Chương 7. Thiên tai khí tượng nông nghiệp - Pdf 71

Chương VII. THIÊN TAI KHÍ TƯỢNG NÔNG NGHIỆP
1. SƯƠNG MUỐI
1.1. Điều kiện hình thành.
Sương muối là loại thiên tai thường xảy ra trong mùa đông ở các tỉnh miền Bắc nước ta. Sương
muói là những hạt băng nhỏ, xốp, nhẹ, đọng trên mặt đất, lá cây hay các vật gần mặt đất khi nhiệt
độ hạ xuống dưới 0
o
C. Sương muối cũng có thể xuất hiện khi nhiệt độ không khí trên dưới 5
o
C,
nhưng nhiệt độ mặt đất và lá cây có thể xuống thấp hơn không khí khá nhiều.
Sương muối thường xuất hiện vào ban đêm khoảng gần sáng, khi mà mặt đất bức xạ và nguội
lạnh đi nhiều nhất. Do nhiệt độ quá thấp, hơi nước chứa trong không khí tiếp giáp với bề mặt lạnh
sẽ ngưng kết lại ở trạng thái băng, dưới dạng những hạt nhỏ như những tinh thể muối.. Sương muối
cũng có thể hình thành do hơi nóng, ẩm từ các lớp đất sâu bốc lên. Do đó mà sương muối có thể
thấy cả ở mặt trên lẫn mặt dưới lớp lá khô hoặc các vật khác.
Điều kiện thích hợp nhất cho sự hình thành sương muối là những đêm có gió mùa Đông Bắc,
trời quang mây, gió nhẹ. Do trời quang mây, bức xạ hữu hiệu của mặt đất và các vật trên mặt đất
được tăng cường, không khí luôn luôn được thay thế và hơi ẩm được bổ sung liên tục khi có gió
nhẹ. Sương muối hình thành nhiều nhất ở những nơi có độ ẩm vừa phải. Trong các thung lũng, bồn
địa... nhiệt độ hạ thấp hơn các nơi khác nên sương muối dễ xuất hiện hơn so với sườn núi hoặc
đỉnh đồi. Sương muối thường xuất hiện với tần suất cao ở những nơi trơ trọc, không có thảm thực
vật và các sườn phía Bắc đón gió mùa Đông Bắc.
Dựa vào nguyên nhân hình thành mà người ta có thể chia sương muối ra làm 3 loại:
- Sương muối bức xạ: Hình thành do mặt đất bức xạ quá mạnh làm cho nhiệt độ mặt đất giảm
xuống đột ngột, nhiệt độ hạ xuống dưới 0
o
C. Loại này thường được hình thành khi trời quang mây,
gió nhẹ, độ ẩm không khí không cao lắm.
- Sương muối bình lưu: Là loại sương muối được hình thành khi có bình lưu lạnh tràn về làm
cho nhiệt độ không khí và mặt đất hạ xuống nhanh chóng, phạm vi phân bố loại sương muối này

9. Hoà Bình 0.4 0.5 0.9
10. Phó B ngả 1.3 2.3 2.3 0.6 0.1 6.6
11. Trùng Khánh 0.04 0.8 2.2 2.5 0.3 5.8
12. Ðình L pậ 0.4 1.5 1.6 0.04 3.5
13. nh HoáĐị 0.3 0.4 0.7
14. Hàm Yên 0.04 0.6 0.6
15. L ng S nạ ơ 0.1 0.8 1.2 0.03 2.1
16. Hà N iộ 0.1 0.03 0.03 0.2
17. Qu H pỳ ợ 0.4 0.3 0.7
18. Tây Hi uế 0.2 0.6 0.8
1.2. Tác hại và phương pháp phòng chống
Tác hại của sương muối là do nhiệt độ thấp. Khi nhiệt độ hạ xuống dưới 0
o
C, nước trong thân
cây sẽ đóng băng lại và giãn nở thể tích, phá vỡ các tế bào, các ống dẫn nhựa cũng ngừng hoạt
động không vận chuyển được các chất dinh dưỡng nuôi cây. Vì vậy ngày hôm sau khi có sương
muối, cây trồng bắt đầu xuất hiện những vết “cháy táp” trên mặt lá. Ngọn cây khô dần, lớp vỏ tróc
ra, cây héo úa rồi chết. Ngay cả khi sương muối chưa hình thành nhưng nếu nhiệt độ không khí
xuống rất thấp, các quá trình sinh lý bị ngưng trệ gây ra hiện tượng héo sinh lý.
Để chủ động trong việc phòng chống sương muối, cần phải biết trước khả năng có thể xuất
hiện sương muối hay không, từ đó có những biện pháp thích hợp để hạn chế tác hại của sương
muối. Trong số các phương pháp dự báo sương muối, thì phương pháp Mikhailepski dễ áp dụng và
cho độ chính xác khá cao đối với loại sương muối bức xạ và sương muối hỗn hợp.
Công thức dự báo có dạng:
M = t’ – (t – t’).C
121
M’ = ť – (t – ť).2C
Trong đó : M : là nhiệt độ thấp nhất của không khí vào ban đêm.
M’: là nhiệt độ thấp nhất của bề mặt đất vào ban đêm.
t : là nhiệt độ đo được trên nhiệt kế khô và t’ nhiệt độ đo được trên nhiệt kế ướt.

