Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 1/67
TÀI LIỆU
LUẬN VĂN BAO BÌ THỰC PHẨM Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 2/67
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp chế biến thực phẩm là một bộ phận của nghành nông nghiệp,
nó sử dụng phần lớn nguyên vật liệu do nông nghiệp cung cấp để chế biến
thành các sản phẩm công nghiệp có giá trò.
Ngày nay nghành công nghiệp thực phẩm được coi là nghành công nghiệp
mũi nhọn của đất nước ta. Nó vừa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của
người dân, vừa là nguồn xuất khẩu quan trọng góp phần không nhỏ vào sự tăng
trưởng kinh tế của nước ta.
Vật liệu bao bì thực phẩm là tấ cả các loại vật liệu có thể dùng để sản xuất
ra bao bì phù hợp với yêu cầu của từng loại sản phẩm. Việc sử dụng một số loại
vật liệu nhất đònh để làm bao bì thực phẩm được xác đònh bằng mối tương quan
giữa 3 thành phần: Loại thực phẩm, Vật liệu, Bao bì.
Những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn này là khả năng chế biến từ vật
liệu thành bao bì đảm bảo độ cứng, bền, độ dẻo, chống thấm nước, thấm dầu
mở, xâm nhập không khí và quan trọng là giá thành không quá đắt.
Với những kiến thức đã được tiếp thu ở trường và xã hội, em nghó công nghệ
bao bì là một nghành có tiềm năng phát triễn rất lớn. Vì vậy em muốn tìm và đi
sâu hơn về nghành bao bì thực phẩm, mà tiêu biểu là bao bì kim loại dạng lon
ba mảnh. Em rất mong quý thầy cô và các bạn giúp đỡ em hoàn thành tốt bài
luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Năm 1958 bắt đầu thí nghiệm và sản xuất thử
Đầu năm 1959 bắt đầu sản xuất một số mặt hàng thòt cá, rau quả, hộp xuất
khẩu để phục vụ chiến trường. Cũng cùng năm ấy, xưởng chế biến chuối sấy
được xây dựng xong tại Hà Nội.
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 5/67
Năm 1960 nhà máy cá hộp Hạ Long đã sản xuất được với năng xuất gần
bằng với năng xuất thiết kế.
Năm 1961 phát triển nhiều mặt hàng rau quả, thòt cá hộp.
Còn ở miền nam, mãi đến năm 1970 mới bắt đầu hình thành một số cơ sở
sản xuất đồ hộp, tại Thành Phố Hồ Chí Minh.
Đến sau năm 1975 ngành công nghiệp đồ hộp ở miền nam được chú trọng
và phát triễn, sản xuất được nhiều mặt hàng thực phẩm có giá trò.
Cho đến nay, nước ta đã thí nghiệm nghiên cứu được hàng trăm mặt hàng và
đã đưa vào sản xuất có hiệu quả, đạt chất lượng cao. Trong đó có các mặt hàng
có giá trò trên thò trường quốc tế như: dứa, dưa chuột, nấm rơm đóng hộp…
Những vùng có nhà máy sản xuất đồ hộp thực phẩm: Hà Nội, Hải Phòng, Nam
Đònh…
1.2 Những bước phát triển quan trọng trong sự phát triển của các loại hình
bao bì đang phổ biến hiện nay
1.2.1 Hộp bằng kim loại
Năm 1200 từ sự phát minh ra thép tráng thiếc, người ta có thể tạo ra các loại
hộp kim loại. Nhưng mãi đến năm 1764 mới xuất hiện ở Luân Đôn các loại hộp
nhỏ bằng kim loại để đựng thuốc lá. Đầu những năm 1830, diêm và bánh bích
quy đều được chứa đựng trong các hộp thép tráng thiếc. Một vài loại hộp được
thiết kế với các loại hình đặc biệt có ký tự nổi, những loại khác có nhãn hiệu
được in trên giấy rồi dán vào hộp. Khoảng giữa năm 1850 và 1900, kỹ thuật in
trên kim loại được phát triển. Những chiếc hộp ban đầu được thiết kế với 8-9
màu so với ngày nay là 4 – 6 màu. Ngày nay các loại hộp không được in nhiều
máy hiện đại Owen có thể sản xuất 20.000 chai/ ngày
Dưới thời Nữ Hoàng Victoria (nước Anh ), các chai đựng dược phẩm có độc
tính cao được thiết kế đặt biệt. những chai lọ này được chế tạo để người sử
dụng có thể nhận biết những bất thường bằng sự cảm nhận bởi giác quan. Đặc
điểm này là biện pháp an toàn đầu tiên được sử dụng. Nắp chai cũng tiến một
bước dài từ dạng nắp gỗ chuốt nhọn và các loại nút bần được dùng từ năm 1000
trước công nguyên, theo Horac. Để đóng kín hơn, nắp chai được phủ sáp hoặc
nút bần vẫn được sử dụng cho chai đựng rượu cho đến nay. Vào giữa thập niên
1930, đã có nhiều thử nghiệm dẫn tới việc sử dụng nắp bằng cao su và nhựa PE
bắt đầu từ năm 1945; tiếp theo polycellyar vinyl được sử dụng vào năm 1957.
