NHỮNG QUY TẮC CHÍNH TẢ TV - Pdf 72

Quy tắc chính tả tiếng Việt và phiên chuyển tiếng nước ngoài
I. Chính tả tiếng Việt
Hiện nay, trong các trường học và trong sách giáo khoa phổ thông đã thống
nhất cách viết tiếng Việt theo chính tả truyền thống. Tuy nhiên, trong sách
báo và giữa các nhà xuất bản vẫn chưa có sự thống nhất, nhất là việc phiên
chuyển tiếng nước ngoài và chưa có văn bản quy định của Nhà nước.
Trong lúc chờ đợi quy định thống nhất của Nhà nước, được phép của thủ
tướng chính phủ (Công văn số 4: 1635/VPCP-KG ngày 27 tháng 4 năm
2000) và thực hiện nghị quyết của Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ
điển Bách khoa Việt Nam trong Hội nghị toàn thể ngày 3-4.5.2000, sau khi
lấy ý kiến của các uỷ viên Hội đồng và được Ban thường trực thông qua, chủ
tịch Hội đồng ban hành quy tắc chính tả và phiên chuyển tiếng nước ngoài
để áp dụng thống nhất trong bộ Từ điển bách khoa Việt Nam và các công
trình khoa học của Hội đồng.
1. Bảng chữ cái tiếng Việt gồm các chữ cái xếp theo thứ tự: A, Ă, Â, B, C, D, Đ,
E, Ê, G, H, I, K, L, M, N, O, Ô, Ơ, P, Q, R, S, T, U, Ư, V, X, Y.

2. Các từ tiếng Việt viết theo quy tắc chính tả hiện hành (tham khảo các từ điển chính tả),
chú ý phân biệt:
c/k: ca, co, cô, cơ; ke, kê, ki.
d/gi: da, dô, dơ; gia, gio, giơ, giô.
g/gh: ga, go, gô, gơ; ghe, ghê, ghi.
Viết rời các âm tiết, không dùng dấu gạch nối.

3. Dùng i thay cho y ở cuối âm tiết mở. Ví dụ: hi sinh, hi vọng, biệt li.
Trừ trong các âm tiết uy và các trường hợp sau qu hoặc y đứng một mình hoặc đứng đầu
âm tiết. Ví dụ: ý nghĩa, ý chí, yêu mến.
Một số từ có i làm thành tố thì vẫn viết theo thói quen: ỉ eo, ầm ĩ; hoặc i đứng đầu một số
âm tiết: in, im, inh, ít ỏi, ụt ịt, ỉu xìu.
Ngoại lệ: trong cách viết tên riêng (tên người, tên đất), tên các triều đại đã quen dùng y thì
vẫn viết theo truyền thống. Ví dụ: triều Lý, Lý Bôn, Lý Thường Kiệt, xã Lý Nhân,

Nam Hà, Đàng Trong, Đàng Ngoài, Đông Nam Bộ, Trường Sơn Tây, Bắc Bán Cầu, Nam
Bán Cầu, Bắc Cực, Trung Phi, Cận Đông, khu Đông Bắc, vùng Tây Nam, quan hệ Đông -
Tây, đối thoại Bắc - Nam, các nước phương Đông, văn học phương Tây, vv.
- Địa danh Việt Nam cấu tạo bằng cách kết hợp danh từ chung (biển, cửa, bến, vũng, lạch,
vàm, buôn, bản, vv.) với danh từ riêng (thường chỉ có một âm tiết thì viết hoa tất cả các
chữ đầu tạo nên địa danh đó, ví dụ: Cửa Lò, Bến Nghé, Vũng Tàu, Lạch Trường, Vàm
Cỏ, Vàm Láng, Buôn Hồ, Bản Keo, Sóc Trăng, vv.

4.3. Tên các tổ chức:
- Tên các tổ chức được viết hoa chữ đầu của thành tố đầu và các từ, cụm từ cấu tạo đặc
trưng (nét khu biệt) của tổ chức và tên riêng nếu có. Ví dụ: Chính phủ Việt Nam, Quốc
hội Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại học
Tổng hợp Hà Nội, Nhà Xuất bản Từ điển bách khoa, Đài Truyền hình Việt Nam, Ban Tổ
chức Trung ương, nước Cộng hoà Hồi giáo Pakixtan, vv.

4.4. Viết hoa các trường hợp khác:
- Tên các năm âm lịch: viết hoa cả hai âm tiết. Ví dụ: năm Kỉ Tị, Cách mạng Tân Hợi,
Cuộc chính biến Mậu Tuất, Tết Mậu Thân, vv.
- Tên các ngày tiết và ngày tết: viết hoa âm tiết thứ nhất. Ví dụ: tiết Lập xuân, tiết Đại
hàn, tết Đoan ngọ, tết Trung thu, tết Nguyên đán.
- Từ chỉ số trong những đơn vị là tên gọi các sự kiện lịch sử: không viết bằng con số mà
viết bằng chữ hoa. Ví dụ: Cách mạng tháng Tám, Cách mạng Xã hội chủ nghĩa tháng
Mười.
- Tên gọi một số thời kì lịch sử, sự kiện lịch sử có ý nghĩa quan trọng: viết hoa âm tiết
đầu. Ví dụ: thời kì Phục hưng, Chiến tranh thế giới I, phong trào Cần vương.
- Viết hoa tên các ngành, lớp, bộ, họ, giống (chi) trong phân loại sinh vật. Ví dụ: họ Kim
giao; bộ Mười chân, lớp Thân mềm; chi Tôm he; lớp Nhện; cây họ Đậu; họ Dâu tằm, vv.
- Tên các niên đại địa chất: viết hoa chữ đầu của âm tiết thứ nhất, ví dụ: đại Cổ sinh, kỉ
Cacbon, loài người xuất hiện từ đầu kỉ Đệ tứ
- Tên gọi các huân chương, huy chương, danh hiệu vinh dự,... viết như sau: huân chương

