100520LÍ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 72

LÍ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 Sự cần thiết phải tổ chức kế toán Nguyên vật liệu trong doanh
nghiệp sản xuất.
1.1.1 Vị trí, vai trò của Nguyên vật liệu.
 Đặc điểm của Nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động và là một trong ba yếu tố của quá
trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể của sản phẩm.
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động, nhưng không phải bất kỳ đối
tượng nào cũng là nguyên vật liệu mà chỉ trong điều kiện đối tượng lao động do
lao động làm ra thì nó mới trở thành nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh không
giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất kinh doanh và giá trị của nguyên vật liệu được chuyển dịch một lần vào giá
trị sản phẩm mới tạo ra hoặc vào chi phí kinh doanh trong kỳ.
 Vị trí của Nguyên vật liệu trong sản xuất.
Nguyên vật liệu là cơ sở vật chất hình thành nên sản phẩm mới. Việc
cung cấp nguyên vật liệu có kịp thời hay không sẽ ảnh hưởng đến kết quả sản
xuất của doanh nghiệp. Song khi có nguyên vật liệu thì để sản xuất có hiệu quả
hay không, sản phẩm làm ra có đạt tiêu chuẩn hay không còn phụ thuộc vào
chất lượng nguyên vật liệu. Như vậy trong sản xuất không chỉ tuân theo quy
trình công nghệ mà còn phải chú trọng đến chất lượng quản lí nguyên vật liệu.
Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất.
Từ đó cho thấy tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu có ý nghĩa rất quan trọng đến
việc hạ giá thành. Doanh nghiệp nên tập trung quản lí nguyên vật liệu một cách
chặt chẽ từ khâu mua, bảo quản, dự trữ, sử dụng nhằm hạ thấp chi phí nguyên
vật liệu.
Về mặt giá trị thì nguyên vật liệu là tài sản dự trữ thuộc tài sản lưu động,
do vậy việc tăng tốc độ vốn kinh doanh không thể tách rời việc dự trữ sử dụng
nguyên vật liệu một cách tiết kiệm và hiệu quả.
Từ vị trí quan trọng của nguyên vật liệu càng cho thấy ý nghĩa của kế

1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán doanh nghiệp.
Kế toán là công cụ phục vụ cho việc quản lí kinh tế tài chính của doanh
nghiệp trong đó kế toán nguyên vật liệu đóng vai trò trong công tác quản lí và
sử dụng nguyên vật liệu. Kế toán nguyên vật liệu giúp cho lãnh đạo doanh
nghiệp nắm bắt được tình hình vật tư để chỉ đạo tiến độ sản xuất. Hạch toán
nguyên vật liệu có kịp thời, đầy đủ thì ban lãnh đạo mới nắm bắt được đầy đủ,
toàn diện tình hình thu mua, nhập xuất, dự trữ vật liệu. Tính chính xác của hạch
toán nguyên vật liệu ảnh hưởng đến tính chính xác, kịp thời của hạch toán giá
thành.
Xuất phát từ yêu cầu quản lí nguyên vật liệu và xuất phát từ vị trí của kế
toán đối với công tác quản lí tài chính trong doanh nghiệp sản xuất. Nhiệm vụ
của kế toán nguyên vật liệu được thể hiện:
- Tổ chức đánh giá, phân loại nguyên vật liệu phù hợp với các nguyên tắc,
yêu cầu quản lí thống nhất của nhà nước và yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
- Tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế
toán hàng tồn kho và phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu của doanh
nghiệp để ghi chép, phân loại tổng hợp số liệu về tình hình hiện có và sự biến
động của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp số liệu
kịp thời để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
- Tham gia kiểm kê nguyên vật liệu, xử lí kết quả kiểm kê theo quyết định
của cấp có thẩm quyền nhằm đảm bảo sự chính xác trung thực của thông tin kế
toán.
- Thực hiện việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch mua, dự
trữ và sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
1.2 Tổ chức kế toán NVL trong quá trình sản xuất.
1.2.1 Phân loại, đánh giá nguyên vật liệu.
1.2.1.1 Phân loại nguyên vật liệu.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu bao gồm nhiều loại, thứ
với nội dung kinh tế, công dụng, tính chất hóa học và yêu cầu quản lí khác
nhau. Vì vậy để quản lí chặt chẽ từng loại, thứ nguyên vật liệu phục vụ cho

