- Trang 1 -
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang trong xu thế hội nhập quốc tế,
cùng với sự bùng nổ của khoa học công nghệ, sự phát triển của kinh tế thì nhu
cầu vốn để nâng cao cơ sở hạ tầng là vô cùng quan trọng. Bên cạnh đó một vấn
đề cũng cấp thiết là nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn, tạo điều kiện
để họ có thể tiếp cận với những nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, cải thiện
cuộc sống. Tín dụng ngắn hạn, mà đặc biệt là cho vay đối với khách hàng cá
nhân của các Ngân hàng thương mại là một công cụ đắc lực để đáp ứng nhu cầu
đó. Nguồn tín dụng này sẽ hỗ trợ đắc lực cho các cá nhân, hộ gia đình có thể cải
thiện và nâng cao đời sống, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, giúp
cho dân giầu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Nhận thấy tầm quan trọng của tín dụng đối với khách hàng cá nhân với việc
nâng cao, cải thiện đời sống của người dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển của
kinh tế, các Ngân hàng thương mại đã và đang triển khai nhiều biện pháp để hỗ
trợ thêm nữa cho các cá nhân có nhu cầu vay vốn.
Tuy nhiên, thực tế hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân gặp nhiều
khó khăn, nổi cộm vẫn là vấn đề hiệu quả cho vay còn thấp, dư nợ tín dụng cấp
cho khách hàng cá nhân của các Ngân hàng thương mại vẫn thường chiếm tỷ lệ
không cao lắm so với yêu cầu. Điều đó nói lên rằng vốn đầu tư cho chiều sâu
chưa đáp ứng được đòi hỏi bức thiết ngày càng tăng của nền kinh tế.
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa lớn lao của vấn đề trên, với
những kiến thức đã được học tập, nghiên cứu tại trường và sau một thời gian
thực tập tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nam Am
- Hải Phòng - một Ngân hàng giữ vai trò chủ lực trong việc cấp tín dụng để các
cá nhân có thể tự doanh, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống góp phần
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SV:Phạm Thị Hiền - TCDN 47B
- Trang 2 -
thúc đẩy nền kinh tế ở nông thôn cũng nhu nền kinh tế chung của cả nước, nhận
thấy một số vấn đề còn tồn tại trong quá trình cấp tín dụng đối với khách hàng cá
nhân, nên em chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay đối với
Tuy nhiên cho đến nay hầu như chưa có một khái niệm cụ thể, thống nhất về
Ngân hàng thương mại.
Theo pháp luật nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền
gửi, cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng
việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay
thương mại sẽ được xem là một Ngân hàng.
Tại Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/5/1990 của Hội đồng Nhà nước
Việt Nam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt
động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán.
Luật tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm
1997, định nghĩa: Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được
thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SV:Phạm Thị Hiền - TCDN 47B
- Trang 4 -
tổ chức tín dụng không có định nghĩa hoạt động Ngân hàng vì khái niệm này đã
được định nghĩa trong luật Ngân hàng Nhà nước, cũng do Quốc hội khóa X
thông qua cùng ngày. Luật Ngân hàng Nhà nước định nghĩa: hoạt động Ngân
hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường
xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ
thanh toán.
Như vậy, ta có thể đưa ra một khái niệm chung về Ngân hàng thương mại
như sau: Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính, cung cấp
các dịch vụ tài chính đa dạng, với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và
cung ứng các các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, Ngân hàng còn cung cấp nhiều
dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về dịch vụ ngân hàng xã hội.
Khái niệm ngân hàng đang ngày một thay đổi vì sự pha trộn các hoạt động
truyền thống của Ngân hàng với các loại hình trung gian tài chính khác.
Trong hệ thống tài chính trung gian, các Ngân hàng thương mại là những
* Hoạt động tín dụng:
Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại là tài trợ cho khách hàng
trên cơ sở tín nhiệm ( tín dụng ). Đây là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất
cho Ngân hàng nhưng nó cũng là hoạt động chứa đựng rủi ro lớn nhất.
