CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nhiều nước, nhất là các nước ở châu Á coi một số loại côn trùng là món ăn ngon. Ở nước ta các
loại côn trùng như cào cào, châu chấu, dế, tằm, sâu chit, nhộng tằm, rươi. là những loại côn trùng
được dùng làm món ăn, một số nơi được coi là món ăn quý. Với loài dế cũng có nhiều giống
như: dế ché, dế cơm to con, thân màu nâu đen, hai chân sau to có màu nâu sẩm.
Dế cơm có cùng kích cỡ như dế ché, cánh màu đen đậm, chân nâu nhạt, đây là hai giống to con
và lịch lỡm nhất trong họ nhà dế.
Ngoài ra còn có các loại dế nhỏ con hơn như dế mọi, dế ta, dế nhủi, dế mèn - cái tên quen thuộc
trong tiểu thuyết "Dế mèn phiêu lưu ký" của nhà văn Tô Hoài, nhỏ con nhất và thường sống dưới
lớp vỏ cây là dế dủi, không cánh.
1.2. Mục đính nghiên cứu
- Dế là một loại côn trùng mà ta có thể nuôi và chế biến ra nhiều món ăn khác nhau ở một số
nước như Ấn Độ , Đài Loan, Trung Quốc, thái Lan. Dế còn được coi là món ăn ngon, ở nhiêu nơi
dế còn được coi đó như là một đăc sản. Những năm gần đây phong trào ăn dế và nuôi dế ở một
số nước ngày càng phổ biến, thì ở VN ta một vài năm trở về đây cũng vậy nhất là ở trong
TPHCM dế là một món ngon luôn có ở trên bàn nhậu, nhờ đó mà phong trào nuôi dế bắt đầu
hình thành và đã có người giàu lên nhờ nuôi dế.
- Vậy để đáp ứng nhu cầu một số nhà hàng và một số hộ chăn nuôi. Chúng tôi nghiên cứu vấn đề
này để giúp các hộ nuôi dế, Trang trại dế đả cung cấp dế giông cho các hộ chăn nuôi và hướng
dẫn kỹ thuật một cách nhiệt tình giúp người nuôi đạt hiệu quả tốt nhất.
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN
Hiệp Hòa là một huyện trung du, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bắc Giang, cách thành phố Bắc
Giang 30 km. Phía Bắc giáp huyện Tân Yên. Phía Nam giáp huyện Yên Phong (Bắc Ninh). Phía
Đông giáp huyện Việt Yên. Phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên của huyện
là 20.110 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 67%; đất lâm nghiệp chiếm 0,9%. Đây là một vùng
có đất đai đa dạng, thích nghi với nhiều loại cây trồng về lương thực, thực phẩm, công nghiệp.
Trên địa bàn huyện có con sông Cầu chảy qua, không chỉ cung cấp nguồn nước tưới mà còn chứa
trữ lượng tài nguyên cát, sỏi khá lớn. Các xã ven sông Cầu có nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa
nổi tiếng, điển hình là làng nghề ươm tơ truyền thống tại xã Mai Đình. Gần đây còn nổi lên
phong trào nuôi dế xoá đối giảm nghèo và làm giàu… Về giao thông đường bộ còn có tuyến
Hà Nội, Quảng Ninh... Nhưng điều đáng ghi nhận là không những nông dân không bỏ ruộng mà
đồng đất ở đây vẫn quay vòng đủ ba vụ mỗi năm. Từ nguồn vốn hỗ trợ và huy động trong nhân
dân, Danh Thắng đã có 70% đường và hơn 50% kênh mương được cứng hoá. Ba trường học và
trạm y tế xã đều đạt chuẩn quốc gia. Hơn một nửa số hộ trong xã có kinh tế khá trở lên.
