LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP LỚN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 72

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG
DOANH NGHIỆP LỚN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Lịch sử ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một loại hình tổ chức kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng đối
với nền kinh tế nói chung và các cá nhân nói riêng. Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài
chính có nhiệm vụ chủ yếu là nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế các thành phần dân cư
với trách nhiệm là hoàn trả sau một thời gian nhất định và sử dụng nguồn tiền huy động đó
để cho vay các thành phần kinh tế khác. Ngân hàng có thể được định nghĩa dựa trên chức
năng, dịch vụ hoặc vai trò mà nó thực hiện trong nền kinh tế. Theo pháp luật của Hoa Kỳ:
“bất kỳ tổ chức kinh tế nào cung cấp tài khoản tiền gửi mà theo đó khách hàng được phép
rút tiền theo yêu cầu của mình (có thể bằng séc hoặc thông qua rút tiền điện tử) và cho vay
đối với các tổ chức kinh tế khác hoặc cho vay thương mại sẽ được xem như là một ngân
hàng”. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay các yếu tố này cũng không ngừng thay đổi; ta có
thể nhận thấy rõ xu hướng hiện nay các tổ chức tài chính khác (công ty bảo hiểm, công ty
chứng khoán….) cũng đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân hàng, trong khi đó ngân
hàng cũng mở rộng phạm vi hoạt động của mình bằng cách tham gia các hoạt động kinh
doanh khác như: bất động sản, môi giới chứng khoán, hoạt động bảo hiểm, các quỹ hỗ trợ
đầu tư.
Ngân hàng cũng có thể đuợc định nghĩa dựa trên các loại hình dịch vụ mà nó cung
cấp: “Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt
là tín dụng, tiết kiệm dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với
các tổ chức kinh doanh khác trong nền kinh tế”.
Ở Việt Nam theo luật các tổ chức tín dụng đã đuợc sửa đổi và bổ sung năm 2004
thì: “Ngân hàng thuơng mại là loại hình tổ chức tín dụng đuợc thực hiện toàn bộ các hoạt
dộng của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng là một quá trình lâu dài gắn liền
với các hình thái kinh tế xã hội khác nhau của loài nguời. Tuy nhiên nó phát triển nhất gắn
liền với sự phát triển của nền kinh tế thị truờng. Sự phát triển của nền kinh tế là điều kiện
tiên quyết cho sự ra đời và phát triển của ngân hàng.
Hình thức ngân hàng đầu tiên đó là ngân hàng của các thợ vàng và người cho vay

1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng và các cơ quan chính
quyền vì vậy nó có những chức năng vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế. Ngày nay
một ngân hàng hiện đa năng hiện đại có thể bao gồm nhiều chức năng như: chức năng tín
dụng, chức năng thanh toán, chức năng tiết kiệm, chức năng môi giới…… nhưng tựu
chung lại vẫn là ba chức năng cơ bản là:
- Trung gian tài chính
- Tạo và quản lí các phuơng tiện thanh toán
- Trung gian thanh toán
Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của ngân hàng thuơng mại
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRUNG GIAN TÀI CHÍNH
TẠO PHƯƠNG TIỆN THANH TOÁN
TRUNG GIAN THANH TOÁN
1.1.2.1. Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết
kiệm thành đầu tư. Hoạt động này dựa trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi do sự tiếp xúc
của hai nhóm cá nhân hoặc tổ chức riêng biệt trong nền kinh tế:
(1) Các cá nhân tổ chức cần bổ sung về nguồn vốn do có sự thâm hụt về chi tiêu và
đầu tư,
(2) Những cá nhân và tổ chức tạm thời dư thừa về vốn, có nguồn vốn nhàn rỗi chưa
có nhu cầu sử dụng trong một khoảng thời gian,
Ngân hàng thu hút vốn nhàn rỗi bằng cách phát hành tiền gửi có thể phát séc được,
các tiền gửi tiết kiệm và các tiền gửi có kì hạn. Sau đó họ dùng số vốn này để thực hiện
cho vay thương mại, tiêu dùng hoặc cho vay thế chấp…
Nhờ có những trung gian tài chính như ngân hàng, người tiết kiệm và các nhà đầu
tư đã được tập hợp lại với nhau từ đó rút ngắn được thời gian cũng như rất nhiều chi phí
phát sinh khác . Chức năng trung gian tài chính của ngân hàng còn đuợc thể hiện ở chỗ khi
người dân có nhu cầu mua chứng khoán, mà các chứng khoán hoặc các khoản tín dụng đó

