LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
LỜI NÓI ĐẦU
Bắt đầu từ năm 1991, là thời điểm đánh dấu sự ra đời của khu công
nghiệp đầu tiên ở nước ta, khi Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (nay là
Bộ kế hoạch và đầu tư) được Thủ tướng chính phủ uỷ nhiệm cấp giấy phép
thành lập khu chế xuất Tân Thuận theo giấy phép đầu tư số 245/GP với quy
mô là 300 ha. Đến nay sau 15 năm phát triển, ở Việt Nam đã có 130 khu
công nghiệp đã có quyết định được thành lập và đi vào hoạt động hoặc đang
trong qua trình triển khai giải phóng mặt bằng xây dựng hạ tầng được phân
bố ở 45 tỉnh trên cả nước.
Sự ra đời của các khu công nghiệp là một yếu tố rất quan trọng giúp
chúng ta đưa đất nước đi lên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Học
tập kinh nghiệm của các nước đi trước Việt Nam đã đẩy mạnh phát triển các
khu công nghiệp như là một chìa khoá giúp thu hút đầu tư nước ngoài. Bên
cạnh đó, khu công nghiệp đã tạo ra những tác động tích cực đối với quá trình
phát triển của đất nước: tiếp nhận công nghệ tiên tiến từ bên ngoài, đổi mới
cơ chế quản lí theo hướng tích cực, tạo việc làm cho người lao động…
Trước những vai trò to lớn mà KCN đem lại cho tiến trình CNH-HĐH,
trong những năm gần đây Nhà nước ta rất chú trọng đến hoạt động phát triển
các KCN, trong đó đặc biệt chú ý đến việc thu hút đầu tư vào KCN nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động và đóng góp của KCN đối với đất nước. Để
tăng cường khả năng thu hút đầu tư vào KCN, Nhà nước đã có nhiều biện
pháp, chính sách và hoạt động để thể hiện sự quan tâm của mình như: Ban
hành các văn bản pháp luật hướng dẫn, khuyến khích hoạt động đầu tư vào
KCN (Quy hoạch phát triển KCN, Luật đầu tư nước ngoài liên tục được sửa
đổi cho phù hợp, Luật khuyến khích đầu tư trong nước), hay ban hành các
chính sách, trực tiếp hỗ trợ đối với các hoạt động đầu tư vào KCN… Những
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
tác động này từ phía Nhà nước bước đầu đã đem lại những hiệu quả nhất
định: Vốn đầu tư nước ngoài vào KCN tăng dần qua các năm, vốn trong
phát triển các KCN.
Chương II: Thực trạng phát triển KCN và vai trò của Nhà nước trong việc
phát triển các KCN thời gian vừa qua
Chương II: Phương hướng và giải pháp tăng cường vai trò của Nhà nước
trong việc phát triển các KCN giai đoạn 2006-2010.
3
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
4
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
CHƯƠNG I
LÍ LUẬN CHUNG VỀ KCN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
I/LÍ LUẬN CHUNG VỀ KCN
1/Khái niệm chung về KCN
1.1/Khái niệm KCN ở Việt Nam
Khu công nghiệp đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản
phát triển vào những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Trong thời gian
đầu xuất hiện, các KCN được xem như một mô hình quy hoạch công nghiệp,
tuy nhiên sau đó do những lợi ích thiết thực mà mô hình này đem lại, các
KCN đã được xem như một công cụ để phát triển kinh tế. Đến nay, lợi ích
của việc phát triển các KCN đã được nhiều nước trên thế giới thừa nhận và
cùng với quá trình tồn tại, phát triển các KCN đã xuất hiện ngày càng nhiều
dưới những hình thức khác nhau. Khái niệm về KCN cũng được bàn cãi
trong một thời gian dài, đến nay vẫn chưa đi đến thống nhất.
Trong thời gian gần đây, KCN đang được hình thành và phát triển
mạnh mẽ ở nước ta. Khái niệm về KCN đã được Nhà nước ta nêu rõ trong
Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ban hành kèm
theo Nghị định 36-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ. Trong Quy chế này đã
đưa ra các khái niệm về KCN, KCX, KCNC như sau:
KCN là “khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất
Như đã được trình bày trong phần trên, hiện nay trên thế giới có nhiều
cách hiểu khác nhau về KCN và vẫn chưa đưa đến một khái niệm thống nhất
về KCN.
