Đề tài " Quản lí nhà nước đối với FDI " - Pdf 72


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: " Quản lí nhà nước đối với
FDI. "
sinh viên cho ý kiến để em có thể sửa chữa, bổ sung nhằm hoàn thiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Đinh Đào Ánh Thuỷ đã hướng dẫn em
hoàn thành đề tài !

Sinh viên : Nguyễn Thuỳ Thương
Lớp: Đầu tư 43A
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
2
Chương I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI.

I. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI)
1. Khái niệm và tính tất khách quan của FDI
1.1. Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư
và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp, các cá nhân
người nước ngoài ( các chủ đầu tư ) trực tiếp tham gia vào quá trình quản lí, sử
dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi đủ vốn bỏ ra.
1.2 Tính tất yếu khách quan của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong lịch sử thế giới, đầu tư nước ngoài đã từng xuất hiện ngay từ thời tiền tư

Theo Lênin thì “xuất khẩu tư bản” là một trong năm đặc điểm kinh tế của chủ
nghĩa tư bản, thông qua xuất khẩu tư bản, các nước tư bản thực hiện viêc bóc lột
đối với các nước lạc hậu và thường là thuộc địa của nó. Nhưng cũng chính Lênin
khi đưa ra “chính sách kinh tế mới” đã nói rằng: những người Cộng sản phải biêt
lợi dụng những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của Chủ nhĩa Tư bản thông
qua hình thức “ tư bản nhà nước”. Theo quan điểm này nhiều nước đã “chấp nhận”
phần nào sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản để phát triển kinh tế, như thế có thể còn
nhanh hơn là tự thân vận động hay đi vay vốn đẻ mua lại những kỹ thuật của các
nước công nghiệp phát triển. Mặt khác, mức độ “bóc lột” của các nước tư bản còn
phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị của nước tiếp nhận đầu tư tư bản. Nếu
như trước đây, hoạt động xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc chỉ phải tuân
theo pháp luật của chính họ thì ngày nay các nước tiếp nhận đầu tư đã là các quốc
gia độc lập có chủ quyền, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải tuân theo
pháp luật, sự quản lý của chính phủ sở tại và thông lệ quốc tế. Nếu các chính phủ
của nước sở tại không phạm những sai lầm trong quản lý vĩ môt thì có thể hạn chế
được những thiệt hại của hoạt dộng thu hút đàu tư trực tiếp nước ngoài.
Muốn thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một nước nào đó, nước nhận
đầu tư phải có các điều kiện tối thiểu như: cơ sở hạ tầng đủ đảm bảo các điều kiện
cần thiết cho hoạt động sản xuất và hình thành một số ngành dịch vụ phụ trợ phục
vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống. Chính vì vây, các nước phát triển thường
chọn nước nào có điều kiện kinh tế tương đối phát triển hơn để đầu tư trước. Còn
khi phải đầu tư vào các nước lạc hậu, chưa có những điều kiện tối thiểu cho việc
tiếp nhận đầu tư nước ngoài thì các nước đi đầu tư cũng phải dành một phần vốn
cho việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và một số lĩnh vực dịch vụ khác ở mức
tối thiểu đủ đáp ứng yêu cầu của sản xuất và một phần nào đó cho cuộc sống sinh
hoạt của bản thân những người nước ngoài đang sống và làm việc ở đó.
Sau mỗi chu kỳ kinh tế, nền kinh tế của các nước côngnhiệp phát triển lại rơi
vào một cuộc suy thoái kinh tế. Chính lúc này, để vượt qua giai đoạn khủng hoản
và tạo những điều kiện phát triển, đòi hỏi phải đổi mới tư bản cố định. Thông qua
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nước công nghiệp có thể chuyển các