- Nguyên vật liệu dùng cho sản xuất kinh doanh gồm:
+ Nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất chế tạo sản phẩm.
+ Nguyên vật liệu dùng cho quản lí ở các phân xưởng, dùng cho bộ phận
bán hàng, bộ phận quản lí doanh nghiệp.
- Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu khác:
+ Nhượng bán;
+ Đem góp vốn liên doanh;
+ Đem quyên tặng;
1.2.1.2 Đánh giá NVL.
Đánh giá nguyên vật liệu là xác định giá trị của nguyên vật liệu ở những
thời điểm nhất định và theo những nguyên tắc quy định.
♦ Nguyên tắc đánh giá Nguyên vật liệu.
Khi đánh giá nguyên vật liệu phải tuân thủ theo những nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc giá gốc: Vì nguyên vật liệu là hàng tồn kho nên theo chuẩn
mực 02-hàng tồn kho thì nguyên vật liệu phải được đánh giá theo nguyên tắc
giá gốc. Giá gốc của nguyên vật liệu bao gồm: chi phí mua, chi phí chế biến và
các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua nguyên vật liệu.
- Nguyên tắc thận trọng: Khi giá trị thuần có thể thực hiện được của
nguyên vật liệu thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện
được. Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của nguyên vật
liệu trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ đi chi phí ước tính để hoàn
thành sản phẩm và chi phí ước tính để tiêu thụ chúng.
Thực hiện nguyên tắc thận trọng bằng cách lập dự phòng giảm giá
nguyên vật liệu, kế toán đã ghi sổ theo giá gốc và phản ánh khoản dự phòng
giảm giá nguyên vật liệu.
- Nguyên tắc nhất quán: Các phương pháp kế toán áp dụng đánh giá
nguyên vật liệu phải đảm bảo tính nhất quán, tức là kế toán đã áp dụng phương
pháp nào thì phải nhất quán trong suốt niên độ kế toán. Doanh nghiệp có thể
thay thế phương pháp đã chọn, nhưng phải đảm bảo phương pháp thay thế cho
phép trình bày thông tin kế toán một cách trung thực và hợp lý hơn, đồng thời

điểm khác nhau nên có những giá khác nhau. Do đó khi xuất kho nguyên vật
liệu tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động, yêu cầu, trình độ quản lí và điều kiện
trang bị phương tiện kỹ thuật tính toán ở từng doanh nghiệp mà lựa chọn các
phương pháp để xác định trị giá vốn xuất kho.
Theo chuẩn mực 02 – hàng tồn kho thì có 4 phương pháp xác định trị giá
vốn xuất kho
● Phương pháp giá đích danh: Theo phương pháp này khi xuất kho
nguyên vật liệu thì căn cứ vào số lượng xuất kho thuộc lô nào và đơn giá thực tế
của lô đó để tính trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho.
Phương pháp này được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc
mặt hàng ổn định và nhận diện được.
● Phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập hoặc cuối kỳ: Theo
phương pháp này, giá trị của từng loại nguyên vật liệu được tính theo giá trị
trung bình của từng loại nguyên vật liệu tương tự tồn kho đầu kỳ và giá trị từng
loại nguyên vật liệu nhập kho trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo
trung bình cả kỳ hoặc mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc vào tình hình của
doanh nghiệp.
● Phương pháp nhập trước, xuất trước: Áp dụng dựa trên giả định là
nguyên vật liệu được mua trước, sản xuất trước thì được xuất trước, và nguyên
vật liệu còn lại cuối kỳ là nguyên vật liệu được mua hoặc sản xuất gần thời điểm
cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị của hàng xuất kho sẽ được tính theo
giá trị của lô hàng nhập kho tại thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của
nguyên vật liệu tồn kho được tính theo giá trị của hàng nhập kho ở thời điểm
cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.
● Phương pháp nhập sau, xuất trước: Áp dụng trên giả định là nguyên vật
liệu được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, nguyên vật liệu còn lại
cuối kỳ là nguyên vật liệu được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp
này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá trị của lô hàng nhập sau hoặc
gần sau cùng, giá trị của nguyên vật liệu tồn kho được tính theo giá trị của hàng
nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.

liệu nhưng được ghi định kỳ trên “Sổ đối chiếu luân chuyển”
3. Phương pháp sổ số dư.
Phương pháp này theo dõi chỉ tiêu giá trị của vật liệu nhập kho, xuất kho
và ghi định kỳ theo từng nhóm, từng thứ vật liệu trên “Bảng luỹ kế nhập (xuất)
vật liệu.
Mỗi phương pháp có ưu, nhược điểm và phạm vi áp dụng riêng, song ta
có thể thấy: Đối với phương pháp thẻ song song có ưu điểm là việc ghi chép
đơn giản dễ kiểm tra, đối chiếu, nhưng có nhược điểm là việc ghi chép giữa thủ
kho và kế toán còn trùng lặp nhau về chỉ tiêu số lượng, khối lượng ghi chép còn
nhiều. Do đó nó chỉ thích hợp với những doanh nghiệp có ít chủng lại vật tư,
hàng hóa; việc nhập - xuất diễn ra không thường xuyên. Đặc biệt trong điều
kiện doanh nghiệp đã làm kế toán máy thì phương pháp này vẫn áp dụng cho
những doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật tư hàng hóa diễn ra thường xuyên.
Vì vậy xu hướng phương pháp này sẽ được áp dụng ngày càng rộng rãi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status