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
Trước tiên, đối với KCX, đây là một khu vực đặc biệt chuyên sản xuất
hàng xuất khẩu, đứng ngoài chế độ mậu dịch và thuế quan của một nước,
được thành lập với những điều kiện, yếu tố thuận lợi về pháp lí, quản lí và
cơ sở hạ tầng trên một phạm vi đã được xác định nhằm mục đích chủ yếu để
thu hút đầu tư của các nước phát triển đặc biệt từ các công ty xuyên quốc
gia. KCX, ngày nay có các định nghĩa sau:
- Định nghĩa của Hiệp hội các KCX thế giới (WEPZA)
Theo Điều lệ hoạt động của Hiệp hội các KCX thế giới (WEPZA),
“KCX bao gồm tất cả các khu vực được chính phủ các nước cho phép như
cảng tự do, khu mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc bất kì khu vực ngoại
thương hoặc khu vực khác được WEPZA công nhận”. Định nghĩa này về cơ
bản đã đồng nhất KCX với khu vực được miễn thuế.
- Định nghĩa của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO):
KCX được hiểu là “khu vực được giới hạn về mặt hành chính và địa lí,
trong đó cách doanh nghiệp được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi cho phép
tự do nhập khẩu các trang thiết bị và sản phẩm nhằm mục đích phục vụ cho
hoạt động sản xuất sản phẩm xuất khẩu”. Khác với định nghĩa thứ nhất, với
định nghĩa này có thể xác định được hoạt động chính trong KCX là sản xuất
công nghiệp.
Như vậy, cách hiểu của Việt Nam về KCX tương đồng với cách hiểu
của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc.
KCX được thành lập với mục tiêu chính nhằm để thu hút vốn từ các nhà
đầu tư nước ngoài qua việc tạo ra các chính sách ưu đãi đặc biệt cho các nhà
đầu tư hoạt động.Tuy nhiên, khi hoạt động trong KCX, một bất lợi rất lớn
đối với các nhà đầu tư đó là sản phẩm được làm ra yêu cầu phải xuất khẩu
dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở…”.
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
Khác với cách hiểu trên, ở đây trong KCN có hoạt động sinh sống của dân
cư. Về thực chất đây là mô hình khu hành chính – kinh tế đặc biệt (Đặc khu
kinh tế, Khu kinh tế mở…).
Bên cạnh hai loại hình KCN và KCX còn có mô hình KCNC. Ở một số
nước khái niệm Khu công nghiệp nói chung chỉ bao gồm KCN và KCX, một
số nước khác khái niệm Khu công nghiệp nói chung được hiểu bao gồm
KCN, KCX và KCNC. Ở Việt Nam khái niệm Khu công nghiệp nói chung
bao gồm cả KCNC. Có nước còn gọi KCNC là “thành phố khoa học”, “công
viên khoa học”. KCNC thường được xây dựng trên cơ sở hạt nhân là các
viện nghiên cứu khoa học, trường đại học lớn, các cơ sở sản xuất ứng dụng
các kĩ thuật cao… Mục tiêu nhằm phát triển công nghiệp kĩ thuật cao, thu
hút công nghệ cao của nước ngoài, nâng cao năng lực nội sinh của các ngành
công nghệ cao ở trong nước. KCNC yêu cầu cần phải có một hệ thống kết
cấu hạ tầng tương đối hiện đại với những tiêu chuẩn hết sức khắt khe (không
bị mất điện, mật độ xây dựng thấp thường dưới 25%, liên hệ chặt chẽ với
các trường Đại học và các cơ sở nghiên cứu…).
Tóm lại, KCN nói chung có thể hiểu theo nhiểu cách khác nhau tuỳ
theo mục đích phát triển KCN của các nước trên thế giới. Tuy vậy, trong đề
tài này, tác giả chỉ nghiên cứu về KCN trong giới hạn phạm vi lãnh thổ Việt
Nam. Những số liệu dẫn chứng thực trạng phát triển của KCN và các văn
bản pháp quy có liên quan đến KCN đều dựa trên cơ sở các khái niệm hiện
hành về KCN được nêu ra trong Quy chế KCN, KCX và KCNC. Do đó tác
giả thống nhất sử dụng các khái niệm về KCN nói chung trong quy chế này.