hình thức quan trọng và phổ biến trong mối quan hệ kinh tế quốc tế. Đầu tư trực
tiếp nước ngoài sẽ bù đắp sự thiếu hụt về vốn, công nghệ và lao động giữa các
nước đang phát triển và các nước phát triển. Một nước đang phát triển sẽ khai thác
tiềm năng vốn có của mình một cách có hiệu qủa hơn khi nhận dược nguồn vốn và
công nghệ từ các nước phát triển thông qua việc liên doanh, hợp doanh và các
dạng đầu tư BOT,BT,BTO… Mặt khác, các nước phát triển sẽ thu được lợi nhuận
cao hơn khi bỏ vốn đầu tư ra nước ngoài- nơi có chi phí đầu vào thấp hơn trong
nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần cải thiện mối quan hệ chính trị
giữa các quốc gia, các quan hệ về hợp tác thương mại, vấn đề môi trường, các
quan hệ văn hoá xã hội khác, tạo lên tiếng nói chung giữa các cộng đồng và khu
vực. Như vây, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một yếu tố khách quan.
2. Vai trò của FDI đối với các nước đang phát triển.
2.1 Các tác động:
- Tăng trưởng kinh tế:
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
5
Mục tiêu cơ bản trong thu hút FDI của nước chủ nhà là thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Mục tiêu này được thực hiện thông qua tác động tích cực của FDI đến các
yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng: Bổ sung nguồn vốn trong nước
và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại,
kỹ xảo chuyên môn và phát triển khả năng công nghệ nội địa; phát triển nguồn
nhân lực và tạo việc làm; thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế
giới; tạo liên kết giữa các ngành công nghiệp.
- Vốn đầu tư và cán cân thanh toán quốc tế.
FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại
tê của các nước nhận đầu tư đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.
Hầu hết cac nước đang phát triển đều rơi vào cái “vòng luẩn quẩn” đó là: Thu
nhập thấp dẫn đên tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp rồi hậu quả lại là thu nhập
thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là “điểm nút” khó khăn nhất mà các nước

nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở
nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà. Đây là những mục tiêu quan trọng được
nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Chuyển giao công nghệ thông qua FDI thường được thực hiện chủ yếu bởi các
TNCs, dưới các hình thức: Chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh của một
TNCs và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNCs. Những năm gần đây, các
hình thức này thường đan xen nhau với các đặc điểm rất đa dạng.
Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của TNCs sang
nước đang phát triển ở hình thức 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên
doanh có phần lớn vốn nuớc ngoài, dưới các hạng mục chủ yếu như những tiến bộ
công nghệ, sản phẩm công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra
chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketting.
Nhìn chung, các TNCs rât hạn chế chuyển giao những công nghệ mới có tính
cạch tranh cao cho các chi nhánh của chúng ở nước ngoài vì sợ lộ bí mật hoặc mất
bản quyền công nghệ do việc bắt trước, cải biến hoặc nhái lại công nghệ của các
công ty nước chủ nhà. Mặt khác, do nước chủ nhà còn chưa đáp ứng được yêu cầu
sử dụng công nghệ của các TNCs.
Bên cạnh chuyển giao công nghệ sẵn có, thông qua FDI các TNCs còn góp
phần tích cực đối với tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ của
nước chủ nhà. Các kết quả cho thấy phần lớn các hoạt động R&D của các chi
nhánh TNCs ở nước ngoài là cải biến công nghệ cho phù hợp với điều kiện sử
dụng của địa phương. Dù vây, các hoạt động cải tiến công nghệ của các doanh
nghiệp ĐTNN đã tạo ra nhiều mối quan hệ liên kết cung cấp dịch vụ công nghệ từ
các cơ sỏ nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong nước. Nhờ đó đã gián tiếp tăng
cường năng lực phát triển công nghệ địa phương. Mặt khác, trong qúa trình sử
dụng công nghệ nước ngoài, các nhà đầu tư và phát triển công nghệ nước ngoài,
các nhà đầu tư và phát triển công nghệ trong nước học được cách thiết kế, chế
tạo…công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của địa
phương và biến chúng thành công nghệ của minh. Nhờ có những tác động tích cực
trên, khả năng công nghệ của nước chủ nhà được tăng cường, vì thế nâng cao năng