Tín dụng Ngân hàng thương mại được cấp cho các tổ chức, cá nhân dưới
nhiều hình thức:
- Chiết khấu thương phiếu: Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương
phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác của tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SV:Phạm Thị Hiền - TCDN 47B
- Trang 6 -
khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác của các tổ chức tín dụng
khác.
- Cho vay: Đây là hoạt động quan trọng và chiếm tỉ trọng lớn nhất trong các
hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại có
thể cho các cá nhân, tổ chức vay vốn dưới nhiều hình thức như thấu chi, cho vay
theo hạn mức hoặc vay từng lần…
- Bảo lãnh hoặc tái bảo lãnh: Bảo lãnh của Ngân hàng là cam kết của Ngân
hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho
khách hàng của Ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như
cam kết. Ngân hàng thương mại được bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, bảo
lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng
khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo
lãnh.
- Cho thuê tài sản ( thuê - mua ): Cho thuê tài sản của Ngân hàng thương
mại thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn. Cho thuê tài sản giống một
khoản cho vay thông thường ở chỗ Ngân hàng phải xuất tiền với kì vọng sẽ thu
về cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định, tuy nhiên nó khác cho vay ở chỗ tài
sản cho thuê vẫn thuộc sở hữu của Ngân hàng, Ngân hàng có thể thu hồi nếu bên
thuê không thực hiện đúng hợp đồng…
* Hoạt động thanh toán và ngân quỹ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SV:Phạm Thị Hiền - TCDN 47B
- Trang 8 -
- Vai tò trung gian: chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ các hộ gia
đình, thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần
khác để đầu tư vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác.
- Vai trò thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc
mua bán hàng hoá và dịch vụ( như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp
mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền giấy và tiền
đúc).
- Vai trò người bảo lãnh: cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng
mất khả năng thanh toán ( chẳng hạn phát hành thư tín dụng)
- Vai trò đại lý: thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ,
phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán( thường được thực hiện tại phòng uỷ
thác).
- Vai trò thực hiện chính sách: thực hiện các chính sách kinh tế của chính
phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội.
1.1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành
kèm theo Quyết định 324/1998/QĐ – NHNN1 ngày 30/09/1998 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định: “Cho vay là một hình thức của cấp
tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử
dụng vao mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có
hoàn trả cả gốc và lãi”.
Cho vay là một trong những nghiệp vụ tín dụng cơ bản của Ngân hàng
thương mại. Đó là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lại trong khoảng thời gian xác định.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SV:Phạm Thị Hiền - TCDN 47B
- Trang 9 -
Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của các Ngân hàng – để tài trợ cho
chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ. Hoạt động cho
cho khách hàng thuê.
* Nếu căn cứ vào phương thức cho vay
Căn cứ theo Điều 16, Chương II của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng
đối với khách hàng được ban hành kèm theo Quyết định 324/1998/QĐ –
NHNN1 ngày 30/09/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì
Ngân hàng thương mại có các phương thức cho vay sau:
- Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
Ngân hàng đối với các khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều
kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và
trình Ngân hàng phương án sử dụng vốn vay của mình. Đối với từng kì hạn trong
hợp đồng, Ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng vốn
vay, Ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm
hợp đồng, Ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn. Đây là
nghiệp vụ tương đối đơn giản, Ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách
biệt.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: đây là phương thức mà Ngân hàng thỏa
thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng ( có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì )
trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của
khách hàng. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SV:Phạm Thị Hiền - TCDN 47B
- Trang 11 -
mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh
doanh. Đối với Ngân hàng thì hình thức cho vay này có ưu thế là khi khách hàng
có thu nhập, Ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân
quỹ cho khách hàng, tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn
cụ thể nên Ngân hàng khó có thể kiểm soát được hiệu quả sử dụng từng lần vay.
- Cho vay theo sự án đầu tư: Ngân hàng thương mại cho khách hàng vay
vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các
dự án phục vụ đời sống.
- Cho vay hợp vốn: Ngân hàng thương mại cùng với các tổ chức tín dụng
tài sản cố định, dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi nhanh.