Những lớp bao phủ bằng nhôm được giới thiệu năm 1960. Loại mới nhất được
làm bằng nhôm và được thiết kế để có thể xé được vòng xoắn ở dưới, khi phần
này bò rời khỏi nắp cho thấy là chai đã được mở, thường được áp dụng trong
việc khằng các loại chai rượu hay nước giải khát.
Những sản phẩm nước uống đóng chai có nắp vặn bằng nhựa hoặc bằng kim
loại; loại chai miệng rộng được đóng bằng giấy sáp hoặc bằng lá kim loại. Các
loại nắp chặt hơn được làm bằng kim loại có đệm cao su. Ngày nay, đa số các
loại chai miệng rộng có nắp bằng thép vặn ren, và được bọc lớp platis dạng
màng co nhằm khằng sản phẩm.
1.2.4 Hộp bằng gỗ và bìa cứng
Từ những năm 1630 cho đến thế kỷ 19, các loại hộp được chế tạo thủ công
bằng các tấm gỗ mỏng hoặc giấy bìa cứng (carton), các loại nhãn hiệu được dán
bên ngoài thùng, hộp để quảng cáo, phân biệt.
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 7/67
Ngày nay việc sản xuất hộp và thùng chứa bằng giấy đã trở thành một
ngành thương mại quan trọng. Năm 1817 việc sản xuất hộp bắt đầu ở Anh. Và ở
Mỹ đã bắt đầu sớm hơn vào năm 1810 tại Philadepha. Các loại hộp sản xuất ở
thời điểm đầu thường có dạng tròn vì khó tạo góc cạnh bằng phương pháp thủ
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 8/67
của môi trường như va chạm cơ học, vi sinh vật, nguồn nước, không khí, đất, bụi
đường …
Tác động cơ học: tránh va chạm, gây hư hỏng, vỡ cấu trúc làm mất khả năng
cảm quan.
Tránh tiếp xúc với môi trường bên ngoài.
- Không khí
vi sinh vật: Phát triễn, sinh sôi tạo độc tố cho thực phẩm
Hơi nước: Hàm ẩm thực phẩm tăng cao
Các phản ứng nhanh chóng, mất giá trò cảm quan (mất trạng thái cấu
trúc bên ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triễn)
Oxy: Oxy hóa chất béo
Gây tổn thất vitamin
Tổn thất mùi
- Nước: Thực phẩm hư hỏng ngay lập tức
Làm giảm giá thành sản phẩm
- Tác động của chính bản thân bao bì
Chính bao bì gây nhiễm độc thực phẩm.
Do bao bì ăn mòn bỡi thực phẩm.
Bao bì nhiễm chất độc vào thực phẩm
- Bảo đảm chất lượng: Là sản phẩm trước khi đến tay người tiêu dùng chưa
được mở ra và lấy sản phẩm nào ra cả.
1.3.1.2 Bao bì là lời mời của nhà sản xuất với người tiêu dùng và là thông tin
cho người tiêu dùng
Nói lên tính chất của sản phẩm:
Trạng thái
Cấu trúc.
Thành phần sản phẩm
Phải sử dụng một tên gọi cụ thể đối với từng thành phần khi ghi nhãn.
Thành phần là các chất phụ gia được ghi trên nhãn theo một trong các cách
sau:
Tên nhóm và tên chất phụ gia
Tên nhóm và mã số quốc tế của các chất phụ gia, mã số được đặt trong
dấu ngoặc đơn.
1.3.2.2 Ghi nhãn đònh lượng các thành phần
Ghi tỷ lệ phần trăm thành phần theo khối lượng của một hay nhiều thành
phần đặc trưng tại thời điểm sản xuất.