2/ Những đặc điểm của KCN liên quan đến vai trò của Nhà nước
KCN xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng cuối thế kỉ 19, xuất phát từ
nước Anh. Sau đó lần lượt xuất hiện ở các nước Tây Âu như Italia, Pháp,
Thuỵ Điển, Hà Lan và các nước Bắc Mĩ như Hoa Kì, Canada. Sau chiến
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
tâm, ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp này phát triển. Việc
ban hành các chính sách thuộc về vai trò của Nhà nước. Điều này đòi hỏi
Nhà nước vẫn phải có những chính sách thích hợp nhằm phát huy ưu thế của
các KCN.
Thứ tư: KCN được xây dựng với một kết cấu hạ tầng tương đối hiện đại
nhằm phát huy khả năng liên kết giữa các xí nghiệp trong KCN với nhau,
đồng thời giúp giảm chi phí sản xuất do sử dụng chung kết cấu hạ tầng. Việc
xây dựng kết cấu hạ tầng là tương đối tốn kém, thời gian thu hồi vốn lại khá
lâu, do đó cần phải có sự tham gia của Nhà nước đối với việc xây dựng cơ
sở hạ tầng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua các thành phần kinh tế khác.
Thứ năm: KCN có Ban quản lí chung thống nhất, thực hiện quy chế
quản lí thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi và hiệu suất tối đa cho các xí
nghiệp công nghiệp và các doanh nghiệp khác phát triển.
Thứ sáu: Trong KCN, Nhà nước chỉ quy định những ngành và doanh
nghiệp loại nào được khuyến khích phát triển và loại nào không được đặt
trong KCN do yêu cầu bảo vệ môi trường và quốc phòng an ninh. Do đó cần
phải có công tác kiểm tra, thanh tra đối với các KCN.
3/ Tác động của KCN đối với nền kinh tế đất nước
3.1/ Tác động tích cực
3.1.1/ Tác động mạnh đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Ở Việt Nam, trong tiến trình CNH-HĐH, lí luận và thực tiễn cho thấy
nhân tố hàng đầu nếu không nói là quan trọng nhất đối với CNH-HĐH đất
nước đó là phải có vốn lớn. Tuy nhiên, sự khan hiếm nguồn vốn đang là vấn
đề mà Việt Nam cũng như các nước đang phát triển mắc phải. Do đó muốn
cho CNH-HĐH diễn ra với tốc độ nhanh, cần phải có biện pháp thu hút được
nguồn vốn nhiều nhất. Với tính chất là khu vực kinh tế đặc biệt, hoạt động
theo một quy chế riêng trong một môi trường đầu tư chung của cả nước,
11
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
đất nước
Ngày nay, công nghệ có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế đất nước. Đối với Việt Nam, trong tiến trình CNH-HĐH, việc
phát triển khoa học-công nghệ có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Tuy
nhiên, hiện nay trình độ công nghệ của nước ta còn rất thấp so với thế giới.
Chúng ta lạc hậu từ 3-4 thế hệ (hay từ 50-100 năm về thời gian) so với các
nước công nghiệp trên thế giới. So với các nước trong khu vực ASEAN thiết
bị của Việt Nam cũng lạc hậu khoảng 20-30 năm. Với hiện trạng như vậy thì
quá trình CNH-HĐH của nước ta là rất khó thực hiện.
Chúng ta biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự
nghiên cứu phát minh, chế tạo ra công nghệ và chuyển giao công nghệ từ
nước ngoài. Để tận dụng lợi thế của nước đi sau cần thực hiện việc chuyển
giao công nghệ tiên tiến hơn từ nước ngoài vào Việt Nam. Qua việc phát
triển các KCN, cùng với dòng vốn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư nước ngoài
còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến,
hiện đại. Động lực khiến cho các chủ đầu tư nước ngoài đem công nghệ tiên
tiến vào nước ta, là do khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong các
KCN cũng như bất kì một nơi nào khác, điều mà chủ đầu tư rất quan tâm đó
là sản phẩm họ làm ra có chiếm lĩnh được thị trường trong nước cũng như
thị trường thế giới hay không. Muốn vậy, một trong những yếu tố rất quan
trọng tạo nên sức cạnh tranh cho các sản phẩm đó là yếu tố công nghệ, đây
là các yếu tố mà các nước phát triển rất sẵn có.