tạo thêm việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người lao đông, từ đó
tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước. Tuy nhiên, sự đóng góp của FDI đỗi với
việc làm trong các nước nhận đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và khả
năng kỹ thuật của nước đó.
- Thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới
Xuất nhập khẩu có mối quan hệ nhân quả với tăng trưỏng kinh té. Mối quan hệ
này được thể hiện ở các khía cạnh” xuất nhập khẩu cho phép khai thác lợi thế so
sánh, hiệu quả kinh tế theo quy mô, thực hiện chuyên môn hoá sản xuất; nhập
khẩu bổ sugn các hàng hoá, dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu dùng; xuất
nhập khẩu còn tạo ra các tác động ngoại ứng như thúc đẩy trao đổi thông tin dịch
vụ, tăng cường kiến thức marketting cho các doanh nghiệp nội địa và lôi kéo họ
vào mạng lưới phân phối toàn cầu. Tất cả các yếu tố này sẽ đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng.
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
8
Thông qua FDI, các nước đang phát triển có thể tiếp cận với thị trường thế giới
bởi vi, hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty xuyên quốc gia thực hiện, mà
các công ty này có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hợp
đồng dài hạn dựa trên cơ sở thanh thế và uy tín của họ về chất lượng, kiểu dáng
sản phẩm và giao hàng đúng hẹn.
- Liên kết các ngành công nghiệp
Liên kết giữa các ngành công nghiệp được biểu hiện chủ yếu qua tỷ trọng giá
trị hàng hoá (tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào), dịch vụ trao đổi trực tiếp
từ các công ty nước ngoài ở nước chủ nhà. Việc hình thành các liên kết này là cơ
sở quan trọng để chuỷen giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy
xuất nhập khẩu của nước chủ nhà.
Cụ thể: Qua các hoạt động cung ứng nguyên vật liệu, dịch vụ cho các công ty
nước ngoài sản xuất hàng xuất khẩu, các doanh nghiệp nội địa phát triển năng lực
sản xuất của mình (mở rộng sản xuất, bắt chước quy trình sản xuất và mẫu mã

Bên cạnh tác động đến ác yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế, FDI còn tác
động đến các khía cạnh quan trọng khác của đời sống văn hoá, xã hội và chính trị
của nứoc chủ nhà.
- Văn hoá - xã hội
Văn hoá- xã hội là lĩnh vực rất nhạy cảm và mang đậm bản sắc của mỗi quốc
gia. Khi tiếp nhận FDI, có nghĩa là nước chủ nhà đã mở của giao lưu với nền văn
hoá các dân tộc trên thế giới. ĐTNN tác động mạnh vào mối quan hệ giữa giữ gìn
bản sắc của dân tộc và itếp nhận nền văn hoá bên ngoài ở các mặt quan trọng như:
đổi mới tư duy; thái độ và đạo đức nghề nghiệp; lối sống, tập quán; giao tiếp ứng
xử; bình đẳng giới và các vấn đề xã hội.
Chất lượng của tư duy là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội. Đổi mới tư
duy tức là đổi mới cách nghĩ, cách làm. FDI tác động rât tích cực vào quá trình
này thông qua trực tiếp đào tạo các nhà quản lý bản địa có kiến thức kinh doanh
hiện đại, những lao động làm việc trong các công ty nước ngoài, tiếp xúc với công
nghệ hiện đại và gián tiếp tạo ra trong xã hội, nhất là thế hệ trẻ, một lối nghĩ mới
có hiệu quả của nền kinh tế thị trường.
Thái độ và đạo đức nghề nghiệp có ảnh hưởng rất lứon đén hành vi và chất
lượng lao động của mỗi cá nhân. Do hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay
gắt, những người làm việc trong cac dự án ĐTNN phải có thái độ nghjiêm túc với
công việc và đảm bảo uy tín cao đối với khách hàng. Nhờ đó, góp phần quan
trọng hình thành nên phong cách kinh doanh có văn hoá.
Đầu tư nước ngoài đã làm thay đổi đáng kể lối sống, tập quán của các tầng lớp
dân cư theo kiểu hiện đại, tiêu dùng công nghiệp. Tác phong công nghiệp đã buộc
người lao động phải tiết kiệm thời gian cho gia đình và sinh hoạt cá nhân
Đầu tư nước ngoài tác động tích cực đến văn hoá giao tiếp, ứng xử ở nước chủ
nhà. Những người làm việc trong khu vực ĐTNN hoặc có quan hệ với các công ty
nước ngàoi thường có phong cách giao tiếp lịch sự và thái độ ứng xử hoà nhã, tôn
trọng đồng nghiệp và khách hàng. Phong cách này dần đần lan toả ra các cá nhân
trong toàn xã hội.
- Chủ quyền an ninh quốc gia

