MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
ĐẤT ĐÔ THỊ
I-QUAN ĐIỂM SỬ DỤNG ĐẤT.
1-Quan điểm tập trung thống nhất quản lý của Nhà nước.
Đất đai là tài sản quốc gia, là lãnh thổ bất khả xâm phạm của cả dân tộc. Vì
vậy không thể có bất kỳ một cá nhân nào hay một nhóm người nào có thể chiếm
hữu tài sản chung thành của riêng và tùy ý áp đặt quyền định đoạt cá nhân đối với
tài sản chung đó. Chỉ có Nhà nước-người đại diện hợp pháp duy nhất của mọi tầng
lớp nhân dân mới được giao quyền quản lý tối cao về đất đai. Trên phương diện
này chúng ta có thể thấy tất cả các quốc gia trên thế giới từ xưa tới nay, Nhà nước
đều thực hiện quản lý tập trung thống nhất về đất đai.
Đối với nước ta đất đai do Nhà nước thống nhất quản lý. Điều này đã được
ghi nhận trong Điều 1 Luật đất đai năm 1993 của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam: ’’Đất đai là sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”.
Mặt khác, đất đai là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, của các doanh
nghiệp là nền tảng của các tổ chức chính trị xã hội khác, được Nhà nước giao
quyền tổ chức quản lý, sử dụng với mục tiêu tăng cường quản lý chặt chẽ và sử
dụng hợp lý hiệu qủa đất đai. Tuy nhiên quyền sử dụng đất phải trong khuôn khổ
pháp luật và quản lý thống nhất của Nhà nước.
Quyền quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước được thực hiện theo Luật
pháp và được thể hiện trên nhiều mặt như: đại diện chủ quyền quốc gia về lãnh
thổ, quyền giao đất sử dụng lâu dài cho cá nhân và các tổ chức kinh tế-xã hội,
quyền cho các tổ chức nước ngoài thuê đất, quyền xác định khung giá đất, kiểm tra
giám sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp Luật về sử dụng đất đai...
Để thực hiện quyền quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, trước hết Nhà
nước phải nắm và sử dụng tốt các công cụ quản lý cơ bản của mình như: quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, công cụ tài chính và đặc biệt là công cụ Luật pháp
và các chính sách vĩ mô khác. Cùng với các công cụ quản lý, việc Nhà nước nắm
và sử dụng các phương pháp quản lý thích hợp cũng là điều kiện để duy trì việc
bảo đảm quyền quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước về đất đai.
Thực tế đã cho chúng ta thấy, nếu Nhà nước sử dụng tốt công cụ quản lý và
của các thành viên trong xã hội.
- Thực hiện đầy đủ chế độ thu thuế đất, xem đó là nghĩa vụ, là trách nhiệm của
mọi tổ chức, mọi cá nhân đối với đất nước, đối với toàn xã hội. Nghĩa vụ thuế là
công cụ để điều hoà lợi ích và bảo đảm sự công bằng của xã hội.
- Thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế và các đòn bẩy kinh tế nhằm thúc đẩy
các tổ chức và cá nhân quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai có hạn, nhằm
duy trì đảm bảo lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích của toàn xã hội.
- Sử dụng linh hoạt các phương pháp quản lý, không chỉ là các phương pháp
hành chính, phương pháp kinh tế mà cả phương pháp giáo dục. Trong nhiều trường
hợp, phương pháp giáo dục là phương pháp có hiệu quả để kết hợp hài hoà các lợi
ích trên.
- Thực hiên tốt công cụ luật pháp, kiên quyết xử lý các hành vi xâm phạm lợi
ích cá nhân, đồng thời phải xử lý nghiêm minh những hành động vi phạm lợi ích
tập thể và lợi ích của xã hội, nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho sự kết hài hào ba
lợi ích trên.
3-Quan điểm sử dụng đất đai tiết kiệm và hiệu quả.