Công nghệ theo cách hiểu hiện nay, không chỉ là các trang thiết bị máy
móc, khí cụ, nhà xưởng (phần cứng). Công nghệ còn là các “phần mềm” bao
gồm: kĩ năng tay nghề, kinh nghiệm của người lao động, trình độ quản lí của
13
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
cán bộ… Lao động của Việt Nam khi làm việc trong các KCN, với những
dây chuyền công nghệ tiên tiến, đòi hỏi cần phải có đủ trình độ để điều hành
cầu Nhà nước cần phải đảm bảo các yếu tố cần thiết cho đời sống của những
người lao động: giao thông, điện nước, nhà ở, trường học…Đây là những
khoản chi phí khá lớn mà Nhà nước cần phải thực hiện.
- Phát triển các KCN, về lí thuyết sẽ tạo điều kiện cho việc bảo vệ môi
trường tốt hơn do tập trung các doanh nghiệp sản xuất trên một địa bàn hẹp,
việc kiểm soát môi trường sẽ được thực hiện dễ dàng và tốn kém ít chi phí
hơn. Tuy nhiên, đấy là trong trường hợp công tác quản lí của Nhà nước được
thực hiện tốt cũng như khả năng xử lí chất thải trong các KCN được bảo
đảm. Trong trường hợp ngược lại, do nhiều doanh nghiệp tư nhân trong
nước và nước ngoài, vì mục tiêu lợi nhuận, lợi dụng sự chưa đồng bộ hoặc
chưa đầy đủ của pháp luật đã không chú ý đến vấn đề xử lí chất thải gây ô
nhiễm môi trường. Một khi vấn đề chất thải không được chú ý trong các
KCN, hậu quả gây ra là rất nghiêm trọng do có nhiều xí nghiệp cùng hoạt
động trong một phạm vi hẹp, lượng chất thải tập trung lớn khiến cho ảnh
hưởng của nó càng lớn.
Như vậy, bên cạnh những mặt tích cực mà KCN tạo ra, việc phát triển
các KCN còn gây ra nhiều tác động tiêu cực, gây ra nhiều vấn đề xã hội và
môi trường bức xúc cấn phải giải quyết. Do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có
sự quản lí của Nhà nước trong việc phát triển các KCN nhằm phát huy
những mặt tích cực đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực mà các KCN gây
ra. Những tác động tích cực mà các KCN đem lại sẽ tạo động lực để Nhà
nước tăng cường vai trò của mình. Những hậu quả tiêu cực đòi hỏi Nhà nước
15
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
cần phải có những biện pháp thích hợp, giải quyết bài toán pháp triển các
KCN một cách hợp lí, đảm bảo sự hài hoà trong quá trình phát triển nền kinh
tế đất nước.
II/ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP
1/ Cơ sở xác định vai trò của Nhà nước trong việc phát triển các KCN
- Quy định và hướng dẫn việc hình thành, xây dựng, phát triển và
quản lí hoạt động của KCN.
- Cấp, điều chỉnh, thu hồi các loại giấy phép và thực hiện các thủ tục
hành chính Nhà nước có liên quan.
- Tổ chức bộ máy, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ.
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt động của KCN và giải quyết
các vấn đề phát sinh.
2/ Vai trò của Nhà nước trong việc phát triển các KCN
Trên cơ sở các vấn đề lí luận đã được phân tích ở phần trên, cùng với
một số văn bản pháp lí quy định hoạt động của Nhà nước đối với việc phát
triển các KCN. Theo ý kiến của tác giả, đối với hoạt động phát triển KCN,
Nhà nước đóng góp các vai trò chủ yếu sau đây:
2.1/ Định hướng phát triển KCN thông qua việc xây dựng chiến lược,
quy hoạch phát triển KCN
Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia; chiến lược
phát triển vùng, lãnh thổ; chiến lược phát triển công nghiệp, Nhà nước xây
dựng chiến lược phát triển KCN.
