http://www.dulichachau.com/Ban/Thanh+dia+My+Son/thanhdiamyson/
Thánh địa Mỹ Sơn
12/1999
Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 70 km về phía
Tây nam, cách Trà Kiệu khoảng 10 km về phía tây trong một thung lũng kín đáo.
Mỹ Sơn là thánh địa Ấn Độ giáo của Vương quốc Chămpa.
Những dòng chữ ghi trên tấm bia sớm nhất ở Mỹ Sơn, có niên
đại khoảng thế kỷ thứ 4 cho biết vua Bhadresvara đã xây dựng
một ngôi đền để dâng cúng vua thần Siva-Bhadresvara. Hơn
hai thế kỷ sau đó, ngôi đền đầu tiên được xây dựng bằng gỗ đã
bị thiêu huỷ trong một trận hỏa hoạn lớn. Vào đầu thế kỷ thứ 7,
vua Sambhuvarman đã xây dựng lại ngôi đền bằng những vật
liệu bền vững hơn, còn tồn tại đến ngày nay. Các triều vua sau
đó đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để
dâng lên các vị thần của họ.
Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 13, Mỹ
Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Champa. Những đền thờ chính
ở Mỹ Sơn thờ một bộ Linga hoặc hình tượng của thần Siva - Đấng bảo hộ của các dòng vua
Chămpa. Vị thần được tôn thờ ở Mỹ Sơn là Bhadrésvara, là vị vua đã sáng lập dòng vua đầu tiên
của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ 4 kết hợp với tên thần Siva, trở thành tín ngưỡng chính thờ
thần - vua và tổ tiên hoàng tộc.
Bằng vật kiệu gạch nung và đá sa thạch, trong nhiều thế kỷ người Chăm đã dựng lên một quần thể
kiến trúc đền tháp độc đáo, liên hoàn: Đền chính thờ Linga-Yoni biểu tượng của năng lực sáng tạo.
Bên cạnh tháp chính (Kalan) là những tháp thờ nhiều vị thần khác hoặc thờ những vị vua đã mất.
Mặc dù thời gian cùng chiến tranh đã biến nhiều khu tháp thành phế tích nhưng những hiện vật
điêu khắc, kiến trúc còn lại cho đến ngày nay vẫn còn để lại những phong cách giai đoạn lịch sử
mỹ thuật dân tộc Chăm, những kiệt tác đánh dấu một thời huy loàng của văn hoá-kiến trúc Chăm
Pa cũng như của Đông Nam Á.
Mỗi thời kỳ lịch sử, kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như mỗi đền tháp thờ những vị thần,
những triều vua khác nhau tạo nên đường nét kiến trúc đầy dấu ấn, nhưng nhìn chung tháp Chàm
đều được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác, chia làm 3 phần: Đế tháp biểu hiện thế giới trần
được xem như vị vua đầu tiên của Lâm Ấp hay còn gọi là Vương quốc Champa sau này. ĐVSKTT
trang 173 : " Năm 399 vua Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt đánh lấy Nhật Nam và Cửu Chân rồi vào
cướp Giao Châu " Kinh đô của Lâm Ấp bấy giờ là Trà Kiệu. Năm 420 Tuệ Độ đánh Lâm Ấp phá
được chém giết đến quá nửa , Lâm Ấp xin hàng...Lần đầu tiên Kinh đô Trà Kiệu và Thánh địa Mỷ
sơn bị xâm chiến
Năm 432 Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại sai sứ sang cống nước Tống xin cai trị Giao Châu...