Việt nhiều thập kỉ qua đã gây nhiều tranh luận sôi nổi dai dẳng mà
vẫn chưa khi nào đạt đến sự nhất trí. Hiện nay vẫn còn là vấn đề
rất thời sự, bức xúc được đề cập thường xuyên trên báo chí.
Cùng một tên người, cùng một địa danh nhưng có nhiều cách
phiên chuyển khác nhau. Mỗi tờ báo, tạp chí, mỗi cuốn sách có
cách phiên chuyển khác nhau và thậm chí trong một ấn phẩm, mỗi
tác giả có cách phiên chuyển riêng, nhiều lúc rất tuỳ tiện, không
tuân theo một quy luật thống nhất nào cả.
Quan điểm về phương pháp phiên âm tuy rất khác nhau nhưng tựu
trung có thể quy về ba hình thức chủ yếu sau:
1. Viết như nguyên ngữ hoặc chuyển tự Latinh nếu nguyên ngữ không
thuộc hệ Latinh.
2. Phiên âm theo âm vần của tiếng Việt dựa vào cách đọc của nguyên
ngữ có gạch nối giữa các âm tiết. Vd. Phi-lip-pin, In-đô-nê-xi-a, Giắc
Si-rắc, Pa-ri.
3. Vừa phiên âm, vừa chuyển tự để có thể đảm bảo tên phiên chuyển
gần với nguyên ngữ nhất. Vd. Philippin, Sêchxpia, Huygo, Pari.
Tuy rằng việc phiên chuyển tên riêng nước ngoài là rất khó khăn và
phức tạp nhưng không phải là không thể đi tới một sự thống nhất nào
đó để phục vụ bạn đọc và tạo điều kiện thuận tiện cho những người
viết sách, viết báo có chỗ tra cứu, không phải mất thì giờ tự mình tìm
ra cách phiên chuyển.
Điều lí tưởng là có thể biên soạn được một cuốn cẩm nang có tính
pháp quy về tên riêng nước ngoài phiên chuyển sang tiếng Việt. Đó là
mục tiêu của mục diễn đàn “Quy tắc phiên chuyển tên riêng nước
ngoài”.
Trong quá trình biên soạn bộ “Từ điển bách khoa Việt Nam”, Ban
biên soạn đã phải phiên chuyển hàng nghìn tên riêng nước ngoài
thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau: Anh, Pháp, Nga, Đức, Tây Ban Nha,
Trung Quốc, Ấn Độ, Arập..., những ngôn ngữ thuộc hệ Latinh và phi


1.1.Đối với các ngôn ngữ có chữ viết dùng hệ thống chữ cái Latinh (Anh, Pháp,
Đức, Tây Ban Nha, Italia, vv.): phiên âm theo cách đọc trực tiếp các ngôn ngữ đó
kèm theo chú thích nguyên dạng tên gốc đặt giữa hai ngoặc đơn (hoặc có bảng đối
chiếu kèm theo sách).
Ví dụ: Camaguây (Tây Ban Nha: Camaguey), thành phố ở Cuba
Aizơnac (Đức: Eisenach), thành phố ở Đức.
Oelinhtơn (Anh: Wellington), thủ đô của Niu Zilân.
Vacsava (Ba Lan: Warszawa), thủ đô của Ba Lan.
Oasinhtơn (Anh: Washington), thủ đô của Hoa Kì.
Clintơn Jâuzip Đâyvixơn (Anh: Clinton Joseph Davisson), nhà vật lí học Hoa Kì.

1.2. Đối với các ngôn ngữ không dùng hệ thống chữ cái Latinh như các ngôn ngữ
Arập, Triều Tiên, Lào: nếu chưa phiên âm được theo cách đọc trực tiếp thì phiên âm
qua ngôn ngữ trung gian (tuỳ theo ngôn ngữ đó sử dụng tiếng Anh, Pháp hay tiếng
khác) kèm theo chú thích ngôn ngữ trung gian giữa hai ngoặc đơn, ví dụ Niu Đêli
(Anh: New Delhi), thủ đô của ấn Độ; hoặc phiên qua dạng Latinh của ngôn ngữ đó
(nếu có), ví dụ Maxcat (Masqat), thủ đô của Ôman (so sánh tiếng Pháp: Mascate).

1.3. Đối với tiếng Nga: phiên âm trực tiếp từ tiếng Nga, không nhược hoá lược bỏ
trọng âm. Ví dụ: Lômônôxôp M.V. (ломоносов M.B.) Tatiana (татяна)

1.4. Đối với tiếng Hán: phiên âm theo âm Hán - Việt (có chú thích âm dạng Latinh
của chữ Hán). Ví dụ: Đỗ Phủ (Du Fu), Bắc Kinh (Beijing).
Một số trường hợp không đọc theo âm Hán - Việt thì phiên theo âm dạng Latinh của
tiếng Hán. Ví dụ: Alasan (Alashan), sa mạc ở phía Bắc Trung Quốc.

1.5. Đối với tên riêng nước ngoài đã quen dùng (nhất là phiên theo âm Hán - Việt)
thì giữ nguyên. Ví dụ: Pháp, Anh, Mĩ, Thuỵ Sĩ, Kim Nhật Thành.
Tuy nhiên nếu có những thay đổi mới về tên riêng theo hướng phiên âm gần với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status