1.1. Khái niệm.
Quản lí đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào quá
trình đầu tư và các yếu tố đầu tư bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế
- xã hội , tổ chức kĩ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả, hiệu quả
đầu tư, hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất trong điều kiện cụ thể xác định và trên
cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan vf quy luật đặc thù của đầu tư.
1.2. Sự cần thiết phải có sự quản lí của nhà nước đối với hoạt động đầu tư
nói chung và các dự án nói riêng.
 Đối với các dự án dân lập :
- Đầu ra của các dự án là sản phẩm, dịch vụ và chất thải các loại .Với đầu ra
là chất thải , rất có hại cho sức khoẻ của cộng đồng, nhà nước không thể bỏ qua.
Ngay cả những sản phẩm hoặc dịch vụ được tạo ra từ dự án cũng không đương
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
11
nhiên là có lợi cho cộng đồng mà vẫn có thể có hại. Vì vậy, nhà nước phải quản lí
dự án dân lập để ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của đầu ra do dự án gây nên.
- Đầu vào của dự án là các yếu tố mà sự hoạt động dự án sẽ sử dụng : tài
nguyên, lao động, máy móc, thiết bị. Việc sử dụng các đầu vào đó của dự án sẽ
ảnh hưởng đến cộng đồng về nhiều mặt. Vì vậy, nhà nước cần phải quản lí các dự
án dân lập để cân đối các nguồn lực trong nền kinh tế, tránh rối loạn, thừa thiếu
trong nền kinh tế.
- Các đặc tính của mỗi công trình do dự án tạo ra, chỉ tiêu kiến trúc, kết cấu,
địa điểm phân bố… có ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh… rất
sâu sắc. Vì vậy, nhà nước củng phải quản lí các dự án dân lập trên các mặt quy
hoạch , xây dựng …
- Nhà nước quản lí dự án dân lập để ngăn ngừa các hiện tượng áp bức, bóc
lột, bất công xảy ra trong lòng dự án tư nhân.
 Đối với dự án quốc gia
Dự án nhà nước là những dự án sử dụng vốn nhà nước bỏ ra hoặc coi nhu nhà

đầu tư kinh doanh có hiệu quả và an toàn.
Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn FDI. Chỉ có nhà nước với quyền lực và chức năng của mình mới có
khả năng tạo lập được môi trường đầu tư mang tính cạnh tranh cao so với các
nước trong khu vực và thế giới để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài. Vai
trò quản lý nhà nước đối với FDI được thể hiện thông qua vai trò của nhà nước
trong việc hình thành phát triển và hoàn thiện môi trường đầu tư cho sự vận động
có hiệu quả FDI.
 Ổn định chính trị và môi trường kinh tế vĩ mô cho sự vận động vốn FDI:
Các nhà đầu tư chỉ có thể sẵn sàng bỏ vốn vào kinh doanh tại một quốc gia mà
ở đó có sự ổn định chính trị và ổn định kinh tế vĩ mô. Ổn định chính trị là điều
kiện trước tiên đảm bảo an toàn cho sự vận động của các hành vi kinh tế. Vì vậy
ổn định chính trị là yêu cầu đặt ra đầu tiên đối vớicác nhà đầu tư nước ngoài khi
lựa chọn một nước là địa bàn đầu tư. FDI là hoạt động đầu tư tư nhân. Nhưng hoạt
động đầu tư dù trong nước hay nước ngoài đều được nhà nước hỗ trợ dưới nhiều
hình thức khác nhau. Hoạt động này hơn nữa còn tạo đựoc sự đảm bảo, hỗ trợ, tạo
điều kiện thuận lợi cua các tổ chức kinh tế và tổ chức quốc tế. Nhà nước có vai trò
quyết định trong việc lựa chọn , thực thi chính sách kinh tế và chương trình đối
ngoại theo hướng mở rộng các quan hệ song phương và đa phương với các nước
và các tổ chức quốc tế cũng như đảm bảo uy tín của các quốc gia trong cộng đồng
quốc tế. Quan hệ đối ngoại của nhà nước như chiếc chìa khoá mở cửa cho nhà đầu
tư nước ngoài tìm kiếm cơ hội để đầu tư cũng như để đảm bảo an toàn và hỗ trợ
cho hoạt động đầu tư của họ.
Một quốc gia kém phát triển ở giai đoạn đầu cảu quá trình phát triển kinh tế
thường phải đương đầu với những khó khăn và thử thách là cán cân thương mại và
cán cân thanh toán quốc tế luôn trong tình trạng thâm hụt nặng nề, mâu thuẫn giữa
khả năng thanh khoản thấp và nhu cầu đầu tư lớn , mất cân đối giữa thu chi ngân
sách. Ở đây thể hiện vai trò của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề lạm
phát, chính sách tài khoá, tiền tệ, tỉ giá hối đoái và xây dựng, củng cố hệ thống tài
chính vững mạnh, tạo lập cân đối cung cầu trong ba lĩnh vực trên để ổn định kinh

Cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội là một trong những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến
hiệu quả kinh doanh của nhà đầu tư, là cơ sở hình thành các chỉ tiêu kinh tế- kỹ
thuật của các dự án đầu tư. Cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển tạo điều kiện
cung cấp các dịch vụ thông tin để mở rộng quan hệ thương mại, giao lưu hàng hoá,
giảm chi phí sản xuất đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho nhà đầu
tư. Vì vậy, đây là yếu tố tác động mạnh mẽ vào sự quyết định của nhà đầu tư khi
lựa chọn địa điểm đầu tư.
Đối với quốc gia đang phát triển, trình độ cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội yêu
kém. Vì vậy vai trò của nhà nước là hết sức quan trọng trong việc huy động và
phân bổ các nguồn vốn tập trung đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã
hội.
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
14
Hoạt động đầu tư là hoạt động mang tính rủi ro và ở chừng mực nhất định có
tính mạo hiểm, càng rủi ro và mạo hiểm hơn, khi đầu tư ở nước ngoài. Vì vậy, một
đất nước có sự đảm bảo cao về trật tự an toàn xã hội sẽ làm cho các nhà đầu tư yên
tâm về sự an toàn tính mạng và tài sản của mình khi bỏ vốn kinh doanh ở một
quốc gia khác.
Nhà nước với vai trò quan trọng trong việc xây dựng một triết lý kinh doanh
hiện đại, tiến tiến mang bản sắc văn hoá Việt Nam, thấm nhuần tư tưởng của
đảng:” Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng
quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
2.2. Chức năng quản lý nhà nước với FDI
 Dự báo
Chức năng dự báo được thể hiện trên cơ sở các thông tin chính xác và các kết
luận khoa học. Dự báo là điều kiện không thể thiếu trong việc xây dựng và thực
hiện công tác quản lý nhà nước đối với các dự án FDI và các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Có thể nói nếu thiếu chức năng dự báo, công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động FDI sẽ không mang đầy đủ tính chất của một hoạt động

thực hiện trước hết ở việc bảo hộ quyền sở hữu tài sản và lợi nhuận hợp pháp của
nhà đầu tư nước ngoài. Bởi vì sở hữu là nguồn gốc là động lực mạnh mẽ thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động đầu tư.
Trong nền kinh tế thị trường bên cạnh chức năng bảo hộ nhà nước còn có chức
năng hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài. Mặc dù các nhà đầu tư nước ngoài đều là các nhà kinh doanh có
kinh nghiệm nhưng khi họ kinh doanh ở một quốc gia khác vẫn cần có sự hỗ trợ
của nước chủ nhà. Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, thực hiện chuyển giao công
nghệ nhà đầu tư nước ngoài cần có sự hỗ trợ của nhà nước về thị trường tiêu thụ
sản phẩm, thị trường vốn, thị trường lao động.
 Tổ chức và điều hành
Để thực hiện tốt chức năng này phải xây dựng thống nhất tổ chức bộ máy quản
lý thích hợp trên cơ sở phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp và tối ưu các chức năng quản
lý của các bộ phận trong bộ máy quản lý hoạt động FDI. Đồng thời cần có sự phối
hợp tốt nhất trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước trong việc ban hành các
qui phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của các dự án và các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài nhằm bảo vệ lợi ích, bảo hộ sản xuất trong nước và
khuyến khích hoạt động FDI.
 Kiểm tra và giám sát
Căn cứ vào chế độ, chính sách, kế hoạch và các qui định của pháp luật, các cơ
quan quản lý nhà nước kiểm tra phát hiện những sai sót, lệch lạc trong quá trình
đàm phán triển khai và thực hiện dự án đầu tư để có biện pháp đưa các hoạt động
này vận động theo qui định thống nhất. Hoạt động kiểm tra, giám sát còn là công
cụ phản hồi thông tin quan trọng để chính phủ đánh giá hiệu quả và mức độ hợp lý
của những chính sách, qui định đã được ban hành. Ngoài ra hoạt động kiểm tra,
thanh tra giám sát còn nhằm tạo điều kiện giúp đỡ các nhà đầu tư nước ngoài tháo
gỡ những khó khăn trong khi triển khai và đưa dự án vào hoạt động.
Các chức năng cơ bản của quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài không tồn
tại độc lập mà tác động qua lại lẫn nhau. Chỉ có thể quản lý tốt các hoạt động đầu
Đề án môn học