Đất đai là tư liệu sản xuất và cũng là tư liệu tiêu dùng, là điều kiện tồn tại cơ
bản gắn liền với hoạt động của con người, của các tổ chức chính trị, các tổ chức
kinh tế xã hội và của Nhà nước. Mặt khác chúng ta đều biết đất đai có giới hạn về
diện tích, trong khi đó dân số thì mỗi ngày lại tăng lên nhiều hơn và quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước diễn ra mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực: khoa
học, kinh tế, văn hoá, xã hội, du lịch, dich vụ... mà các ngành này phát triển thì nhu
cầu sử dụng đất là rất lớn do đó dẫn đến tình trạng đất đai ngày càng bị thu hẹp
dần, điều này càng làm cho chúng ta thấy ý nghĩa của việc tiết kiệm và hiệu quả
trong công tác quản lý đất đai. Hơn nữa đất đai là loại bất động sản có lượng vốn
đầu tư tương đối lớn. Mọi sự sai lầm trong đầu tư hay lãng phí trong đầu tư và sử
dụng chúng đều dẫn đến thảm hoạ phá sản. Bài học về sự bất ổn kinh tế ở châu á
cuối những năm 90 của thế kỷ XX là một ví dụ cụ thể, mà một trong những nguyên
nhân của nó là vấn đề đầu tư vào bất động sản đã cho chúng ta thấy rõ.
Để thực hiện được quan điểm tiết kiệm và hiệu quả cần phải giải quyết các
đất đai, quá trình sử dụng đã đạt hiệu quả hay chưa. Từ đó có phương pháp quản lý
sao cho đạt hiệu quả hơn. Đất đai là tài nguyên có hạn, có tính cục bộ địa phương
và trong kinh tế thị trường nó có giá trị kinh tế cao. Do đó quản lý muốn hài hoà
các lợi ích thì quản lý phải có tính hệ thống. Làm được công tác này sẽ giúp sử
dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm. Thông qua các văn bản pháp luật và hướng dẫn thi
hành sẽ giúp Nhà nước nắm chắc hơn vấn đề quản lý và sử dụng, tình hình và hiện
trạng sử dụng để từ đó nâng cao hiệu quả quản lý nguồn tài nguyên có hạn là đất
đai.
II-MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
ĐẤT ĐÔ THỊ.
Công tác quản lý đất Đô thị hiện nay còn nhiều vấn đề bức xúc, nó liên quan
đến nhiều cấp nhiều ngành, cần có sự chỉ đạo đồng bộ, phối hợp chặt chẽ giữa các
ngành, các cấp có liên quan. Muốn vậy, cần tập trung thực hiện theo một số giải
pháp cụ thể sau:
1-Giải pháp tầm vĩ mô.
Đây là các giải pháp ở tầm vĩ mô mà người thực hiện là Nhà nước, UBND
Tỉnh (Thành phố), Tổng cục Địa chính và Sở Địa chính-Nhà đất.
1.1-Chính sách trong quản lý Nhà nước về đất đai.
Đây là khâu quyết định trong quản lý Nhà nước về đất đai, đặc biệt là đất Đô
thị. Quản lý đất Đô thị dược thực hiện trên 7 nội dung, mỗi nội dung đều được thực
hiện theo sự chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương. Do đó chính sách cần được hệ
thống hoá về quyền và nghĩa vụ của người quản lý và người sử dụng đất:
* Chính sách quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được ghi nhận trong Điều 73 và
Điều 79 của Luật đất đai năm 1993. Đây là chính sách đảm bảo cho người sử dụng
đất yên tâm sử dụng trên chính mảnh đất của mình theo đúng pháp luật. Chính sách
tạo ra phải công bằng để thúc đẩy sản xuất phát triển. Các chủ thể sử dụng đất đều
đã được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất (giao đất có thu tiền hoặc không thu
tiền, thuê đất thì phải trả tiền thuê đất). Giao đất hoặc cho thuê đất là có thời hạn.
Hiện nay có một số tổ chức, cá nhận sử dụng đất nhưng chưa được Nhà nước công
Hiện nay tốc độ Đô thị hoá diễn ra rất mạnh ở các Đô thị trên cả nước, đặc
biệt là ở Thủ đô Hà Nội, Quận Cầu Giấy cũng không nằm ngoài điều này. Trong
tình hình đó, công tác quy hoạch và kế hoạch đất đai chưa được thực hiện, Nhà
nước nên nhanh chóng hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho từng khu
vực, nhất là các Đô thị.
