VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC THÚC ĐẨY
XUẤT KHẨU RAU QUẢ
I/ Xuất khẩu rau quả và các hình thức xuất khẩu rau quả ở Việt Nam hiện nay
1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các loại hàng hoá rau quả và dịch vụ
do các doanh nghiệp của Tổng công ty hoặc do các doanh nghiệp của các địa
phương trong nước sản xuất, tới khách hàng nước ngoài thông qua các đơn vị
thành viên của Tổng công ty.
Về nguyên tắc: Xuất khẩu trực tiếp có thể làm tăng thêm rui ro trong kinh
doanh, song nó lại có những ưu điểm nổi bật:
- Giảm bớt chi phí trung gian do đó tăng lợi nhuận doanh nghiệp
- Có thể liên hệ trực tiếp và đều đặn với khách hàng và thị trường, biết
được nhu cầu của người tiêu dùng và thị trường, biết được nhu cầu của người
tiêu dùng và tiến độ tiêu thụ hàng hoá của thị trường thế giới, trên cơ sở đó có thể
điều chỉnh khả năng cung ứng sản phẩm và những điều kiện bán hàng cần thiết.
2. Xuất khẩu uỷ thác
Đây là hinh thức kinh doanh, trong đó đơn vị xuất khẩu đóng vai trò là người
trung gian thay cho đơn vị sản xuất, tiến hành ký kết hợp đồng ngoại thường và
các thu tục cần thiết khác, để xuất khẩu hàng hóa do người khác sản xuất, thông
qua đó thu được một số tiền nhất định dưới hình thức phí uỷ thác xuất khẩu.
Hình thức này bao gồm các bước:
* Ký hợp đồng xuất khẩu uỷ thác với các đơn vị trong nước.
Ký hợp đồng xuất khẩu, giao hoàng và thanh toán tiền với bên nước ngoài.
* Nhận phí uỷ thác xuất khẩu từ đơn vị trong nước.
Ưu điểm của hình thức này là mức độ rủi ro thấp, đặc biệt là không cần bỏ
vốn kinh doanh, tạo được việc làm cho người lao động, đồng thời cũng thu được
một khoản lợi nhuận đáng kể trong hoạt động xuất khẩu uỷ thác. Không chịu trách
nhiệm trong việc tranh chấp và khiếu nại về chất lượng hàng hoá uỷ thác.
3. Xuất khẩu theo Nghị định thư
Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá ( thường là để trả nợ nước ngoài)
được ký kết hợp đồng theo nghị định giữa hai chính phủ.
thuận trong hợp đồng thương mại.
II/ Các chính sách của Nhà nước ảnh hưởng đến xuất khẩu rau quả
Kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường, đòi hỏi các doanh nghiệp phải
thường xuyên nắm bắt được các yếu tố của môi trường kinh doanh, xu hướng
vận động và tác động của nó đến toan bộ quá trình hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất khẩu rau quả. Doanh nghiệp chịu sụ chi phối của
các nhân tố bên trong (cơ chế chính sách của Nhà nước, như là chính sách
khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chính sách đầu tư, thuế xuất nhập
khẩu chung và riêng của ngành hàng…), lẫn nhân tố bên ngoài (Hiệp định thương
mại, luật thương mại quốc tế, hàng rào thuế quan…). Những nhân tố ấy thường
xuyên biến đổi, cũng làm cho quá trình kinh doanh xuất khẩu rau quả ngày càng
khó khăn, phức tạp hơn. Để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, đòi hỏi các
doanh nghiệp phải nhạy cảm, nắm bắt và phân tích ảnh hưởng của từng nhân tố
tới hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp trong từng thời
kỳ.
- Môi trường quốc tế: Tình hình kinh tế-xã hội ở nước ta như chính sách XNK, sự
biến đổi cung cầu, tình hình lạm phát, suy thoái kinh tế hay tăng trưởng…. đều
ảnh hưởng đến xuất khẩu trong nước.
- Môi trường kinh tế: Cơ chế chính sách của Nhà nước như Thuế, hỗ trợ vốn,
khuyến khích xuất khẩu, lãi suất, tỷ giá hối đoái…
- Môi trường khoa học công nghệ: Các tiến bộ về sinh học ứng dụng vào trồng
trót, bảo vệ thực vất, công nghệ xử lý sau thu hoạch; các tiến bộ của các ngành
khác như công nghệ thông tin, điện lực, giao thông vận tải….
