của công nghiệp Nhật Bản được thông qua việc
Chính phủ khuyến khích việc phối hợp giữa các ngành công nghiệp, tăng
cường hợp tác, trao đổi thông tin giữa khu vực tư nhân và khu vực Nhà nước.
Tuy nhiên, chính sách công nghiệp vẫn sử dụng các công cụ theo chiều dọc
đối với một vài ngành công nghiệp cụ thể như ô tô và hoá dầu, được coi là
những ngành có tính chiến lược, song những công cụ theo chiều dọc này
trong thực tế đã không có hiệu lực như mong muốn.
Thay vào đó, cơ chế thị trường và sự phối hợp giữa Chính phủ với các
ngành công nghiệp theo phương châm “Chính phủ không phải là cha, Chính
phủ chỉ là người anh trai đối với các ngành công nghiệp ”.Kết quả là, trong
thời kỳ này, công nghiệp Nhật Bản đạt được mức tăng trưởng cao chưa từng
có, với hệ thống kinh tế tự do được hình thành và củng cố vững chắc.
Hàn Quốc
Sự chuyển hướng từ công nghiệp hoá hướng nội sang khuyến khích các
ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu ở Hàn Quốc có nhiều điểm khác
biệt so với Nhật Bản. Nếu như Chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu có dấu hiệu
chuyển hướng từ nửa cuối 1950s và cho đến 1960s thì hầu như các công cụ
của chính sách công nghiệp được sử dụng đều là các công cụ chính sách theo
chiều ngang. Vào đầu những năm 1980 chính phủ chủ yếu thực hiện sự lãnh
đạo của mình đối với khu vực công nghiệp thông qua việc kiểm soát các tổ
chức tài chính tài trợ cho phát triển các ngành công nghiệp sanr xuất hàng
xuất khẩu.
Đài Loan :
Bắt tay vào khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp hướng ra
xuất khẩu vào cuối những năm 1950, sớm hơn vài năm so với Hàn Quốc.
Việc nới lỏng đối với xuất nhập khẩu được thực hiện từ sau 1958. Chính sách
tỷ giá hối đoái kép được thay bằng một hệ thống tỷ giá thống nhất. Đầu tư
nước ngoài bắt đầu được chú ý vào đầu những năm 1960. Chính phủ cho phép
các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được sử dụng các khoản tín dụng
ưu đãi và các miễn giảm về thuế.
Điểm nổi bật trong khuyến khích công nghiệp xuất khẩu của Đài Loan
là việc thành lập các khu chế xuất ( EPZ ). Đài Loan là nước thành công nhất
trong việc sử dụng mô hình EPZ vào khuyến khích phát triển xuất khẩu.
Kết quả của những cố gắng đã tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn với cơ
sở hạ tầng hiện đại, các ưu đãi về thuế, thủ tục hành chính đơn giản là các lĩnh
vực hành chính như dệt, chế biến thực phẩm, công nghiệp nhẹ, linh kiện điện
tử, đồ gia dụng đã phát triển nhanh chóng trong khuôn khổ các EPZ.