nước về đầu tư đến đội ngũ các nhà quản lý kinh tế tham gia trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như đội ngũ lao động kỹ thuật đáp ứng nhu
cầu sản xuất kinh doanh của khu vực này.
Cán bộ quản lý là khâu trọng tâm của hoạt động quả lý, có vai trò cực kì quan
trọng trong quản lý về đầu tư. Mục tiêu đặt ra đối với FDI, chủ trương, đường lối,
chính sách của đảng và nhà nước, các quan hệ pháp luật có liên quan đên khu vực
FDI có được thực hiện hay không phụ thuộc vào năng lực tổ chức, điều hành, trình
độ hiểu biết về luật pháp, khả năng vận dụng sáng tạo và tâm huyết của đội ngũ
cán bộ quản lý nhà nước về đầu tư. Vì vậy, đội ngũ cán bộ này cần được tuyển
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
17
chọn phù hợp với yêu cầu và thường xuyên được đào tạo để nâng cao trình độ,
kiến thức chuyên môn và phẩm chất đạo đức, tinh thần tự hào, tự cường dan tộc,
dám hi sinh lợi ích cá nhân vì sự phát triển của đất nước.
2.4. Hệ thống tổ chức quản lý hoạt động FDI
 Quốc hội: là cơ quan quyền lực cao nhất, có trách nhiệm phê chuẩn và
ban hành hệ thống luật pháp có liên quan đến đầu tư, quyết định đường lối, chiến
lược và các chủ trương đầu tư.
 Chính phủ: có trách nhiệm quản lý toàn diện và thống nhất lĩnh vực đầu
tư.
 Các bộ:
- Bộ kế hoạch đầu tư:
+ Trình Chính phủ các dự luật, pháp lệnh, văn bản qui phạm có liên quan đến
đầu tư.
+ Xác định phương hướng và cơ cấu vốn đầu tư để đảm bảo sự cân đối giữa
đầu tư trong nước và nước ngoài.
+ Cấp giấy phép đầu tư và hướng dẫn với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài.
+ Quản lý nhà nước về việc lập, kiểm tra,xét duyệt các dự án quy hoạch, phát
triển kinh tế-xã hội.

Thái Lan không thể xây dựng được một nền tảng kinh tế vững mạnh như hiện
nay”[17,381].
Chúng ta cũng thừa nhận rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những
yếu tố góp phần thúc đẩy nền kinh tế Thái Lan trở thành những “ngôi sao” mới
của khu vực Đông Á. Chính phủ Thái Lan đã rất khéo léo trong việc kết hợp đầu
tư trực tiếp nước ngoài với chiến lược công nghiệp hoá của từng thời kì. Để có thể
triển khai các dự án đầu tư nhanh, thuận lợi và có hiệu quả, Chính phủ Thái Lan đã
có chính sách khuyến khích mạnh các nguồn vốn tron nước cùng tham gia đâu tư
với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ vốn trong nước trong các dự án này
lên tới 71,7% (thời kì 1960-1985) và 71,6% (thời kì 1986-1995)[47,134]. Về chính
sách tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan được đánh giá là một
trong những chính sách khá thông thoáng và có sức hấp dẫn các nhà đầu tư.
3.2. Trung Quốc
Sau 20 năm (1979-1999) thực hiện chính sách cải cách mở cửa, kinh tế Trung
Quốc đã dạt đựoc nhiều thành tựu to lớn, thu hút sự chú ý của nhiều ngwofi trên
thế giới. Thời kỳ 1979-1994 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 9,3%/năm; tổng
kim ngạch xuất nhập khẩu tăng bình quân 16,2%/năm; Sản lượng các sản phẩm
chủ yếu cũng đều tăng với tốc độ nhanh. Cho dến nay, tưong ứng với các thời kỳ,
nền kinh tế Trung Quốc vẫn dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng. Vị thế và ảnh
hưởng của Trung Quốc đang ngày càng nâng lên rõ rệt. Nhiều nhà kinh tế nhận
định rằng, từ nay đến hết thập niên đầu thế kỷ XXI vẫn là thời kỳ phát triển mạnh
mẽ của kinh tế Trung Quốc. Một trong những yếu tố chi phối mạnh mẽ sự phát
triển kinh tế Trung Quốc 20 năm qua là sự thành công trong việc thu hút đầu tư
nước ngoài. Đối với Trung Quốc, đầu tư trực tiếp nước ngoài thực sự trở thành
động lực của sự phát triển và chính nó đã làm đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hoá.
Nếu đến năm 1991, Trung Quốc chỉ đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong
các nước đang phát triển về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thì chỉ 2 năm sau
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A