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 10/67
Ghi nhãn thực phẩm nhằm nhấn mạnh hàm lượng của một hoặc nhiều thành
phần thì tỷ lệ ghi nhãn phần trăm thành phần đó theo khối lượng chứa trong
thành phẩm.
Ghi nhãn đối với thực phẩm dùng cho chế độ ăn kiêng.
Ghi nhãn giá trò dinh dưỡng của các thành phần dinh dưỡng.
1.3.2.3. Hàm lượng tònh và khối lượng ráo nước
1.3.2.4 Hàm lượng tònh phải được công bố trên nhãn ở nơi dễ thấy theo quy
đònh sau:
Đối với thực phẩm sản xuất tron nước: Theo đơn vò đo lường hợp pháp
của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghóa Việt Nam.
Đối với thực phẩm xuất nhập khẩu: Cho phép theo đơn vò đo lường quốc
tế hoặc đơn vò đo lường Anh-Mỹ.
Theo đơn vò khối lượng hoặc thể tích đối với thực phẩm dạng set (nhớt).
Đối với thực phẩm được bao gói trong một môi trường chất lỏng, phải ghi
khối lượng tònh.
1.3.2.5. Tên và đỉa chỉ nơi xuất
năm.
Phải ghi thời hạn ở nơi dễ thấy hoặc ghi rõ nơi ghi thời hạn trên bao bì.
1.3.2.10 Hướng dẫn sử dụng
Phải ghi rõ hướng dẫn sử dụng đối với sản phẩm cần hướng dẫn trước khi sử
dụng kể cả tái tạo sản phẩm khi dùng để bảo đảm không gây sai sót trong sử
dụng.
1.4 Mối quan hệ giữa bao bì và chất lượng thực phẩm.
1.4.1 Dinh dưỡng
Bao gồm các thành phần: Nước, protein, acid amin, tinh bột, đường, lipit,
vitamin, khoáng…
Tùy theo nguồn nguyên liệu, phương pháp chế biến mà thực phẩm chứa
những thành phần dinh dưỡng chủ yếu khác nhau
Ví dụ: Thực phẩm từ rau quả sẽ có thành phần gluxit như tinh bột đường khử,
khoáng, cellulose, và vitamin cao. Thực phẩm từ nguồn động vật có hàm lượng
protein cao và acid amin cao, và cũng có thể hàm lượng lipit cũng cao, cung cấp
những acid béo cao không no rất cần thiết cho hoạt động của cơ thể người.
Các thành phần khoáng trong thực phẩm như Na, K, Ca, Mg, Mn, Fe, Cu, Zn,
… rất cần thiết đối với cơ thể.
Thực phẩm dinh dưỡng là thực phẩm có chứa phần lớn các thành phần mang
tính dinh dưỡng từ nguồn nguyên liệu, và các thành phần này không bò biến đổi
đặc tính hoặc chỉ biến đổi một phần.
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 12/67
1.4.2 An toàn vệ sinh thực phẩm
Tính an toàn vệ sinh thực phẩm bao hàm ý nghóa: thực phẩm không gây độc
hại cấp tính cũng như mãng tính cho người sử dụng. Các độc tố có nguồn gốc
hóa học hoặc vi sinh từ nguồn nguyên liệu ban đầu, hay được tạo ra trong quá
trình chế biến phải được loại trừ đến mức thấp hơn giới hạn cho phép tương ứng
với từng loại thực phẩm. Trong quá trình bảo quản phân phối sản phẩm cũng
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 13/67
CHƯƠNG 2: CÁC NGUYÊN LIỆU CHÍNH VÀ QUI TRÌNH SẢN XUẤT
LON 3 MẢNH.
2.1 Các nguyên liệu chính trong qui trình sản xuất lon 3 mảnh
2.1.1 Sắt
2.1.1.1 Sắt trắng
Sắt trắng hay còn gọi là thép tây lá mỏng được mạ thiếc cả hai mặt. Lá thép
được dát mỏng bằng hai phương pháp:
Dát nóng: Thép dát nóng có độ dày không đồng đếu và có nhiều khuyết
điểm trên mặt, thường dùng làm bao bì gián tiếp.
Dát nguội: Thép dát nguội có độ đàn hồi tốt hơn, độ dày đều hơn, phẳng
hơn nên thường dùng bao bì đồ hộp.