- Môi trường chính trị pháp luật: Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật đất
đai, Luật đầu tư trong và ngoài nước……
- Môi trường địa lý tự nhiện: Đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng…
III/ Kinh nghiệm của một số nước thành công trong lĩnh vực xuất khẩu rau
quả
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước thành công trong lĩnh vực xuất
khẩu rau quả như Malaysia, Inđônêsia, Thái Lan… cho thấy chính phủ rất quan
Các dự án nông nghiệp đã được chấp thuận, nghĩa là những dự án đã
được Bộ Tài chính thông qua, chi phí cơ bản ban đầu cũng được khấu trừ trong
trường hợp: khai hoang, trồng mới, xây dựng đường xá, cầu cống ở nông thôn,
xây dựng công trình thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu. Các dự án này còn có quyền được
hưởng thuế đặc biệt. Chính phủ cũng quy định đối với từng loại cây, khoảng thời
gian và diện tích tối thiểu được hưởng.
Để thúc đẩy xuất khẩu, Chính phủ cũng có những khuyến khích trợ giúp
xuất khẩu, trợ giúp phí tổn khi xúc tiến việc xuất khẩu, trợ giúp các nhà xuất khẩu
thâm nhập vào các thị trường mới, trợ giúp trong việc xây dựng các kho chứa,
bảo quản rau quả,
Đối với lĩnh vực chế biến rau quả trồng trọt và chế biến cây ăn quả trên quy
mô lớn, các công ty mới ra đời được hưởng 5 năm giảm thuế. Vấn đề này được
Bộ Thương mại và công nghiệp họp bàn và xác định trên cơ sở các tiêu chuẩn về giá
trị của tài sản chung ( bao gồm đất đai), số công nhân cố định trong thời gian dài và
tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - kỹ thuật của đất nước.
Các nhà xuất khẩu các sản phẩm trái cây được chế biến (như các nhà xuất
khẩu, các công ty chế biến, các công ty thương mại) được hưởng chính sách
khuyến khích như trợ cấp xuất khẩu, cấp tín dụng xuất khẩu, chuẩn bị cho các
nhà xuất khẩu các khoản tín dụng với lãi suất có thể giúp cho họ cạnh tranh hữu
hiệu hơn trên thị trường quốc tế. Chính phủ cũng miễn thuế nhập khẩu máy móc
thiết bị phục vụ cho công nghiệp chế biến xuất khẩu.
2. Kinh nghiệm phát triển ngành đồ hộp của Đài Loan
Trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá ở Đài Loan, nông nghiệp vẫn còn
chiếm một tỷ trọng đáng kể trong thu nhập quốc dân. Cung với nông nghiệp công
nghiệp chế biến thực phẩm có vai trò quan trọng trong xuất khẩu thu ngoại tệ, một
hoạt động cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá. Do vậy, Chính phủ có kế
hoạch phát triển ngành thực phẩm dự trữ và đóng hộp và có những tác động thúc
đẩy lĩnh vực này phát triển.
Vào khoảng cuối nhưng năm 50, xuất khẩu chủ yếu của ngành chế biến
thực phẩm Đài Loan là dứa hộp, với trị giá xuất khẩu chiếm tới 90% toàn ngành.
Chính phủ cũng như các công ty kinh doanh dứa cũng rất chú trọng đến
công tác nghiên cứu khoa học về đồ hộp thực phẩm, hoa quả và đồ dự trữ. Các
kết quả nghiên cứu được phổ biến cho các nhà sản xuất, công chúng qua các tạp
chí cũng như các cuộc trình diễn thực nghiệm.
Để quản lý chất lượng dứa hộp, chính phủ ban hành lệnh nâng tiêu chuẩn
của nhà máy đồ hộp dứa. Theo đó, tất cả các nhà máy đồ hộp phải thoả mãn một
hệ tiêu chuẩn quy định mới được tham gia xuất khẩu.