- Vay dài hạn: là khoản vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng. Mục đích
của loại tín dụng này tương tụ như tín dụng trung hạn, nhưng chủ yếu được sử
dụng để đáp ứng nhu cầu dài hạn, đầu tư vài những công trình có quy mô lớn,
thời hạn thu hồi vốn dài.
* Căn cứ theo khách hàng
Theo khoản 2, Điều 2 Chương I của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối
với khách hàng được ban hành kèm theo Quyết định 324/1998/QĐ – NHNN1
ngày 30/09/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định khách
hàng vay tại Ngân hàng bao gồm:
- Các pháp nhân là: Doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các
tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 94 của Bộ luật dân sự.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SV:Phạm Thị Hiền - TCDN 47B
- Trang 13 -
- Cá nhân
- Hộ gia đình
- Tổ hợp tác
- Doanh nghiệp tư nhân
* Nếu căn cứ vào tài sản bảo đảm
- Khoản vay có tài sản bảo đảm là loại tín dụng mà khi cho vay đòi hỏi
người đi vay phải có tài sản bảo đảm, cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ
ba.
- Khoản vay không có tài sản bảo đảm là loại tín dụng không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy
tín của bản thân khách hàng hoặc Ngân hàng thực hiện các chính sách ưu tiên hỗ
trợ của Chính phủ để thực hiện các chính sách kinh tế của đất nước trong từng
thời kì.
1.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với khách hàng
cá nhân
hàng khó có thể kiểm soát chặt chẽ từng khoản vay. Chính điều này cũng gây
khó khăn trong quá trình thu hồi nợ.
1.2.2. Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng bao gồm những quy định mà Ngân hàng cần phải thực
hiện trong toàn bộ quá trình cho vay, bắt đầu từ khâu Ngân hàng điều tra khách
hàng, xem xét hồ sơ, thẩm định dự án, xét duyệt cho vay, giải ngân, kiểm soát
quá trình sử dụng vốn, thu hồi nợ vay, nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp SV:Phạm Thị Hiền - TCDN 47B
- Trang 15 -
Quy trình này bảo gồm 3 bước cơ bản:
+ Kiểm tra trước khi cho vay: kiểm tra mọi thông tin khách quan, chủ
quan ban đầu.
+ Kiểm tra trong khi cho vay: Kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của đối
tượng, hồ sơ kinh tế, tín pháp lý của tài sản bảo đảm nếu có…
+ Kiểm tra sau khi cho vay: kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay của khách
hàng có phù hợp với đối tượng, mục đích xin vay và khả năng an toàn, hiệu quả
của vốn vay.
Hầu hết các khoản cho vay đối với khách hàng cá nhân được bắt đầu bằng
việc khách hàng xin vay vốn. Họ đến gặp nhân viện ngân hàng và ghi những
thông tin cần thiết vào đơn xin vay. Sau đó khách hàng phải trả lời đầy đủ các
câu hỏi của cán bộ tín dụng về lý do xin vay hay nhu cầu tín dụng xuất phát từ
đâu. Cuộc trò chuyện này rất quan trọng vì qua đó, cán bộ tín dụng có thể đánh
giá bước đầu sự trung thực của khách hàng. Nếu cán bộ tín dụng phát hiện ra sự
không trung thực trong việc giải trình mục đích xin vay thì đơn xin vay vốn của
khách hàng có nhiều khả năng không được chấp nhận. Nếu như những câu hỏi
trên không gây khó khăn cho khách hàng thì Ngân hàng sẽ đề nghị khách hàng
nộp các giấy tờ cần thiết về cá nhân người vay hoặc về tài sản đảm bảo… Sau đó
hồ sơ tín dụng được thiết lập. Sau khi hồ sơ vay vốn của khách hàng hoàn thành
thì cán bộ tín dụng có trách nhiệm xác minh thông tin, thẩm định dự án kinh
doanh (nếu là cá nhân vay tiền sản xuất kinh doanh). Khi các thông tin được xác