Còn ở xã Đoan Bái, ông Đặng Văn Thiện, Chủ tịch UBND xã cho biết: "Từ nhiều năm nay,
Đoan Bái có duyên với các dự án khoa học nông nghiệp của một số bộ, ngành. Vì thế cán bộ và
nhân dân có điều kiện thuận lợi để tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đưa các giống
cây, con có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất." Nông dân ở đây vốn có
truyền thống trồng các giống đậu tương cao sản, nay thêm cây dưa bao tử, ớt, cà chua xuất khẩu,
liên kết với Viện Ngô Trung ương trồng ngô giống, chăn nuôi lợn siêu nạc; đưa cây bưởi Diễn
trồng thành trang trại, sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý tàn dư thực vật trên đồng ruộng thành
phân bón hữu cơ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trong xã đã xuất hiện nhiều mô hình mới như
nuôi dế, nuôi hươu lấy nhung, mở ra triển vọng đa dạng hoá sản phẩm chăn nuôi.
Các biện pháp chỉ đạo sát thực tế của cấp uỷ, chính quyền các cấp cùng với đức cần kiệm, năng
động, sáng tạo của người dân đã cho ra đời nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh
tế cao như: luân canh lạc xuân - lúa mùa - khoai tây Đức ở các xã Danh Thắng, Đoan Bái, Hùng
Sơn; nuôi cá bán thâm canh cho năng suất tăng gấp đôi so với phương pháp truyền thống (4 tấn
lên 8 tấn) tại Đông Lỗ, Mai Đình, Xuân Cẩm, Hợp Thịnh; lúa - cá - cần ở Hoàng Lương; nhãn -
bưởi Diễn - keo ở Lương Phong, Ngọc Sơn, Đức Thắng. Bên cạnh đó còn xuất hiện mô hình phát
triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ như làng nghề ở Mai Trung... Thu nhập của người dân nông
thôn Hiệp Hoà đến từ nhiều nguồn: sản xuất nông nghiệp, làm dịch vụ, xuất khẩu lao động, làm
thuê... Những nguồn thu đó đều nhằm mục đích đóng góp xây dựng cơ sở vật chất, mở mang sản
xuất, dịch vụ, cải thiện đời sống làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi. Chạy dọc sông Cầu giờ đây
là những làng quê trù phú của các xã Châu Minh, Mai Đình, Xuân Cẩm, Hợp Thịnh... Chỉ đạo
phát triển sản xuất, huyện hướng các xã tập trung đầu tư theo khoảnh, theo vùng, khuyến khích
chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại để thuận lợi cho việc thâm canh, phòng chống dịch
bệnh và tiêu thụ sản phẩm. Theo đó, các trang trại ngày càng phát triển cả về số lượng, quy mô
và chất lượng. Đến thời điểm này, toàn huyện có gần 500 trang trại và gia trại, tăng 145% so với
5 năm trước. Tổng doanh thu của các trang trại khoảng 100 tỷ đồng/năm. Kinh tế trang trại góp
phần quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá trên địa bàn huyện. Diện tích
chạy ra ngoài làm ảnh hưởng đến cây trồng xung quanh
Nếu di chuyển xa hơn nên đông lạnh trước khi di chuyển. Dế đông lạnh bằng cách rửa sạch dế đã
thu hoạch qua nước sạch, hoặc nước muối 5%, sau đó cho vô khay rồi đem đông lạnh. Cách này
có thể giữ dế được lâu hơn khoảng 1 tuần đến 10 ngày.
Giá dế giống: 15.000 đồng (1 con đực và 2 con cái)
Giá thương phẩm: 250.000 đồng/kg
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ sở lí luận
Ở nước ta các loại côn trùng như cào cào, châu chấu, dế, tằm, sâu chit, nhộng tằm, rươi. là những
loại côn trùng được dùng làm món ăn, một số nơi được coi là món ăn quý. Với loài dế cũng có
nhiều giống như: dế ché, dế cơm to con, thân màu nâu đen, hai chân sau to có màu nâu sẩm.
-Trong tự nhiên có rất nhiều loại dế như: dế ta, dế mèn, dế cơm, dế mọi, dế chó, dế dũi… Sau
đây, chúng tôi xin giới thiệu kỹ thuật nuôi dế ta.