Kinh nghiệm thành công trong ngành đồ hộp dứa cho thấy chính phủ có vai
trò rất quan trọng trong phát triển công nghiệp. Bên cạnh việc có tính chiến lược
giữa những nhà sản xuất, quyền lực của Chính phủ giúp gây dựng nên những
luật lệ cơ bản, những tiêu chuẩn kỹ thuật, những yêu cầu cần thiết về xuất khẩu
và nhiều biện pháp khác giúp các nhà sản xuất đi đúng hướng. Sự hỗ trợ của
chính phủ còn thể hiện bởi đầu tư của chính phủ cho những nghiên cứu cơ bản
giúp gây dựng một nền tảng cho ưu thế cạnh tranh lâu dài.
3. Kinh nghiệm thành công về xuất khẩu rau quả của Thái Lan
Thái Lan là nước có tiềm năng sản xuất rau quả tương đương với nước ta,
song kim ngach xuất khẩu rau quả của Thái Lan vượt xa so với nước ta. Kim
ngạch xuất khẩu của ta chỉ bằng 23,6% kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dứa của
Thái Lan. Một trong những nguyên nhân dẫn tới thành công trong lĩnh vực xuất
khẩu rau quả của Thái Lan là : Ngoài yếu tố thuận lợi về thị trường tiêu thụ (thị
trường xuất khẩu rau quả của Thái Lan là: EU, Hà Lan, Tây Đức, Đông Âu), Thái
Lan rất nỗ lực trong việc phát triển ngành công nghiệp rau quả. Thái Lan chú trọng
đầu tư trang thiết bị dây chuyền công nghệ chế biến tiên tiến, đảm bảo điều kiện
vận tải kỹ thuật đóng gói hiện đại và đặc biệt thỏa mãn được các yêu cầu chất
lượng theo tiêu chuẩn kỹ thuật của EU, Mỹ, Nhật đặt ra ở các thị trường phát
triển.
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ VÀ HỆ THỐNG CHÍNH
SÁCH TÁC ĐỘNG TỚI XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM
I/ Thực trạng sản xuất, chế biến, xuất khẩu rau quả của Việt Nam và cơ
Hình thức thứ
hai là cây ăn quả được trồng tập trung thành vùng, nhằm mục đích sản xuất hàng
hóa. Hiện nay cả nước có 26 vùng trồng cây ăn quả, mỗi vùng quả có cơ cấu diện
tích, sản lượng, loại quả khác nhau.
Quy mô vườn quả của các nông hộ trong vườn quả tập trung phụ thuộc vào
đặc điểm đất đai từng vùng. Vùng đồng bằng sông Hồng khoảng 0,05 ha/hộ; miền
Nam, trung du miền núi thường lớn hơn, khoảng 0,2-0,3 ha/hộ. Dựa vào đặc điểm
sinh thái của từng loại quả và tính thích ứng trên các vùng sinh thái khác nhau, có
loại quả được trồng trên khắp cả nước ( chuối, dứa, mít, đu đủ, na, táo, hồng
xiêm…) Có loại quả đặc sản chỉ có thể trồng được ở một số địa phương mới cho
năng suất, chất lượng và sản lượng cao như vải, bưởi, nho, thanh long…
Đến nay, cả nước đã hình thành các vùng chuyên sản xuất cây ăn quả như:
- Chuối: Vùng đồng bằng sông Hồng, vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng
phù sa sông Thao (Vĩnh Phú).
-Cam, quýt, bưởi: Vùng sông Tiền, sông Hậu; vùng Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn
(Nghệ An); vùng Hàm Yên - Bắc Quang (Bắc Thái); vùng Đoan Hùng (Vĩnh Phú).
-Dứa: Minh Hải, Cần Thơ, Kiên Giang, Long An và Tây sông Hậu, Đồng
Giao ( Ninh Bình).
- Xoài: Cam Ranh (Khánh Hoà), Tiền Giang, Hậu Giang, Cửu Long.
- Vải: Thanh Hà (Hải Hưng), Đông Triều (Quảng Ninh), Luc Ngạn ( Hà Bắc).
- Chôm chôm: Đồng Nai, ven sông Tiền, sông Hậu.
- Nho, thanh long: Tiền Giang, Long An, Phan Thiết, Phan Rang.