Các thành phần khác trong thép:
Cacbon không quá 0.17%
Mangan không quá 0.5%
Silic không quá 0.03%
Lưu huỳnh không quá 0.15%
Phospho không quá 0.09%
Người ta mạ thiếc bằng phương pháp tráng nóng hay mạ điện. Sắt tráng nóng
có lớp thiếc dày 4µm một mặt nên có thể sơn hay không sơn vecni, emai. Sắt mạ
điện có lớp thiếc mỏng hơn 0.6 – 0.7µm nên thường phải có màng vecni hay emai
bảo vệ.
Phẩm chất của sắt trắng được đánh giá theo lượng thép tráng và trạng thái bề
mặt. Tùy theo lượng thiếc tráng ta chia sắt làm 3 cấp: Cấp 1, cấp 2, cấp.
Người ta chỉ dùng sắt cấp 1 và cấp 2 để làm bao bì đồ hộp.
Theo trạng thái bề mặt lá sắt người ta chia làm 3 loại: Loại 1, loại 2,
loại 3 nhưng chỉ dùng loại 1 và 2 để làm bao bì đồ hộp sắt:
Loại 1 cho phép (trên một lá sắt):
Rách ở rìa tới 1,5mm sâu vào trong.
Không quá 3 chấm đen có đường kính không quá 1mm, những
Bảng 1: Phân loại sắt đen.
Làm thành cuộn có chiều rộng (mm): 93, 120, 175, 180, 220, 239, 314, 321.
Gần dây để tiếc kiệm thiếc nhưng vẫn đảm bảo hình thái đẹp của vỏ hộp,
người ta mạ điện mỏng theo yêu cầu sử dụng: Thân hộp mặt trong tráng
0.227kg/BB, mặt ngoài tráng 0.114kg/BB, còn nắp chỉ tráng 0.114kg/BB cho mỗi
mặt.
2.1.2 Vecni
Đối với một số loại đồ hộp phải sử dụng vecni chống chua hay chống đạm để
tránh hiện tượng ăn mòn bao bì sắt.
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 15/67
Vecni là một loại sơn tổng hợp, đi từ các hợp chất cao phân tử.
Các loại vecni thực phẩm phảm phải có các tính chất sau:
Không có chất độc, không gây mùi vò màu sắc lạ cho sản phẩm
Không có tác động hóa học đối với sản phẩm
Có tác dụng chống ăn mòn tốt
Chòu được áp suất và nhiệt độ cao
Tạo thành lớp mỏng khi sơn
Tiện gia công: Dung mội bay hơi nhanh, nhiệt độ sấy không cao lắm
Có các loại vecni như sau:
Vecni dầu có chứa nhựa, dầu và dung môi
Vecni griptalic gồm có nhựa griptalic, dầu mau khô và dung môi
Vecni griptalic và phenol
Vecni có nhựa trùng hợp như polivinilbutiril, policloruavinil…
Vecni chống đạm hoặc chống lưu huỳnh còn gọi là emai gồm vecni
và bột kẽm oxit.
Công thức pha chế gồm:
ZnO được dùng 10%
Nhựa 617 87%
Không tạp chất
<25µm
- Thời gian sấy 45ph/178 – 180
0
C 30ph/160 – 170
0
C
- Độ dẻo Chòu uốn gấp trên miếng
sắt dày 1mm
Tương ự
- Độ chòu dập Chòu được vật rơi 1kg đặt
ở độ cao 50cm có diện
tích tiếp xúc Þ80mm mà
không tróc.
Tương tự
STT
Loại và các thành
phần phụ của vecni
Công dụng Ghi chú
1 Oleo resine (nhựa
tổng hợp + dầu khô
Thực phẩm có hàm
lượng acid cao
Sử dụng phổ biến, giá
thành thấp
2 Oleo resine có thêm
ZnO
Các loại rau quả, làm
lớp bảo vệ ngoài cho
vecni epoxyt phenolic
Không dùng với thực
phẩm có hàm lượng acid
cao
3 Phenolic
(Formandehyt +
phenol)
Thòt cá, xúp, rau quả,
nước giải khát, bia
Giá thành thấp nhưng phải
dùng màng có độ dày
tương đối cao do tính dẻo,
bám dính không cao.
4 Epoxyt phenolic
(phenol resine +
epoxyt resine)
độ dày hơn và cứng hơn
8 acrylic Thực phẩm có chứa
hoặc sót lại SO
2
từ quá
trình sử lý
Cho vẻ sáng đẹp khi mở
hộp
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 18/67
STT
Loại và các thành
phần phụ của vecni
Công dụng Ghi chú
9 polybutadien Làm lớp tráng cho hộp
đựng bia, nước giải
khát nếu có ZnO thì
dùng làm lớp phủ cho
bao bì chứa rau quả.