Xuất phát từ thực tế sản xuất chăn nuôi các con vật truyền thống, những năm gần đây gặp rủi ro
do dịch bệnh, giá cả bấp bênh… nên nhiều nông dân ở huyện Hiệp Hòa đã mạnh dạn chuyển
sang mô hình nuôi dế thâm canh cho hiệu quả kinh tế cao và dễ nhân ra diện rộng.
Một số món ăn từ dế: Trước khi chế biến các món ăn từ dế, cần rút ruột, bóp bụng dế để bỏ ruột
phân, rửa sạch sau đó mới chế biến. Dế có thể chế biến được nhiều món như chiên giòn, chiên
bơ, lăn bột, kho tiêu, xào mì, trộn gỏi, rim mặn, lẩu... ăn cùng với bánh phồng tôm, bánh tráng
hoặc cuốn bánh tráng với rau sống là những món ăn đặc sản từ dế. Hiện nay, dế là một trong
những món ăn được các nhà hàng, quán nhậu tiêu thụ rất mạnh với giá 250.000- 300.000
đồng/kg.
Hiện nay các món ăn chế biến từ dế đang được nhiều người ưa thích và coi là món "đặc sản". sau
đây xin trân trọng giới thiệu kỹ thuật nuôi Dế
3.2. Kỉ thuật nuôi dế
1. Đặc điểm sinh học của Dế
Dế thuộc loại côn trùng ăn tạp và phát triển rất nhanh, từ khi nở ra đến 45 ngày nó đã nặng tới 15
– 17 gram (trùng bình khoảng 700 con/kg), chúng bắt đầu mọc cánh (nếu nuôi dế thương phẩm
thì 45 ngày là thời điểm xuất bán hiệu quả tốt nhất).
Dế thành thục lúc 60 ngày tuổi, theo kinh nghiệm phân biệt Dế cái khác dế đực ở phần hậu môn:
focmol để khử trùng
Ban đầu Dế con ăn ít, cần cho cỏ non và bột cám tổng hợp có 17 – 21 % chất đạm (tương đương
cám úm gia cầm), lượng cám tổng hợp khoảng 3 % trọng lượng dế; cho ăn theo bữa, mỗi bữa
cách nhau khoảng 4 – 6 giờ, chú ý vệ sinh hộp nuôi, bỏ cỏ cũ ra, đưa cỏ mới vào.
Cho Dế uống nước bằng cách phun ướt cỏ non rồi đưa vào thùng nuôi, khi Dế lớn có thể phun
nước vào thành dụng cụ nuôi để cho uống.
Khi Dế lớn cần san bớt đàn sang hộp mới tránh mật độ quá dầy
2.5. Kỹ thuật nuôi Dế bố mẹ
Tỷ lệ ghép đôi giao phối đực cái là 1 đực : 1,5 - 2 cái
Mật độ nuôi là 30 – 40 con/m2
Thức ăn cho Dế bố mẹ tương tự như Dế con
3. Một số chú ý về phòng chống địch hại
Địch hại của Dế là chuột và kiến
Đối với kiến cần phòng bằng rành nước xung quanh khu vực nuôi (đối với quy mô chăn nuôi
lớn), Nếu nuôi ít có thể đặt các hộp nuôi trên các giá có chân giá ngâm trong bát nước.
Đối với chuột cần dùng cả sinh học để diệt chuột. Theo các hộ đã chăn nuôi dế ở Lương Tài, Bắc
Ninh và chuyên gia Nguyễn Lân Hùng thì ngoài các thiên địch trên, chưa thấy dế mắc bệnh gì
khác. Hiện nay chưa có các công trình nghiên cứu sâu về con Dế, chúng tôi mong nhận được sự
bổ sung của bạn đọc cùng chia sẻ kinh nghiệm nuôi Dế qua bản tin khuyến nông.
Phân biệt dế đực, cái
- Dế đực phần ''đầu ngực'' to hơn dế cái.
- Dế đực cánh màu đen pha màu nâu không bóng mượt.
- Dế cái cánh màu đen bóng mượt hơn dế đực.