yêu cầu phát triển của từng thời kỳ.

Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
20
Chương II: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

I. Thực trạng về hoạt động FDI tại Việt Nam trong thời gian
qua.
1. Thực trạng thu hút FDI
Đến hết năm 2003 đã co 4986 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giây
phép đầu tư vào Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký là 44.533 triệu USD. Tính
bình quân mỗi năm Việt Nam cấp phép cho 311 dự án với mức binh quân 1 dự án
2.783,3 triệu USD vốn đăng ký.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong 16 năm qua biểu hiện khá rõ
nét của một động thái thiếu ổn định: Từ khi bắt đầu triển khai (1988) vận đông
theo xu hướng tăng nhanh đến 1995, 1996 ( cả về số dự án cũng như vốn đăng ký).
Nhưng bắt đầu từ năm 1997, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam lại vận
động theo xu hướng giảm dần, cho đến năm 1999 là năm có lượng vốn FDI đăng
ký ở mức thấp nhất kể từ năm 1992. Đến năm 2000, năm 2001 tình hình FDI vào
Việt Nam tuy đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tốt hơn, nhưng sang năm
2002 thì chiều hướng đó không những không được duy trì mà lại diễn biến xấu đi
một cách khá rõ. Năm 2002 tuy là năm đạt đỉnh cao về số lượng dự án nhưng lại là

án
Vốn đầu tư
(USD)
% tổng
vốn
% tổng
dự án
Vốn thực hiện
(USD)
% vốn
thực hiện
1.Công nghiệp 2.849 22.983.233.183 56,8 66,8 16.212.762.451 68
Dầu khí 29 1.931.109.730 4,8 0,7 4.552.178.963 19
CN nhẹ 1.155 6.050.109.730 14,9 27,1 2.712.071.794 11
CN nặng 1.177 8.981.951.724 22,2 27,6 5.462.140.476 23
CN thực phẩm 209 2.540.121.426 6,3 4,9 1.547.295.061 6
Xây dựng 279 3.479.417.082 8,6 6,5 1.939.076.157 8
2. Nông lâm nghiệp 586 2.860.016.748 7,1 13,7 1.528.314.192 6
Nông lâm nghiệp 492 2.600.812.095 6,4 11,5 1.403.801.769 6
Thuỷ sản 94 259.204.653 0,6 2,2 124.512.423 1
3. Dịch vụ 829 14.655.682.435 36,2 19,4 6.274.054.931 26
GTVT Bưu chính 115 2.585.280.396 6,4 2,7 1.036.128.951 4
Kh/sạn-Du lịch 143 3.283.535.635 8,1 3,4 2.007.161.210 8
Tài chính-ngân
hàng
47 606.050.000 1,5 1,1 599.934.640 2
VH- Y tế – Giáo
dục
145 626.366.412 1,5 3,4 227.525.006 1
XD khu đô thị mới 3 2.466.674.000 6,1 0,1 6.294.598 0,03