Năng suất bình quân các loại quả của cả nước là 15,6% tấn/ha, trong đó
vùng đồng bằng sông Hồng và vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng có năng
suất quả cao. Năng suất quả bình quân của đồng bằng sông Hồng là 20,6 tấn/ha,
vùng đồng bằng sông Cửu Long là 23,7 tấn/ha.
Năng suất cây ăn quả phụ thuộc cơ cấu mỗi vườn và trình độ thâm canh
của từng vườn quả tập trung, của từng vùng nông nghiệp. Nhìn chung, do trình độ
thâm canh (bón phân, tưới tiêu) còn thấp, mặt khác chúng ta chưa lựa chọn được
những giống cây cho năng suất cao hoặc nhập giống cây ngoại. Do vậy, năng
Bảng 1: Tình hình sản xuất chuối phân theo vùng giai đoạn 2000-2004
Đơn vị: - Sản lượng: Tấn
- Diện tích: ha
Vïng DiÖn tÝch S¶n lîng
2000 2001 2002 2003 2004 2000 2001 2002 2003 2004
C¶ níc 6677
3
9590
2
9242
7
8926
7
9457
7
1061160 1263042 1316119 1315189 1242593
- MiÒn B¾c
+ §B s«ng
Hång
+ §«ng B¾c
+ T©y B¾c
+ B¾c Trung
Bé
2160
0
6192
3193
1.265
1095
0
401123
269731
32135
8743
90524
436248
208353
156630
11905
59360
481651
259897
123248
30002
68504
503841
264964
144891
31142
62844
543640
289800
159574
20685
73581
- MiÒn Nam
+ Duyªn h¶i
m. Trung
+ T©y
Nguyªn
1039
1
2808
2
5332
4
9469
2484
1008
9
1282
660027
53705
11090
336371
258861
826794
63923
23173
335738
403960
834468
112793
21724
287383
412568
811348
118371
21360
269364
+ B¾c Trung Bé
7399
1109
1723
148
4419
6525
1029
1442
119
3935
6415
710
1426
124
4155
7515
776
1417
149
5173
8429
1286
1762
201
5180
43017
16095
6771
688
1583
130
234
1700
8
1971
4
1438
160
239
1787
7
1937
4
1468
181
148
1757
7
2128
7
1704
241
131
19211
2483
4
3504
240
129
tích trồng dứa của ca nước. Các tỉnh trồng dứa nhiều nhất là Kiên Giang (14.491
ha); Tiền Giang (13.450 ha); Bạc Liêu (7,431 ha); Cần Thơ ( 4.373 ha).
Về sản lượng dứa cả nước có tăng lên. Năm 2000, sản lượng dứa đạt
184.753 tấn. Đến năm 2004, sản lượng dứa có tăng lên 262.838 tấn, tăng 62,2%
so với năm 2000.
3. Cây nhãn, vải, chôm chôm
Bảng 3: Tình hình sản xuất nhãn, vải, chôm phân theo vùng
giai đoạn 2000 - 2004
Đơn vị: - Sản lượng: Tấn
- Diện tích: ha
Vïng DiÖn tÝch S¶n lîng
2000 2001 2002 2003 2004 2000 2001 2002 2003
2004
C¶ níc 3787
4
6202
5
9063
3
113679 131244 223273 275949 405225 428618
545408
1. §B s«ng Hång 5132 1483
0
1553
2
14872 15674 35328 57158 45863 40648
80999
2. §«ng B¾c 6965 9664 2105
8
30450 40092 14113 19382 29026 24945
và vùng Đồng bằng sông Cửu Long (50.697 ha), chiếm 70% diện tích gieo trồng
của cả nước. Các tỉnh trồng nhãn, vải, chôm chôm nhiều nhất là Bắc Giang
(23.338 ha), Thái Nguyên ( 4.543 ha), Quảng Ninh (3.505 ha) thuộc Đông Bắc Bộ;
Bến tre (14.028 ha), Tiền Giang (11.694 ha) thuộc đồng bằng sông Cửu Long.
Sản lượng nhãn, vải, chôm chôm của cả nước cũng tăng liên tục qua các
năm. Năm 2005, sản lượng nhãn, vải, chôm chôm đạt 545.408 tấn, tăng 27% so
với năm 2004 và tăng gấp 2,4 lần so với năm 2000.