Từ chiến lược phát triển KCN, Nhà nước cần phải quy hoạch phát triển
các KCN nhằm thực hiện các chiến lược đã định. Công tác quy hoạch tổng
thể các KCN giữ một vai trò rất quan trọng. Quy hoạch các KCN có tác
17
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
dụng hạn chế sự chồng chéo, triệt tiêu lẫn nhau trong hoạt động đầu tư, xây
dựng, phát triển các KCN; đảm bảo phương hướng phát triển và cơ cấu kinh
tế theo đúng đường lối của Đảng; tạo nên sự bổ sung, tác động tích cực giữa
các KCN; đảm bảo sự hài hoà, đồng bộ giữa các công trình kết cấu hạ tầng
bên trong và ngoài hàng rào KCN; bảo vệ môi trường…
Việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống KCN ở nước ta
hiện nay do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, cùng với sự phối hợp với các bộ,
ngành khác như Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng và sự tham gia của của Uỷ
Để đảm bảo cho Nhà nước thực hiện tốt vai trò này, yêu cầu đặt ra đó là
trong quá trình soạn lập chính sách cần phải có sự thống nhất, đồng bộ giữa
các chính sách, việc xây dựng các chính sách cần phải xuất phát từ lợi ích
của nước chủ nhà và lợi ích lâu dài của các chủ đầu tư, các biện pháp ưu đãi
cần phải thể hiện tính cạnh tranh cao đối với các khu vực bên ngoài khu vực
KCN. Trong quá trình thực hiện, cần phải có sự thống nhất từ TW đến địa
phương, đảm bảo sự chấp hành nghiêm túc của các chủ thể có liên quan.
2.3/ Thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KCN
Khi lựa chọn địa điểm đầu tư thực hiện dự án, điều mà các nhà đầu tư
rất quan tâm đó là cơ sở hạ tầng kĩ thuật và xã hội của khu vực vì nó có liên
quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh sau này. Việc xây dựng cơ sở
hạ tầng KCN đòi hỏi một nguồn vốn đầu tư rất lớn trong khi khả năng thu
hồi vốn lại cần nhiều thời gian. Do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có sự đóng
góp của nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
Công trình hạ tầng kĩ thuật bao gồm các công trình bên trong và bên
ngoài hàng rào KCN. Đối với các nước phát triển, việc xây dựng cơ sở hạ
tầng bên trong hàng rào KCN chủ yếu do Nhà nước thực hiện. Tuy nhiên với
Việt Nam, là một nước đang phát triển, nguồn vốn ngân sách còn hạn chế do
19
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
đó Nhà nước thường huy động vốn từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước
nhằm giảm bớt gánh nặng ngân sách Nhà nước.
Đối với công trình hạ tầng bên ngoài hàng rào KCN, đây là những công
trình đòi hỏi vốn đầu tư lớn, phụ thuộc vào quy hoạch phát triển vùng, lãnh
thổ. Việc xây dựng các công trình này thường không được sự quan tâm của
các doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng. Các chủ đầu tư khi xây dựng
các KCN thường lựa chọn ở những vị trí đã có cơ sở hạ tầng bên ngoài hàng
rào KCN khá phát triển (gần đường giao thông, bến cảng, sân bay…). Do đó
công việc này chủ yếu do Nhà nước thực hiện.
Phát triển KCN có tác động lan toả rất lớn, xung quanh các KCN
Để cho các KCN được hoạt động một cách thuận lợi và đạt được hiệu
quả cao nhất, Nhà nước cần phải thực hiện các cơ chế và chính sách như:
thực hiện các thủ tục hành chính, cơ chế quản lí đất đai.... Các nhà đầu tư
mong muốn được hoạt động trong môi trường kinh doanh mà ở đó việc giải
quyết các thủ tục hành chính được giải quyết một cách nhanh chóng, đơn
giản, thuận lợi. Điều này sẽ giúp cho các nhà đầu tư tiết kiệm được thời gian
cũng như tiền bạc trong hoạt động đầu tư của mình. Trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, yếu tố thời gian là rất quan trọng. Với những thủ tục hành
chính rườm rà, phức tạp, việc thực hiện các thủ tục hành chính của các cán
bộ quan lieu, gây phiền nhiễu cho các nhà đầu tư sẽ khiến cho các nhà đầu tư
nản lòng vì họ mất đi cơ hội trong kinh doanh. Ngoài ra, đối với các doanh
nghiệp hoạt động trong các KCN, yêu cầu cần phải có một cơ chế quản lí
đặc biệt, khác với cơ chế quản lí thông thường, có thể thành lập một bộ máy
quản lí riêng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp KCN, đây là
một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư vào các KCN.
Bộ máy quản lí KCN này cần đơn giản, gọn nhẹ nhưng vẫn có thể đáp ứng
21
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
được đầy đủ yêu cầu của các nhà đầu tư một cách nhanh chóng và kịp thời
đồng thời có thể giám sát hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN một
cách có hiệu quả.