Năm 436 Hòa Chi hạ thành Khu Túc, chém Phù Long , thừa thắng tiến vào Tựơng Phố ( Trà
Kiệu ) đây là lần thứ hai Thánh địa Mỹ Sơn bị chiếm
ĐVSKTT trang 222 chép : " Năm 982 Vua Lê Đại Hành thân đi đánh Chiêm Thành chém chế vua
Chiêm tại trận. Chiêm Thành thua to , bắt sống của chúng nhiều vô kể , cùng các kỷ nữ trong cung
trăm người và mộ nhà sư người Thiên Trúc , lấy các đồ quí đem về thu được vàng bạc châu báu
vô kể , san phẳng thành trì , phá hủy tông miếu , vừa một năm thì trở về kinh sư ... " đó là lần thứ
ba khu Thánh địa này bị tàn phá và về sau các Vua Lý Thái Tông , Lý Thánh Tông đánh chiếm
Chiêm Thành nhiều lần nữa
Những nghiên cứu của các nhà khảo cổ cho biết Thánh địa này xây dựng từ thế kỷ thứ IV và liên
tục được trùng tu , phát triển và xây mới thêm những đền tháp cùng các pho tượng điêu khắc bàng
đá khác cho đến thế kỷ thứ XIII mới chấm dứt
Theo Đai Nam Nhất Thống Chí (ĐNNTC) quyển 2 trang 332 thì vùng đất Quảng Nam – Trà Kiệu
- Mỹ Sơn thì xưa là đất Việt Thường thị ; đời Tần thuộc Tượng quận , đời Hán là bờ cỏi quận Nhật
Nam; đời Đường thuộc Lâm Ấp; đời Tống thuộc Chiêm Thành là đất Châu Lý và Chiêm Động,
Nước ta đời Trần năm 1306 gọi là châu Hóa ; năm Hồng Đức thứ nhất ( 1470 ) Khâm Định Việt
Sử Thông Giám Cương Mục trang 1104 ghi : " Vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành , mở
rộng đất đai đến núi Đá Bia đặt tên Thừa Tuyên Quảng Nam và tên Quảng Nam có từ ngày đó
(Tháng 6 năm 1472)
Trong ĐNNTC có ghi về phần cổ tích có ghi Thành cổ Hoàn Vương (Trà Kiệu) ở huyện Diên
Phước tục gọi là Vệ Thành , tương truyền ngày xưa Hoàn Vương đóng đô ở đấy.Ba mặt thành ,
trước ,tả ,hữu bị xói lở chỉ còn góc phía tây bắc hiện nay vẫn còn ; về tháp cổ Chiêm Thành ở
huyện Diên Phước có hai cây tháp nay dều đổ nát , một tháp đổ xuống thành gò ước hơn một
mẫu....và còn mô tả một số tháp có trong tỉnh nhưng không có chỗ nào trong sách mô tả phong
cảnh và tháp miếu như ở Mỹ sơn mà chỉ nói ở Khương Mĩ là có ba tòa liền nhau cao 80 trượng ,
Khu B : gồm các tháp và di tích nằm ngọn đồi về phía tây
Khu C : gồm các tháp và di tích nằm phía nam , có hai khu C1 và C2
Khu D : gồm các tháp và di tích nằm phía bắc
Cách phân chia này phù hợp với địa thế phong thủy , tránh được tình trạng xé lẻ từng mảnh vụn
của tổng thể kiến trúc của mỗi tháp mà trước đây nhà khảo cổ học người Pháp ông H.Parmentier
đã công bố năm 1904
C1 nằm phía đông được bao quanh bằng một con suối gồm có 16 kiến trúc (4 kiến trúc nằm rải rác
bên ngoài và 12bên trong) : 2 tháp chính với 8 tháp phụ , 1 tháp chính và 2 tháp phụ đi kèm cùng
một số tượng điêu khắc bằng đá
C2 nằm phía tây gồm có 26 kiến trúc ( 6 ngoài và 20 trong ) : 3 tháp chính và 12 tháp phụ cùng
với một số tượng , phù điêu cùng các tác phẫm điêu khắc , bi kí bằng đá mang tính tôn giáo
Khu C là khu vực có nhiều tháp và các tác phẫm điêu khắc nhất
Khu D có 12 kiến trúc ( 1 ngoài và 11 trong) : 2 tháp chính , và 4 tháp phụ ,trong đó có 1 tháp
chính không có tháp phụ đi kèm ? cùng một số tượng điêu khắc bằng đá
Tất cả là 46 kiến trúc có thể đếm được trong khoảng ước chừng 70 kiến trúc của Thánh địa này
