LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN - Pdf 72

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN
1.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Ngân hàng thương mại và các hoạt động cơ bản của Ngân hàng
thương mại
1.1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó Ngân hàng thương mại chiếm tỉ
trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các Ngân hàng. Tuy nhiên
cho đến nay hầu như chưa có một khái niệm cụ thể, thống nhất về Ngân hàng
thương mại.
Theo pháp luật nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi,
cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc
rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại
sẽ được xem là một Ngân hàng.
Tại Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/5/1990 của Hội đồng Nhà nước
Việt Nam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt
động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán.
Luật tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm 1997,
định nghĩa: Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực
hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật tổ
chức tín dụng không có định nghĩa hoạt động Ngân hàng vì khái niệm này đã được
định nghĩa trong luật Ngân hàng Nhà nước, cũng do Quốc hội khóa X thông qua
cùng ngày. Luật Ngân hàng Nhà nước định nghĩa: hoạt động Ngân hàng là hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận
tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.
Như vậy, ta có thể đưa ra một khái niệm chung về Ngân hàng thương mại
như sau: Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính, cung cấp

chức tín dụng nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước.
- Một số hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước.
* Hoạt động tín dụng:
Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại là tài trợ cho khách hàng trên
cơ sở tín nhiệm ( tín dụng ). Đây là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất cho Ngân
hàng nhưng nó cũng là hoạt động chứa đựng rủi ro lớn nhất.
Tín dụng Ngân hàng thương mại được cấp cho các tổ chức, cá nhân dưới
nhiều hình thức:
- Chiết khấu thương phiếu: Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương
phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác của tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu
thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác của các tổ chức tín dụng khác.
- Cho vay: Đây là hoạt động quan trọng và chiếm tỉ trọng lớn nhất trong các
hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại có thể
cho các cá nhân, tổ chức vay vốn dưới nhiều hình thức như thấu chi, cho vay theo
hạn mức hoặc vay từng lần…
- Bảo lãnh hoặc tái bảo lãnh: Bảo lãnh của Ngân hàng là cam kết của Ngân
hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho
khách hàng của Ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như
cam kết. Ngân hàng thương mại được bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, bảo
lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng
khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh.
- Cho thuê tài sản ( thuê - mua ): Cho thuê tài sản của Ngân hàng thương mại
thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn. Cho thuê tài sản giống một khoản
cho vay thông thường ở chỗ Ngân hàng phải xuất tiền với kì vọng sẽ thu về cả gốc
và lãi sau một thời gian nhất định, tuy nhiên nó khác cho vay ở chỗ tài sản cho thuê
vẫn thuộc sở hữu của Ngân hàng, Ngân hàng có thể thu hồi nếu bên thuê không
thực hiện đúng hợp đồng…
* Hoạt động thanh toán và ngân quỹ

đầu tư vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác.
- Vai trò thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua
bán hàng hoá và dịch vụ( như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng
lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền giấy và tiền đúc).
- Vai trò người bảo lãnh: cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất
khả năng thanh toán ( chẳng hạn phát hành thư tín dụng)
- Vai trò đại lý: thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát
hành hoặc chuộc lại chứng khoán( thường được thực hiện tại phòng uỷ thác).
- Vai trò thực hiện chính sách: thực hiện các chính sách kinh tế của chính
phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội.
1.1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành kèm
theo Quyết định 324/1998/QĐ – NHNN1 ngày 30/09/1998 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam có quy định: “Cho vay là một hình thức của cấp tín dụng,
theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vao mục
đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và
lãi”.
Cho vay là một trong những nghiệp vụ tín dụng cơ bản của Ngân hàng thương
mại. Đó là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải
hoàn trả cả gốc và lại trong khoảng thời gian xác định.
Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của các Ngân hàng – để tài trợ cho
chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ. Hoạt động cho
vay của Ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu
vực Ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh
nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế. Hơn nữa thông qua các khoản cho vay của
Ngân hàng, thị trường sẽ có thêm thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách
hàng và nhờ đó giúp cho họ có khả năng nhận thêm các khoản tín dụng mới từ
những nguồn khác với chi phí thấp hơn.
Có nhiều cách phân loại các loại hình cho vay tùy theo các tiêu thức phân loại.
* Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng khoản vay

đồng, Ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng vốn vay,
Ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp
đồng, Ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn. Đây là nghiệp vụ
tương đối đơn giản, Ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: đây là phương thức mà Ngân hàng thỏa
thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng ( có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì )
trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của
khách hàng. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn
thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Đối với Ngân hàng thì hình thức cho vay này có ưu thế là khi khách hàng có thu
nhập, Ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho
khách hàng, tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn cụ thể nên
Ngân hàng khó có thể kiểm soát được hiệu quả sử dụng từng lần vay.
- Cho vay theo sự án đầu tư: Ngân hàng thương mại cho khách hàng vay vốn
để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án
phục vụ đời sống.
- Cho vay hợp vốn: Ngân hàng thương mại cùng với các tổ chức tín dụng
khác cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách
hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ
chức tín dụng khác…
- Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng, theo đó Ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Trả góp thường
áp dụng cho hình thức vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng
lâu bền. Ngân hàng cũng thường cho vay trả gớp đối với người tiêu dùng thông
qua hạn mức nhất định.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng thương mại cam kết
đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất
định. Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng
dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân

- Tổ hợp tác
- Doanh nghiệp tư nhân
* Nếu căn cứ vào tài sản bảo đảm
- Khoản vay có tài sản bảo đảm là loại tín dụng mà khi cho vay đòi hỏi
người đi vay phải có tài sản bảo đảm, cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba.
- Khoản vay không có tài sản bảo đảm là loại tín dụng không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy
tín của bản thân khách hàng hoặc Ngân hàng thực hiện các chính sách ưu tiên hỗ
trợ của Chính phủ để thực hiện các chính sách kinh tế của đất nước trong từng thời
kì.
1.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với khách hàng cá
nhân
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động cho vay của Ngân hàng
thương mại đối với khách hàng cá nhân
1.2.1.1. Khái niệm
Hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân là một bộ phận của tín dụng
Ngân hàng phân chia theo khách hàng.
Hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân chủ yếu để giúp tài trợ cho
việc mua ôtô, nhà ở, trang thiết bị gia đình, vật liệu xây dựng để sửa chữa, hiện đại
hóa nhà cửa hay trang trải cho các khoản viện phí, đầu tư sản xuất kinh doanh hộ
gia đình và các chi phí cá nhân khác.
1.2.1.2. Đặc điểm tín dụng đối với khách hàng cá nhân
- Cho vay đối với khách hàng cá nhân thường là các khoản vay ngắn hạn, thời
hạn vay thường là dưới 1 năm, có thể lên đến 3 năm nếu khách hàng vay để kiên cố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status