cùng quan trọng trong việc tăng quy mô vốn của ngân hàng, cũng như trong việc thực hiện
chính sách thanh toán không dùng tiền mặt. Thông qua chức năng tạo tiền của ngân hàng
thương mại, ngân hàng Trung Ương có thể điều chỉnh lượng tiền mặt cung ứng trên thị
trường nhằm đảm bảo cung và cầu tiền tệ, điều chỉnh giá cả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và công ăn việc làm.
1.1.2.3 Trung gian thanh toán
Ngân hàng là trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới. Thay mặt khách hàng ngân hàng thực hiện việc thanh toán thông qua các tài khoản
tiền gửi của khách hàng. Để thực hiện việc thanh toán một cách nhanh chóng, thuận tiện,
tiết kiệm chi phí và an toàn, ngân hàng đưa ra nhiều hình thức thanh toán như: séc, uỷ
nhiệm chi, thu hộ, các loại thẻ tín dụng…. cung cấp mạng luới thanh toán điện tử, kết nối
với các quỹ, cung cấp tiền mặt khi khách hàng có nhu cầu.
Công nghệ hiện đại ngày càng đựơc áp dụng một cách rộng rãi trong việc thanh
toán. Các buớc thanh toán được chuyên môn hoá tạo nên tính thống nhất giữa các ngân
hàng không chỉ trong cùng một hệ thống mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Qua
đó khiến cho hệ thống thanh toán của ngân hàng ngày một hoàn thiện, đáp ứng đuợc nhu
cầu của nền kinh tế.
1.1.3. Các hoạt động chính của ngân hàng thuơng mại
1.1.3.1 Họat động huy động vốn của ngân hàng thương mại.
Vốn của ngân hàng thương mại là khoản tiền mà ngân hàng tự lập hoặc huy động
đuợc. Vốn có vai trò vô cùng quan trọng chi phối các hoạt động và quyết định tới việc thực
hiện các chức năng của ngân hàng thương mại. Xuất phát từ những lí do đó mà nghiệp vụ
huy động vốn được coi là nghiệp vụ khởi đầu tạo điều kiện cho sự hoạt động, phát triển
của ngân hàng. Nguồn vốn của ngân hàng ngoài vốn tự có còn có thể huy động bằng những
cách sau:
1.1.3.1.1 Huy động vốn từ khách hàng
Huy động vốn từ phía khách hàng bao gồm các nguồn cụ thể sau đây:
Thứ nhất là từ tiền gửi của các tổ chức kinh tế bao gồm tiền gửi có kì hạn và tiền
gửi không kì hạn
Tiền gửi không kì hạn là khoản tiền mà các tổ chức kinh tế gửi vào ngân hàng để

xác định. Tuy nhiên chi phí trả lãi cho hình thức huy động này thuờng cao hơn rất nhiều
việc huy động tiền gửi tiết kiệm.
1.1.3.1.3 Huy động vốn từ hoạt động đi vay
Huy động vốn từ hoạt động đi vay bao gồm các hình thức sau:
Vay tổ chức tín dụng khác: đây là hình thức huy động thông qua thị truờng liên ngân
hàng. Nó có thể nhanh chóng đáp ứng được lượng vốn cần thiết tuy nhiên lãi suất thuờng
rất cao và diễn ra trong một thời gian ngắn.
Vay từ ngân hàng Trung Ương: thông qua việc chiết khấu các giấy tờ có giá, mục
đích của hình thức vay này là thực thi chính sách tiền tệ, đảm bảo tỉ lệ dự trữ. Do đó chi
phí huy động cao hay thấp là do chính sách của ngân hàng Trung Ương quyết định.
1.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại
Sau khi huy động đuợc lượng vốn cần thiết, vấn để tiếp theo là làm sao để sử dụng
đuợc nguồn vốn đó một cách có hiệu quả. Thông thường ngân hàng thường tập trung vào
các cách sử dụng sau:
- Hoạt động ngân quỹ
Trước hết nguồn vốn phải được sử dụng vào nghiệp vụ ngân quỹ. Đây là một hoạt
động vô cùng quan trọng của ngân hàng, nó đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên
của ngân hàng. Ngân quỹ của ngân hàng bao gồm: các quỹ tiền mặt, tiền gửi thanh toán tại
các ngân hàng thương mại khác, tiền gửi tại ngân hàng Trung Ương, các khoản tiền đang
trong quá trình thu về. Tuy đây là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng của ngân hàng nhưng
ngân hàng cần cân nhắc kỹ lượng vốn sử dụng cho hoạt động này. Bởi vì đây là hoạt động
có tính sinh lời rất thấp, nếu sử dụng quá nhiều vốn cho hoạt động này để đảm bảo khả
năng thanh toán sẽ ảnh huởng tới các hoạt động sử dụng vốn khác của ngân hàng do đó nó
sẽ ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của vốn.
- Hoạt động cho vay
Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại. Nó đem lại
phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động này chiếm khoảng 60-80% tổng số tài sản
của ngân hàng đồng thời cũng đem lại hơn 60% doanh thu cho ngân hàng. Hoạt động cho
vay vô cùng đa dạng với nhiều hình thức cho vay khác nhau. Tuy nhiên có thể chia ra làm
hai hình thức chung nhất là cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn. Ngoài ra để đáp

Doanh nghiệp lớn là một bộ phận của doanh nghiệp đuợc hình thành và phát triển
trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Khi đề cập tới doanh nghiệp lớn ta có
thể hiểu là đang đề cập tới cách phân loại dựa trên quy mô của doanh nghiệp. Nhưng các
tiêu thức để phân loại doanh nghiệp lớn ở mỗi quốc gia trên thế giới là khác nhau, có thể
đề cao tiêu thức này hoặc tiêu thức kia. Các tiêu chí quan trọng nhất để phân loại vẫn là
doanh thu, tài sản, số luợng lao động, lợi nhuận…. Ở châu Âu doanh nghiệp lớn là những
doanh nghiệp có trên 250 lao động và có tổng tài sản lớn hơn 50 triệu EURO. Ở Thái Lan
tổng vốn của doanh nghiệp phải lớn hơn 200 triệu Baht. Ở Indonexia doanh nghiệp lớn là
doanh nghiệp có số vốn trên 0.6 tỷ rubi với số nhân công khoảng trên 100 nguời. Ở Việt
Nam sự phân chia doanh nghiệp lớn cũng không có sự rõ ràng. Theo điều 3 nghị định
90/NĐ-CP của chính phủ bàn hành ngày 23/11/2001 mới có quy định doanh nghiệp nhỏ và
vừa là doanh nghiệp có số vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng, số lao động hàng năm trung
bình không quá 300 nguời. Như vậy ta có thể hiểu doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status