Trong việc thực hiện vai trò này, Nhà nước cần phải xác định được một
mô hình quản lí thích hợp, trong đó sự phân công và phối hợp giữa các bộ
phận có liên quan diễn ra một cách thuận lợi, tránh sự chồng chéo giữa các
bộ phận, phân cấp rõ công việc giữa các bộ phận… Ngoài ra, yếu tố năng
lực của các cán bộ cũng hết sức quan trọng. Hiện nay, ở Việt Nam có một
thực trạng đó là sự không rõ ràng, thiếu rành mạch về từ ngữ và nội dung
trong các văn bản pháp lí khiến cho có thể có nhiều cách hiểu khác nhau.
Các cán bộ làm thủ tục hành chính có thể làm lãng phí tiền bạc và thời gian
của các nhà đầu tư bằng cách buộc họ phải chờ các văn bản hướng dẫn thi
KCX. Kể từ khi KCX đầu tiên ra đời ở thành phố Cao Hùng vào ngày
3/12/1966 đến nay ở Đài Loan đã có 95 KCN với tổng diện tích hơn 13000
ha đã được hoàn thành và 19 KCN với tổng diện tích hơn 19000 ha đang
trong quá trình xây dựng. Các KCX ở Đài Loan đã góp phần quan trọng
trong việc tạo ra kì tích kinh tế trên hòn đảo này. Đó là việc thu hút vốn đầu
tư cho phát triển kinh tế, nhất là các ngành công nghiệp xuất khẩu hàng tiêu
dùng ra thị trường thế giới, làm thay đổi cán cân ngoại thương theo hướng
xuất siêu, thu hút công nghệ tiên tiến, giải quyết công ăn việc làm cho người
lao động. Với 95 KCN đã được hoàn thành, đến nay đã thu hút khoảng hơn
9000 nhà máy vào hoạt động với trên 30 vạn lao động trực tiếp vào làm việc
cho các nhà máy, điều này tạo động lực rất lớn cho việc phát triển kinh tế ở
Đài Loan. Khi nhắc đến thành công của Đài Loan trong việc phát triển các
23
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THÁI BÌNH DƯƠNG
KCN phải kể đến thành công của các KCX Cao Hùng (3/12/1966), KCX
Nam Tử (1/1969), KCX Đài Chung (8/1969). Chỉ riêng 3 KCN này, sau 27
năm hoạt động đã tạo ra khoảng 20 tỷ USD lợi nhuận và tạo việc làm cho
trên 100.000 lao động trực tiếp.
Thành công của Đài Loan trong việc phát triển các KCN có công rất lớn
của Chính phủ:
- Đối với công tác quy hoạch: Chính phủ Đài Loan rất coi trọng công
tác quy hoạch phát triển KCN, việc phát triển các KCN được chính phủ căn
cứ vào điều kiện, tình hình kinh tế xã hội ở các địa phương, căn cứ vào các
nguồn lực ở các địa phương để có hướng phát triển các KCN một cách hợp
lí. Một trong những cách làm rất hay của Đài Loan đó là Chính phủ cho xây
dựng ở những vùng đất cằn cỗi hoặc lấn biển với một hệ thống cơ sở hạ tầng
tương đối hoàn chỉnh, điều này giúp hạn chế sử dụng đất nông nghiệp vào
việc xây dựng KCN, hạn chế việc thu hồi đất của nông dân.
- Sự thành công của các KCN Đài Loan trong việc thu hút đầu tư vào
KCN còn do chính phủ Đài Loan ban hành nhiều chính sách ưu đãi đối với
thường xuyên có các đợt công tác ra nước ngoài để vận động các đối tác đầu
tư nước ngoài cùng với nhiều biện pháp khác như gửi thư trực tiếp, sử dụng
công nghệ thông tin trong tiếp thị…
- Khi thực hiện đầu tư vào các KCN, cơ quan quản lí KCN ở Đài Loan
thực hiện việc quản lí KCN theo cơ chế “một cửa” từ việc xét duyệt đầu tư,
cho thuê mặt bằng đến việc cung cấp các dịch vụ.
- Việc kiểm tra, thanh tra cũng được thực hiện nhằm giám việc xây
dựng các KCN đồng thời quan tâm đến việc phát triển bền vững của KCN
qua việc kiểm tra ảnh hưởng của KCN đối với môi trường và giám sát phúc
lợi công cộng mà các doanh nghiệp này tạo ra.
25