LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 72

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG MỞ RỘNG VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
1.1 Tín dụng tiêu dùng của ngân hàng thương mại và vai trò của nó
đối với phát triển kinh tế xã hội
1.1.1 Khái niệm tín dụng tiêu dùng
Tín dụng tiêu dùng là một hình thức tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân
và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể
sử dụng hàng hoá và dịch vụ mà họ mong muốn trước khi họ có khả năng chi trả,
tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống tốt hơn. Các khoản cho vay như
thế được sử dụng vào nhiều mục đích như: mua nhà, sửa nhà, mua sắm vật dụng
cần thiết trong gia đình, mua xe hơi, du học, chi phí cho du lịch..
1.1.2 Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng
Khách hàng mục tiêu:
Khách hàng mục tiêu của các NHTM đối với các loại hình tín dụng tiêu dùng
là khách hàng cá nhân tức là chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình.
Mục đích :
Đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Các nhu cầu đó
là : mua nhà, sửa chữa nhà cửa, mua sắm đồ dùng vật dụng gia đình, mua xe hơI,
du hoc, du lịch..
Nguồn trả nợ :
Nguồn trả nợ của các khoản vay tiêu dùng không phảI từ kết quả sử dụng các
khoản tiền đó mà là từ thu nhập của người vay- nguồn trả nợ độc lập so với việc sử
dụng tiền vay: đó có thể là lương, thu nhập từ hoạt động kinh doanh, tiền cho thuê
nhà..
Qui mô của các khoản vay:
Hầu hết các khoản vay tiêu dùng đều có giá trị không lớn, ngoại trừ các
khoản vay mua bất động sản. Tuy nhiên số lượng các khoản vay có thể không nhỏ.
Thời hạn vay :
Ngắn, trung và dài hạn nhưng chủ yếu là trung và dài hạn.
Rủi ro :

khác.
Lãi suất của các khoản vay tiều dùng cao hơn các khoản cho vay khác:
Chính xuất phát từ đặc điểm các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí và rủi ro
cao nên lãi suất mà các ngân hàng mong muốn có được từ các khoản vay này phảI
cao hơn các khoản vay khác để bù đắp được các chi phí và tổn thất dự kiến. Lãi
suất cho vay tiêu dùng thường khá cứng nhắc, nghĩa là nó được định giá trên cơ sở
chi phí huy động vốn của ngân hàng, lợi nhuận kì vọng và phần bù rủi ro lãI suất.
Nó không như hầu hết các khoản vay kinh doanh là lãI suất thay đổi theo điều kiện
của thị trường.
Mặt khác cho vay tiêu dùng lại có tính nhạy cảm theo chu kì. Nó tăng lên khi
nền kinh tế mở rộng, mọi người lạc quan về tương lai. Ngược lại khi nền kinh tế
rơI vào suy thoáI, các cá nhân và hộ gia đình sẽ hạn chế vay mượn từ ngân hàng.
Hơn nữa khi vay tiền người tiêu dùng thường kém nhạy cảm với lãi suất, họ
thường quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong
hợp đồng mặc dù lãi suất ảnh hưởng đến khoản tiền phải trả của họ.
Tài sản đảm bảo :
Cho vay tiêu dùng thường yêu cầu có tài sản đảm bảo để hạn chế bớt rủi ro
cho ngân hàng vì nguồn trả nợ độc lập với việc sủ dụng tiền vay nên việc kiểm soát
các nguồn thu nhập khác của khách hàng là khó khăn đối với ngân hàng.
Lợi nhuận mang lại cho ngân hàng:
Tín dụng tiêu dùng là một trong những hoạt động mang lại lợi nhuận cao nhất
cho ngân hàng bởi mức lãI suất cố định đã phân tích ở trên. Mặc dù chịu rủi ro lãI
suất khi chi phí huy động vốn tăng lên, tuy nhiên các khoản vay này đã được định
giá khá cao đế mức mà bản thân lãI suất vay vốn trên thị trường lẫn tỷ lệ tổn thất
tín dụng phảI tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản tín dụng tiêu dùng mới không
mang lại lợi nhuận.
Như vậy qua phân tích trên có thể rút ra tín dụng tiêu dùng có những đặc
điểm như sau:
- Quy mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay
cao, vì vậy lãi suất của tín dụng tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất của các