Quan sát một số tháp , di chỉ tiêu biểu mà hiện nay (năm 2003 ) còn lại trên thực địa
Khu A : gồm 5 kiến trúc nằm trên ngọn đồi phía đông là ngọn đồi cao nhất trong thung lủng , có
một tháp chính và 4 kiến trúc phụ trong đó có một tháp nhỏ để đựng bi kí nằm ở giữa , một thủy
tháp , một hỏa tháp và nhà bày mâm dùng để sửa soạn đồ tế
Tháp chính có hai cửa theo hướng đông tây , ở mỗi cửa có 8 bậc cấp để đi lên , ở mỗi cửa đều có
vòm cuốn
Trong Thánh địa Mỹ Sơn có hai ngọn đồi , chúng nằm đối diện nhau theo hướng đông – tây ngay
ngã tư của một con suối , các nhánh của con suối chia vùng này thành 4 khu vực
Khu A : gồm các tháp và di tích nằm trên ngọn đồi phía đông
Khu B : gồm các tháp và di tích nằm ngọn đồi về phía tây
Khu C : gồm các tháp và di tích nằm phía nam , có hai khu C1 và C2
Khu D : gồm các tháp và di tích nằm phía bắc
Khu B : gồm có các kiến trúc nằm trên ngọn đồi phía tây có một tháp chính và 3 kiến trúc phụ
Theo tác giả Trần Kỳ Phương thì tất cả nhóm tháp này đều có cùng một
niên đại .Tháp chính xoay mặt về hướng đông, một kíên trúc phụ đối diện với tháp chính ( xem
rất khác nhau , một người ở phía trước nữ thần và một người sau , những chi tiết hoa văn trang trí
phần này là một biến tấu trong nghệ thuật điêu khắc rất đa dạng tinh vi ,
Từ trên đồi cao của khu miếu tháp A chúng ta có thể nhìn thấy được bao quát toàn bộ Thành địa
Mỹ Sơn với những nóc tháp bên dưới ẩn hiện trong những tàn cây hay bị che lấp sau những bụi cỏ
gai , điêu tàn , xơ xác , thê lương đến ngậm ngùi , những ngôi tháp không còn nóc rệu rã , những
pho tượng mất đầu , các di chỉ , bi ký , các tác phẩm điêu khác bằng gạch hay sa thạch lên mốc
thời gian , các loại cây ký sinh tầm gởi như sanh hay bồ đề có tuổi thọ khá cao đeo bám như những
phần xương máu huyết mạch của các công trình kiến trúc , dưới chân tháp thì cỏ dại dây leo chui
rúc qua kẻ hở , ngóc ngách của các pho tượng hay các khung trang trí của các mặt nạ ở chân tường
gậm nhấm , xói mòn , rạn nức , sụp đổ.....những kiệt tác của một nền văn hóa mà độ dài thời gian
ai nghĩ đến cũng phải nuối tiếc thương hại cho số phận của nó , đó một hình ảnh của Thánh địa
Mỹ Sơn , một di tích văn hóa của Quảng Nam – Đà Nẳng và của tất cả chúng ta
Nếu là biểu tượng đại diện cho Thánh địa Mỹ Sơn thì khu C này là nơi tiêu biểu nhất , không
những về mặt cảnh quan mà còn về số lượng , chất lượng của các đền tháp , bi ký, tượng đài và
các tác phẩm điêu khắc bày biện ở đây vô cùng phong phú , đa dạng , ngoài ra diện tích của khu
vực này cũng lớn nhất so với các khu khác , bởi vì từ đây đến mí chân núi Mahaparvata cũng còn
hơn 1 Km rưỡi
Nhìn trên cao phía từ Đông Nam của thung lũng thì khu C trải rộng nằm soãi ra bắt đầu bởi một
mặt bằng , đỉnh của một ngọn đồi thấp , khu vực này chạy dọc theo triền dồi về hướng tây và càng
xuống , càng thấp dần cho đến khi gặp khu bình nguyên đáy của thung lũng , khu C được phân
chia thành những ô đất hình bậc thang , trên đó các kiến trúc đền tháp được xây dựng , phần bình
nguyên dứơi chân đồi tương đối rộng rãi và thoáng , diện tích đất ở đây đủ để cất lên nhiều đền
tháp