1.2 Tình hình sản xuất rau
Trong những năm gần đây, sản xuất rau quả của cả nước có xu hướng gia
tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Mức độ tăng bình quân hàng năm
về diện tích là 4,6%, về năng suất là 0,7% và về sản lượng là 5,1%. Năng suất rau
bình quân cả nước tăng chậm khoảng 11,8-12,6 tấn/ha. Tuy nhiên, năng suất
nhiều loại rau quả như bắp cải, dưa chuột, cà chua…. của các vùng truyền thống
cao hơn. Ví dụ năng suất bắp cải 40-60 tấn/ha, cà chua 20-40 tấn/ha. Về sản
lượng có gia tăng, do diện tích rau những năm gần đây tăng nhanh. Năm 2005,
diện tích rau cả nước ước đạt 586,5 ngàn ha, sản lượng ước đạt 7.756,6 ngàn
tấn.
Bảng 4: Diện tích, sản lượng rau cả nước giai đoạn 1996-2005
Năm Diện tích (1000 ha) Sản lượng (1000 tấn)
1996 331,4 4186,0
1997 359.4 4706,9
1998 377,0 4969,9
1999 411,3 5236,6
2000 445,5 5756,5
2001 485,8 5948,9
2003 514,5 6256,8
2004 545,6 6736,7
2005 (ước) 586,5 6919,9
Nguồn: Số liệu của Vụ Nông Nghiệp, Tổng cục thống kê
Long
66,5 69,8 73,5 80,3 98,1 949,7 958,3 964,5 1105,2 1326,0
Nguồn số: Số liệu của Vụ Nông nghiệp, Tổng cục thống kê
2. Chế biến và bảo quản rau quả
2.1 Hệ thống bảo quản rau quả
Phần lớn rau quả được sử dụng dưới dạng tươi, trong khi đặc tính của sản
phẩm rau quả là thu hoạch theo mùa vụ, thời gian thu hoạch ngắn, khả năng vận
chuyển và bảo quản khó khăn. Vì vậy, công nghệ bảo quản rau quả tuơi là hết
sức quan trọng. Nhưng đến nay kỹ thuật bảo quản rau quả tươi mới chỉ dừng ở
mức sử dụng kinh nghiệm cổ truyền, ít vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
mới,do vậy chưa kéo dài được thời gian tiêu thụ của từng loại rau quả. Do công
tác bảo quản không tốt nên chi phí cho một đơn vị sản phẩm rau quả xuất khẩu
thường vượt định mức cho phép. Tỷ lệ nguyên liệu rau quả sau quá trình bảo
quản hư hỏng rất lớn. Chỉ tính riêng các nhà máy độ hộp ở phía Bắc, trong số
hàng chục ngàn tấn nguyên liệu đưa vào chế biến, lượng nguyên liệu thối hỏng,
do bảo quản và vận chuyển lên tới hàng chục phần trăm.
Kỹ thuật bảo quản mới thực hiện ở mức đóng gói bao bì và lưu giữ tại cảng
bằng kho mát chuyên dùng. Tuy vậy, khâu đóng gói và bao bì vẫn chưa đạt yêu
cầu, quy cách, mẫu mã còn xấu. Những hạn chế trong công tác bảo quản rau quả
là một trong những yếu tố cản trở hoạt động xuất khẩu rau quả phát triển.
2.2 Hệ thống chế biến rau quả:
Công nghiệp chế biến rau quả ở Việt Nam chủ yếu để xuất khẩu. Hiện nay
cả nước có hàng chục nhà máy chế biến rau quả xuất khẩu, trong đó có 12 nhà
máy do Tổng công ty rau quả Việt Nam quản lý với tổng công suất thiết kế 70
ngàn tấn/năm. Ngoài ra có 52 đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh xuất khẩu tại
các tỉnh, thành phố.
Hầu hết máy móc, thiết bị của nhà máy chế biến rau quả đều nhập từ các
nước XHCN (cũ) như Nga, CHDC Đức, Ba Lan, Hungary, đã sử dụng trên 30
năm, máy móc thiết bị và công nghệ đã quá cũ kỹ, lạc hậu do vậy sản phẩm
không đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Thiết bị bảo quản