phương tiếp theo như sau: Hà Nội: 7.578,9 (17,02%); Đồng Nai: 6.422,7
(14,42%); Bình Dương 3.357,4 (7,54%); Bà Rịa – Vũng Tàu: 2.051,4 (4,61%); và
Hải Phòng: 1.453,8(3,26%)
Về các hình thức đầu tư: Vào thời kì đầu Việt Nam thực thi chính sách kêu gọi
đầu tư trực tiếp nước ngoài, liên doanh là hình thức được các nhà đầu tư sử dụng
phỏ biến nhất. Hình thức này thường chiếm tới khoảng 40% số dự án và 59% vốn
đăng ký. Sở dĩ như vậy là do thời kỳ đầu, các thủ tục để triển khai thực hiện dự án
còn đòi hỏi nhiều giấy tờ, lại phải thông qua nhiều khâu, nhiều nấc, và rất phức
tạp, trong khi đó người nước ngoài còn ít hiểu biết về các điều kiện kinh tế- xã họi
và phát luật của Việt Nam, họ thường gặp khó khăn trong giao dịch, quan hệ cùng
một lúc với khá nhiều cơ quan chức năng của Việt Nam để có được đầy đủ các
điều kiện triển khai xây dựng cơ bản cũng như tổ chức thực hiện dự án đầu tư.
Tronghoàn cảnh như vậy, đa số các nhà đầu tư thích lụa chọn hình thức liên doanh
để đối tác bên Việt Nam đứng ra lo các thủ tục pháp lý cho sự hoạt động của
doanh nghiệp hiệu quả hơn.
Sau một thời gian hoạt động trong môi trường đâu tư ở Việt Nam, các nhà đầu
tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư châu á có điều kiện để hiểu biết hơn về
pháp luật, chính sách, phong tục tập quán và cách thức hoạt động kinh doanh ở
Việt Nam. Sự am hiểu của các nhà đầu tư được nâng lên trong điều kiện các thủ
tục cấp phép của Việt Nam đang từng bước được cải tiến theo hướng ngày càng
đơn giản hơn trước, và cùng với sự xuất hiện những tổ chức tư vấn giúp các nhà
đầu tư nước ngoài thực hiện cac thủ tục triển khai, tổ chức sản xuất kinh doanh
của các dự án tương đối có hiệu quả. Vì vậy, nhu cầu có đối tác có đối tác Việt
Nam để tiến hành thủ tục, đối với nhà đầu tư nước ngoài đã giảm đi một cách đáng
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
23
kể. Không những thế, khi tham gia liên doanh do khả năng của phía Việt Nam
thường yếu cả về vốn đóng góp lẫn cán bộ quản lý, mặt khác nhiều nhà đầu tư
nước ngoài không muốn chia sẻ quyền điều hành doanh nghiệp với bên VIệt Nam

tập đoàn kinh tế lớn chưa nhiều. Đây chính là một trong những chỉ báo quan trọng
khi chúng ta thực thi các chính sách có liên quan đến việc cải thiện môi trường đầu
tư của Việt Nam.
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
24
2. Tình hình thực hiện của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam
Đến hết năm 2003, có 1.200 dự án sau một thời gian triển khai sản xuất kinh
doanh có hiệu quả đã đề nghị Chính phủ Việt Nam cấp phép tăng vốn, mở rộng
sản xuất. Tổng số vốn đã được phê duyệt tăng thêm là 8,825 triệu USD (bằng
19,82% tổng số vốn đăng ký và bằng 24,07% số dự án được cấp giấy phép)
Tổng số vốn của các dự án hết thời hạn thực hiện hợp đồng 628 triệu USD
(bằng 1,46% tổng số vốn đăng ký); số vốn thuộc các dự án đã giải thể là 9.974
triệu USD (bằng 23,2% tổng số vốn đăng ký).
Đến hết năm 2003 tổng số vốn đã thực hiện bằng 53,58% của tổng số vốn
đăng ký. Trong điều kiện của một nền kinh tế kém phát triển, kết cấu hạ tầng lạc
hậu, ccác nguồn lực cũng như chính sách đối với đầu tư nước ngoài còn nhiều biến
động, thị trường phát triển chưa đầy đủ……. thì tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài thực hiện được ở mức như vậy là không thấp. Về tình hình hoạt động, các
dự án trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí theo hình thức hợp đồng phân chia
sản phẩm và dịch vụ viễn thông theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là
những dự án hoạt động đạt kết quả tốt nhất. Sở dĩ như vậy là nhờ các dự án loại
này, các nhà đầu tư không phải mất nhiều thời gian giải quyết các thủ tục đất đai,
xây dựng,… còn về năng lực thì hầu hết các dự án loại này đều do các nhà đầu tư
là các công ty xuyên quốc gia có thế mạnh về tài chính và công nghệ. Về loại hình
doanh nghiệp, các dự án Hợp đồng hợp tác kinh doanh có tiến độ thực hiện nhanh
hơn cả, tiếp đến là các doanh nghiệp liên doanh, còn các doanh nghiệp thuộc các
hình thức BOT và các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tiến độ thực hiện
chậm nhất .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status