Bảng 3 : Tính chất và công dụng một số loại vecni phủ bao bì thép tráng
thiếc.
2.1.3 Lớp đệm
Để cho mối ghép hoàn toàn kín người ta dùng lớp đệm hay vòng đệm. Lớp
đệm được tạo thành bằng cách phun một loại bột đặc cao su hòa tan vào vành
nắp các loại hộp sắt tròn rồi sấy khô. Với các loại hộp sắt khác và hộp thủy tinh
không làm biến dạng tiết diện, không dòn, không gây mùi vò lạ khi đun nóng 30
phút trong dung dòch acid, đường, muối,…không tan trong dầu, mỡ.
Các nút đệm của chai lọ làm từ cao su hay chất trùng hôp. Nút đệm phải giữ
được tính đàn hối sau khi thanh trùng và tiếp tục bảo ôn ở 70
0
C trong 3 ngày, chòu
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 19/67
được tác dụng của dầu mỡ, không chất độc, không gây màu mùi vò lạ cho sản
phẩm.
2.1.4 Hộp kim hàn
Để hàn thân hộp, người ta dùng thiếc hàn 40% thiếc và 60% chì, với yêu cầu
tạp chất của chì trong đó có asen không qúa 0.5%, của thếc không quá 1.5%.
Thiếc hàn được chế tạo như sau: Đun chảy thiếc trong chảo gang (trên bếp lửa
hay bếp điện) khi trên mặt thiết nóng chảy có lớp váng (tức là thiếc oxit) thì cho
chì dần dần vào, khuấy cho tan hết và hòa đều vào, rồi đổ khuôn dài 20 – 40cm,
rộng 1-3 cm, dày 0.3 – 0.5cm.
2.1.5 Nước hàn
Để cho thiếc bám chặt vào vỏ hộp sắt, phải tẩy sạch dầu, mở tạp chất bằng
nước hàn, nước hàn dùng trong sản xuất vỏ đồ hộp phải đạt yêu cầu:
Hòa tan hoàn toàn hết các chất béo và oxit kim loại, đảm bảo bề mặt hàn
sạch sẽ.
Không có tác dụng ăn mòn mạnh kim loại
Không tạo các vết ố trên bề mặt vỏ hộp
Không có vọ bọ trên vết hàn
Không có chất độc hại làm ảnh hưởng đến đồ hộp
Nếu còn động lại trên vỏ hộp thì dễ rửa bằng nước nóng.
Trong ngành đồ hộp thường dùng nước hàn như sau
phẩm mà ta còn phải chọn bao bì cho thích hợp.
Đa số các sản phẩm đều được đựng trong bao bì có sơn vecni nhất là các sản
phẩm có pH thấp hay sản phẩm muối.
Các loại bao bì đổ hộp phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
Không gây độc cho thực phẩm, không làm cho thực phẩm biến đổi
chất lượng, không gây mùi vò, màu sắc lạ cho thực phẩm.
Bền đối với tác dụng của thực phẩm
Chòu được nhiệt độ và áp suất cao
Truyền nhiệt tốt, chắc chắn, nhẹ
Dễ gia công, rẻ tiền
Hình thức hấp dẫn, thích hợp với sản phẩm
Sử dụng, vận chuyển, bảo quản tiện lợi
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 21/67
2.2 Quy trình chế tạo thân lon 3 mảnh
Loe miệng
Phủ vec-ni
Ghép mí và đáy thân
Sấy
Tách lon
sơn
Dung
môi hữu
cơ (bốc
hơi)
Sản phẩm thân
ghép đáy
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 22/67
2.2.1 Thuyết minh qui trình
2.2.1.1 In và tráng vec-ni
Một bề mặt của tấm thép được in nhãn hiệu, sau đó có thể được phủ vec-ni
bảo vệ cả hai bề mặt hoặc chỉ phủ một mặt không in là bề mặt trong đựng thực
phẩm hoặc không phủ cả hai mặt, tùy theo yêu cầu sản phẩm việc in được thực
hiện hàng loạt nhằm tạo nhẵn hiệu cung cấp thông tin cho từng loại sản phẩm,
đồng thời cũng tạo nên lớp chống oxi hóa từ bên ngoài tạo nét đẹp cho bao bì.