- Dế đực bụng nhỏ hơn dế cái vì bụng dế cái có trứng nên to hơn.
- Dế đực không có bộ phận để đào đất ( giông như cái kim khâu quần áo) ở phần đuôi , còn dế
cái thì có để chúng đào ổ đẻ.
- Dế đực trưởng thành kêu vể ban đêm còn dế cái không kêu.
4. Cách cho dế đẻ
- Khi thấy dế gáy và xù cánh là lúc dế chuẩn bị đẻ ta chuẩn bị khay đẻ và đất cho dế đẻ.
- Đến chiều tối bạn thử đặt hai khay đất vào và theo dõi xem dể có bò lên đẻ không.
8. cách nuôi dế từ 30 - 45 ngày tuổi
- Lượng dế trung bình từ 400 - 700 con
- 2 khay thức ăn, một khay nước, 3 -4 dế để dế đậu trèo leo.
- 1 ít rau cỏ hoặc cùi dưa hấu hay một số lá cây như đu đủ, sắn...
9. Làm thịt dế
- làm thịt dế trước khi dế mọc cánh dài, thường ở vào 50 ngày tuổi. Vì lúc này trọng lượng của
dế lớn nhất và béo nhất.
- Không cho dế ăn từ 15- 20 tiếng trước khi làm thịt để ruột dế được sạch sẽ.
- Trước khi làm thịt ngâm dế trong nước muối khoảng 2 phút.
- Một tay cầm dế sao cho đầu con dế quay vào trong lòng bàn tay, bụng dế ngửa lên trên, tay kia
cấu nhẹ phần mẩu đuôi và từ từ rút ruột dế ra khỏi bụng.
- Sau khi đã làm sạch ruột dế các bạn rủa lại bằng nước sạch 2 - 3 lần và để dáo nước, lúc này
các bạn có thể chế biến ra các món mà mình ưa thích
3.2. Những lưu ý khi nuôi dế
a. chọn giống và đặc điểm giống
Chọn dế giống bố mẹ to, khỏe mạnh (đủ râu, chân, không dị tật). Tùy theo phương tiện nuôi mà
phân số lượng hợp lý. Nuôi dế giống bố mẹ (ép đẻ) trong xô có dung tích 45 lít thì thả 20 dế cái,
10 dế đực.
Nếu xô 80 lít thả 30 dế cái và 15 dế đực. Có thể nuôi dế trong xô, thau, chậu, khay có nắp đậy...,
trước khi nuôi rửa sạch, phơi khô, nắp xô đục nhiều lỗ tạo thông thoáng.
Trong xô nuôi, có rế (rế để xoong nồi) hay vĩ tre, rế có lỗ nhỏ (dày) nuôi dế con mới nở đến 25
ngày tuổi, loại thưa nuôi tiếp theo đến thu hoạch. Xô loại 45 lít xếp khoảng 10 rế, 80 lít thì 15 rế.
Rế xếp chồng lên nhau tạo khoảng trống để khay đất cho dế đẻ trứng, máng thức ăn, nước uống.
Đất dùng trong khay là đất xốp, ẩm vừa phải, có độ dày 3 - 4 cm (có thể dùng đất trộn với xơ dừa
xay). Đất cho vào không có kiến, không bị ô nhiễm. Có thể dùng vỏ nghêu, hoặc bằng đồ sứ kích
thước không quá lớn (tránh dế con té chết) làm máng thức ăn, nước uống cho dế.
Thức ăn là cám chế biến, loại dùng cho gà con ăn. Cho dế ăn nên xay cám thành bột, để khô ráo,
không mua cám nhiều một lúc dễ bị mốc. Có thể cho dế ăn thêm miếng dưa hấu (nhớ cắt bỏ phần
ruột đỏ), lấy phần sát vỏ, không để nhiều. Cho ăn thêm rau xanh, cải ngọt, cà rốt, củ sắn, cỏ
tươi... Chú ý thức ăn chỉ ăn trong ngày, còn dư phải bỏ. Cần lưu ý không cho dế ăn mầm đậu các