bố trí sao cho giai đoạn ra hoa, đậu quả mẫn cảm với nhiệt độ thấp tránh được thời kỳ xuất hiện
sương muối.
- Trồng đai rừng phòng hộ chống hướng gió lạnh. Bố trí mật độ cây trồng hợp lý.
2. GIÓ FOHN KHÔ, NÓNG (gió Lào)
2.1. Điều kiện hình thành
122
Gió fohn khô, nóng là hiện tượng thời tiết xảy ra trong mùa hè ở nước ta, ảnh hưởng chủ yếu
tới các tỉnh ven biển miền Trung, nằm dọc theo dãy Trường Sơn từ Thanh Hóa đến Ninh Thuận.
Gió này có nguồn gốc từ vùng biển Nam Ấn Độ Dương, trên đường đi qua lục địa Thái Lan, Lào,
Campuchia và dãy Trường Sơn, khối không khí nguồn gốc biển nóng ẩm bị biến tính fohn trở nên
khô và nóng (xem phần 3.3, chương 5). Gió fohn khô, nóng thường có hướng Tây, Tây-Nam
thường được gọi là gió Lào.
Gió Tây Nam khô nóng ảnh hưởng nhiều nhất ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, vào tới Bình - Trị -
Thiên. Ở đồng bằng Nghệ An – Hà Tĩnh, trung bình hàng năm quan sát được 20 - 30 ngày. Trong
các vùng thung lũng phía Tây, tình trạng khô nóng còn biểu hiện nghiêm trọng hơn, mỗi năm có
đến 40 – 50 ngày, trong đó có 15 – 20 ngày khô nóng cấp II.
Khu vực Thanh Hoá và Ðồng bằng Bắc Bộ gió khô, nóng ít hơn, khoảng từ 10 đến 20 ngày mỗi
năm. Vùng Tây Bắc cũng thường thấy gió Tây mà tính chất cũng tương tự như trên.
Bảng 7.3. Mức độ gió khô nóng ở một số địa điểm vùng Bắc Trung Bộ
Địa điểm Tháng
III
Tháng
IV
Tháng
V
Tháng
VI
Tháng
VII
Tháng

2.2. Tác hại và biện pháp phòng chống
123
Tác hại của gió Tây Nam khô nóng (gió Lào) chính là nhiệt độ cao và độ ẩm không khí thấp.
Trong trường hợp tốc độ gió vừa phải (khoảng 2 - 3 m/s), nhiệt độ tối cao trong ngày tới 34 - 35
0
C,
độ ẩm tối thấp dưới 55%. Gió Lào mạnh (tốc độ khoảng 5 - 10 m/s) có thể làm tăng nhiệt độ tới 37
- 40
0
C, độ ẩm giảm xuống dưới 45%. Vì vậy khi có gió Tây Nam khô nóng, độ thoát hơi nước của
cây rất lớn, lượng nước trong cây bị hao hụt không kịp bù lại, cây sẽ bị khô héo và chết. Gió khô
nóng kéo dài dễ gây ra khô hạn trên diện rộng, ảnh hưởng rất lớn đến mùa màng.
Những đợt gió khô nóng đến sớm thường nguy hiểm cho lúa xuân đang thời kỳ trỗ bông. Khi
gặp những đợt gió này, tỷ lệ hạt lép từ 20 – 50%. Đối với lúa mùa vào thời kỳ mạ, gió này làm cho
mạ bị già, khi cấy xuống không bén được rễ. Đặc biệt gió Tây Nam khô nóng còn là nguyên nhân
gây ra cháy rừng. Trong những trường hợp gió mạnh, cây cỏ bị khô héo, dễ bị cháy rừng và lan
trên diện rộng. Mặt khác, tác động gián tiếp của các yếu tố khí tượng còn kéo theo làm khô kiệt
nước trong đất, chua phèn và muối mặn ngấm lên mặt làm cho bộ rễ cây như bị ngâm trong các
dung dịch có nồng độ muối khoáng và a xít cao, cây trồng có thể bị chết.
Để đề phòng gió Tây Nam khô nóng, đối với lúa xuân cần gieo cấy đúng thời vụ, chăm bón tốt
cho lúa mọc khỏe, trổ sớm, tránh được nhũng đợt gió khô nóng đầu mùa. Đối với lúa mùa,
khi cấy cần giữ nước mặt ruộng cho mát gốc, bón thêm phân để làm tăng sức sống.
Các biện pháp phòng chống như phủ đất, trồng xen, vun gốc... có tác dụng làm giảm tác hại của
gió khô nóng. Việc trồng rừng chắn gió có tác dụng hạn chế tác hại của gió khô nóng vì một mặt
làm hạ thấp nhiệt độ, mặt khác tăng thêm độ ẩm của không khí.
Gió Lào làm cho sức khỏe của trâu, bò bị giảm sút, do đó ảnh hưởng đến năng suất lao động.
Vì thế cần chú ý chăm sóc trâu bò trong mùa gió Lào thông qua việc bảo đảm cung cấp đầy đủ thức
ăn, nước uống, giờ giấc làm việc hợp lý. Trên những vùng đất trồng trọt và chăn nuôi cần tạo ra
nhiều hồ chứa nước và trồng rừng chắn gió. Vào thời kỳ cuối mùa đông cần chọn một loại cây
trồng nào đó vừa chịu hạn vừa sinh trưởng nhanh chóng, tạo lớp phủ thực vật cho các cây trồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status