Công tác quản lý đất đai là một lĩnh vực đặc thù, mà đối tượng quản lý là đất
đai giao cho các chủ sử dụng đất. Vì vậy quy hoạch quản lý đất đai là quy hoạch
tổng thể và quy hoạch chi tiết tới từng thửa đất giao cho các chủ sử dụng. Do đó
quy hoạch được xây dựng trên bản vẽ 1/1000,1/500,1/200. Để tiến hành, Nhà nước
phải có sự chỉ đạo, phối hợp với từng địa phương để hoàn thành công tác này. Mặc
dù quận Cầu Giấy vẫn chưa có quy hoạch chi tiết, song có một thuận lợi lớn đó là
Thành phố Hà Nội đã hoàn thành quy hoạch tổng thể từ năm 2000-2010. Trong
thời gian qua, công tác quy hoạch chưa được hoàn thành đó là do các nguyên nhân
đó là:
+ Quy hoạch là để dự báo cụ thể, chi tiết, cần phải thông tin đầy đủ về nhu cầu
và khả năng phát triển của tất cả các thành phần kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế.
Nước ta là một nước có nền kinh tế đang phát triển, các chỉ tiêu kinh tế luôn luôn
bị thay đổi, vì vậy việc điều hành nền kinh tế vĩ mô làm cho các đơn vị, quận,
huyện cũng phải điều chỉnh theo cho phù hợp.
+ Quy hoạch tổng thể thay đổi sẽ làm cho quy hoạch chi tiết thay đổi, bởi vì
quy hoạch chi tiết Đô thị là quy hoạch được lập ra trên cơ sở quy hoạch tổng thể
phân khu Đô thị. Ngày 15/08/2000, Chính phủ có công văn số 736/CV- CP giao
cho UBND Thành phố điều chỉnh chi tiết một số khu vực. Quận Cầu Giấy cũng
thuộc đối tượng của công văn này. Như vậy, việc Nhà nước thường xuyên thay đổi
quy hoạch cũng ảnh hưởng rất lớn tới công tác kế hoạch sử dụng đất.
+ Việc lập và nghiên cứu quy hoạch là do văn phòng Kiến Trúc Sư Trưởng
Thành phố đảm nhiệm từ khâu triển khai đến khâu tổ chức thực hiện, thẩm định
trình UBND Thành phố phê duyệt. Cơ quan chính thực hiện là Viện Quy Hoạch
trực thuộc văn phòng Kiến Trúc Sư Trưởng Thành phố. Công việc của Viện là rất
lớn, nghiên cứu quy hoạch lại mang tính độc quyền, do đó lực lượng cán bộ không
hiện tiếp xúc tại địa điểm cố định hoặc thực hiện giao dịch thông qua điện thoại
hoặc các phương tiện thông tin khác. Do chúng ta chuyển từ nền kinh tế tập trung
sang nền kinh tế thị trường nên việc tạo hành lang pháp lý hình thành thị trường
này là rất cần thiết vì:
- Thị trường đất đai là thị trường đầu vào, thị trường tư liệu sản xuất, quá trình
hình thành phát triển của đất đai được gắn liền với quá trình sử dụng nó để sản xuất
và xây dựng các công trình trên đất. Cho nên thị trường bất động sản được hình
thành sẽ là nền móng để kích thích các ngành khác phát triển.
- Thị trường bất động sản ra đời sẽ tạo điều kiện thuận lợi để cho nhân dân
làm giàu bằng chính tài sản thuộc quyền sở hữu toàn dân. Họ có thể tự do mua bán
nhà cửa, đất đai (chuyển nhượng) nên hình thành nghề kinh doanh nhà đất và nó
cũng sẽ phải tuân theo quy luật của nền kinh tế thị trường như: quy luật cạnh tranh,
quy luật cung cầu, quy luật giá cả.
- Phát triển thị trường bất động sản sẽ giúp cho cảnh quan Đô thị khang trang,
đẹp đẽ hơn. Bởi vì trong kinh doanh thì nhà đầu tư nào cũng phải đặt lợi nhuận lên
hàng đầu, vì thế họ phải xây dựng nhà cửa trên mảnh đất có vị trí thuận lợi, phù
hợp với quy hoạch, nhà cửa sẽ được xây dựng đẹp, đồng bộ để thu hút người mua.
- Phát triển thị trường bất động sản sẽ tạo ra được nguồn thu rất lớn cho Nhà
nước, kinh doanh thì phải đóng thuế-đó là nghĩa vụ của người kinh doanh mà Nhà
nước đặt ra. Bất động sản là những tài sản có giá trị lớn, người kinh doanh sẽ phải
đóng một tổng thuế là rất lớn.