Tráng vec-ni nhằm chống sự oxi hóa, sự ăn mòn lớp thiếc tiếp xúc trực tiếp
với thực phẩm chứa trong bao bì. Tùy loại sản phẩm chứa đựng mà sử dụng lớp
vec-ni thích hợp nhằm không làm ảnh hưởng đến thực phẩm, và cũng không
gây hư hỏng lớp vec-ni này. Lon thực phẩm ta thường dùng vec-ni epoxy
phenolic. Trường hợp lon đưng thòt cá thì cần tráng vec-ni có đưa vào bột Ti
2
O
hoặc AL để hấp thụ khí H
Hiện nay có nhiều công nghệ hàn như sau:
Công nghệ hàn bướm: có tần số nhỏ khoảng 100Hz, công nghệ này có
mối hàn tương đối lớn ( >1mm).
Công nghệ wima: có tần số lớn hơn 100Hz, tạo mối hàn mòn hơn so với
hàn bướm (<0,6mm).
Công nghệ supper wima: có tầng số từ 400-800Hz, có mối hàn rất mòn từ
0,4-0,6mm.
2.2.1.4 Phủ vec-ni trong và ngoài mối hàn
Trong quá trình hàn lớp thiếc ở nơi mối hàn bò chảy ra chỉ còn lại lớp sắt, do
đó ta phải tráng lớp vec-ni trong và ngoài mối hàn nhằm tránh sự ăn mòn của
sản phẩm chứa trong nó đồng thời chống sự oxi hóa từ bên ngoài.
2.2.1.5 Tách lon
Giai đoạn này chỉ tiến hành khi sản xuất loại lon có chiều cao nhỏ hơn 9cm,
vì ở máy hàn chỉ hàn được những lon có chiều cao lớn hơn. Do vậy, những lon
có kích thướt nhỏ hơn 9cm thì được thực hiện hàn 2 hoặc nhiều lon một lần sau
đó tách lon.
2.2.1.6 Loe
Đây là giai đoạn viền miệng lon tạo gờ để chuẩn bò cho quá trình ghép mí.
2.2.1.7 Ghép mí
Ghép mí thân đáy, thân và nắp là giai đoạn quan trọng quá trình sản xuất đồ
hộp, đây cũng có thể là một trong những nguyên nhân gây phế phẩm đồ hộp.
Lon thực phẩm phải được ghép mí thật kín để tạo nên bao bì kín nếu ghép
mí không tốt thì tạo phế phẩm đồ hộp, vì vậy việc thanh trùng sẽ không còn ý
nghóa.
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 24/67
Mối ghép thân bò lệch do sự sai lệch độ vuông gốc của tấm sắt nguyên liệu,
thường mức sai lệch cho phép là 2%, sự sai lệch này thường dẫn đến hư hỏng
mối ghép mí thân và nắp đáy.
Sấy ở 210
0
C
Dập gân và móc
Viền nắp
Phun keo
Sấy ở 60
0
C
Nắp hoặc đáy
Huế: 11/09/2009 www.phongviet.com.vn.
Nguồn: Đặng Trung Lập. Trang 25/67
2.2.3 Thuyết minh qui trình
2.2.3.1 Sắt nguyên liệu
Thép tấm nguyên liệu đưa vào chế tạo nắp và đáy lon có độ dày cùng với
thép nguyên liệu chế tạo thân lon.
Tráng vec-ni trong và ngoài
Thép tấm nguyên liệu được tráng vec-ni một hoặc cả hai mặt trong và ngoài
tùy theo yêu cầu. đối với trường hợp cần phủ cả hai mặt thì có thể tráng cùng
loại vec-ni, hoặc ở mặt ngoài ta dùng vec-ni có độ sáng hơn nhằm tạo vẻ mỹ
quan cho sản phẩm. Lớp vec-ni bên ngoài chống oxy hóa từ môi trường, bảo
quản bề mặt ngoài đồ hộp theo thời gian.
Mặt trong của thân lon và mặt trong của nắp lon được tráng cùng một lớp
vec-ni.
2.2.3.2 Sấy khô
Thép tấm nguyên liệu sau khi tráng vec-ni được sấy khô để làm bốc hơi
hoàn toàn dung môi tạo nên lớp nhựa rắn chắc trong suốt, bám dính vào bề mặt
thiếc.
2.2.3.3 Cắt tạo nắp và đáy