- Tín dụng tiêu dùng trả góp:
Đây là hình thức tín dụng tiêu dùng mà người đi vay trả nợ cho ngân hàng
gồm số tiền gốc và lãi làm hai hoặc nhiều lần theo những kì hạn nhất định trong
thời hạn cho vay. Phương thức này áp dụng cho những khoản vay có giá trị lớn và
thu nhập định kì của người vay không đủ trả hết một lần số nợ vay.
Thông thường, Ngân hàng yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một
phần giá trị cần mua sắm, số tiền này được gọi là số tiền trả trước, phần còn lại
ngân hàng sẽ cho vay. Số tiền trả trước (khoảng 20-30% giá trị tài sản cần mua
sắm) để một mặt làm cho người đi vay nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu của tài
sản, mặt khác lại có tác dụng hạn chế rủi ro cho Ngân hàng. Khi không cảm nhận
được rằng mình là chủ sở hữu của tài sản hình thành từ tiền vay thì người đi vay có
thể sẽ có thái độ miễn cưỡng trong việc trả nợ. Ngoài ra, khi khách hàng không trả
nợ, trong nhiều trường hợp, Ngân hàng đành phải tiếp nhận và phát mại tài sản để
thu hồi nợ. Hầu hết các tài sản đã qua sử dụng đều bị giảm giá trị, tức là giá trị thị
trường nhỏ hơn giá trị hạch toán của tài sản, cho nên số tiền trả trước có một vai trò
rất quan trọng giúp cho Ngân hàng hạn chế rủi ro.
- Tín dụng tiêu dùng trả một lần:
Đây là các khoản tài trợ ngắn hạn cho cá nhân và hộ gia đình để đáp ứng nhu
cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn. Qui mô
của những khoản vay này tương đối là nhỏ, bao gồm cả phí tài khoản với yêu cầu
thanh toán trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Phần lớn các khoản vay
loại này được dùng để chi trả cho các chuyến đi nghỉ, tiền nằm viện, mua các vật
dụng gia đình hoặc sửa chữa ôtô, nhà ở.
- Tín dụng tiêu dùng tuần hoàn:
Đây là các khoản tín dụng tiêu dùng trong đó Ngân hàng cho phép khách
hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc được phép thấu chi dựa trên tài
khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thoả thuận
trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng thời kỳ, khách hàng
được Ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần
hoàn, theo một hạn mức tín dụng.

(4)
(5)
(6) (2) (3)
(1): Ngân hàng và Công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ.
Trong hợp đồng, Ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng
khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán
chịu...
(2): Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán
chịu hàng hoá. Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần
giá trị của tài sản.
(3): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(4): Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho Ngân hàng.
(5): Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ.
(6): Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho Ngân hàng.
Tín dụng tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:
- Tín dụng tiêu dùng gián tiếp tạo điều kiện để ngân hàng dễ dàng tăng doanh
số cho vay tiêu dùng .
- Tín dụng tiêu dùng gián tiếp cũng cho phép Ngân hàng tiết kiệm và giảm bớt
chi phí trong hoạt động cho vay.
- Đây cũng là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các
hoạt động Ngân hàng khác.
- Nếu áp dụng phương thức có truy đòi thì việc cho vay tiêu dùng gián tiếp có
độ an toàn cao.
Bên cạnh những điểm như trên, tín dụng tiêu dùng gián tiếp còn có một số
nhược điểm như sau:
- Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, mà chỉ được biết
thông qua Công ty bán lẻ. Bên cạnh đó ta nhận thấy rằng, các công ty bán lẻ không
còn chuyên môn sâu để thẩm định khách hàng một cách chi tiết và chính xác.
- Thiếu sự kiểm soát của Ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán
chịu hàng hoá cho người tiêu dùng.

ngân hàng, Công ty bán lẻ không còn chịu trách nhiệm cho việc chúng có được
hoàn trả hay không. Phương thức này chứa đựng rủi ro so với các phương thức nói
trên và các khoản nợ được mua cũng được lựa chọn rất kỹ. Ngoài ra, chỉ có những
Công ty rất được Ngân hàng tin cậy mới được áp dụng phương thức này.
- Tài trợ có mua lại: Khi thực hiện tín dụng tiêu dùng gián tiếp theo phương
thức miễn truy đòi hoặc truy đòi một phần, nếu rủi ro xảy ra, người tiêu dùng
không trả nợ thì Ngân hàng thường phải thanh lý tài sản để thu hồi nợ. Trong
trường hợp này, nếu có thoả thuận trước thì Ngân hàng có thể bán trở lại cho Công
ty bán lẻ nợ mình chưa thanh toán, kèm với tài sản được đắc thụ trong một thời hạn
nhất định.
* Tín dụng tiêu dùng trực tiếp.
Tín dụng tiêu dùng trực tiếp là các khoản tín dụng tiêu dùng trong đó Ngân
hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người
này.
Ngân hàng
Người tiêu dùng
Công ty bán lẻ
(1)
(5)

(3) (4)
(2)
(1): Ngân hàng ký kết hợp đồng tín dụng cho người tiêu dùng và
cung cấp thẻ tín dụng cho họ.
(2): Khách hàng dùng thẻ tín dụng để mua hàng hoá.
(3): Ngân hàng trả tiền cho Công ty bán lẻ.
(4): Công ty bán lẻ giao hàng hoá cho khách hàng.
(5): Khách hàng trả nợ cho Ngân hàng.
So với tín dụng tiêu dùng gián tiếp, tín dụng tiêu dùng trực tiếp có một số ưu
điểm như sau:

hoá cần thiết có giá trị cao, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và cải thiện đời sống.
Trên thực tế có nhiều nhu cầu thiết yếu, có ý nghĩa quan trọng trong cuộc
sống đối với các cá nhân và hộ gia đình, những nhu cầu này không sớm thì muộn
cũng cần phải được thoả mãn. Ví dụ như nhu cầu về mua sắm, sửa chữa nhà cửa,
mua các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt, mua sắm các phương tiện như xe máy, ô tô,

Trích đoạn Bài học kinh nghiệm cho các NHTM Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status