LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
Ở DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
I. Đặc điểm nghiệp vụ xuất nhập khẩu hàng hoá và nhiệm vụ kế toán:
1. Đặc điểm của nghiệp vụ xuất khẩu hàng hoá:
Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoá hay dịch vụ (ở đây bao gồm cả hàng
sản xuất trong nước và hàng tạm nhập tái xuất) ra nước ngoài căn cứ vào các hợp
đồng đã được ký kết. Chúng ta thường xuất khẩu những mặt hàng thuộc thế mạnh
của các hàng sản xuất trong nước như: Chè, cà phê, gạo, hàng may mặc, dệt kim,
nguyên liệu thô, dầu thô, quặng kim loại, các mặt hàng như thủ công mỹ
nghệ....truyền thống....
Hoạt động kinh doanh sản xuất nhập khẩu được coi là một bộ phận của lĩnh
vực lưu thông hàng hoá, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng trên phạm vi quốc tế
với chức năng tổ chức lưu chuyển hàng hoá giữa trong nước và ngoài nước. Xuất
khẩu được xem là một trong các trong những nghiệp vụ kinh tế quan trọng trong
quan hệ kinh tế đối ngoại, là một yếu tố kích thích sự tăng trưởng kinh tế đất nước.
Vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế ở nước ta được thể hiện
trên những mặt sau:
- Xuất khẩu đem lại nguồn ngoại tệ mạnh để nhập khẩu máy móc, thiết bị và
công nghệ hiện đại nhằm phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi phù hợp là con đường tất yếu để
khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu của nước ta. Để tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước trong một thời gian ngắn cần phải có một số vốn để
nhập khẩu máy móc thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển
trên thế giới như Nhật, Mỹ, Thái Lan, Ấn Độ, Đức, Pháp…Vấn đề đặt ra là nguồn
vốn đó có thể lấy từ đâu? Nguồn vốn nhập khẩu có thể lấy từ nhiều nguồn khác
nhau như: Đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ…tuy quan trọng nhưng cũng phải
trả bằng cách này hay cách khác ở thời gian tới. Vì vậy xét cho cùng thì nguồn vốn
quan trọng nhất để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chính là
nguồn vốn từ xuất khẩu. Xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu và cũng
chính nhờ có nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật mới hỗ trợ cho nền
sản xuất trong nước nhằm đẩy mạnh xuất khẩu. Xuất khẩu là yếu tố quan trọng
- Hàng xuất khẩu bán cho các Doanh nghiệp nước ngoài theo các hợp đồng
kinh tế đã ký kết, thanh toán bằng ngoại tệ.
- Hàng hoá bán cho khách nước ngoài hoặc Việt kiều, thanh toán bằng ngoại
tệ.
- Các dịch vụ sửa chữa tàu biển, máy bay cho nước ngoài thanh toán bằng
ngoại tệ.
- Hàng ký gửi đi hội chợ, triển lãm sau đó bán thu ngoại tệ.
- Hàng viện trợ ra nước ngoài thông qua các hiệp định, nghị định thư do nhà
nước ký kết với nước ngoài nhưng được thực hiện qua các Doanh nghiệp xuất nhập
khẩu.
- Việc xác định đúng đắn thời điểm xuất khẩu hàng hoá có ý nghĩa quan
trọng trong việc ghi chép doanh thu bán hàng xuất khẩu, giải quyết các nghiệp vụ
thanh toán, tranh chấp, khiếu nại, thưởng phạt trong buôn bán ngoại thương. Theo
quy định thì hàng hoá được xác định là hàng xuất khẩu, cụ thể:
- Nếu hàng vận chuyển bằng đường biển, hàng xuất khẩu tính ngay từ khi
thuyền trưởng ký vào vận đơn, hải quan đã ký nhận mọi thủ tục hải quan để rời
cảng.
- Nếu hàng xuất khẩu được vận chuyển bằng đường sắt, hàng xuất khẩu
được tính từ ngày hàng được giao tại ga cửa khẩu theo xác nhận của hải quan cửa
khẩu.
- Nếu hàng xuất khẩu được vận chuyển bằng đường bộ thì hàng được coi là
xuất khẩu tính từ ngày hàng hoá rời khỏi biên giới theo xác nhận của hải quan cửa
khẩu biên giới.
- Hàng đưa đi hội trợ triển lãm thì hàng được coi là xuất khẩu khi hoàn thành
thủ tục bán hàng thu ngoại tệ.
- Nếu hàng xuất khẩu là các dịch vụ sửa chữa tàu biển, máy bay trên địa
phận nước ta thì dịch vụ tính là xuất khẩu khi hoàn thành dịch vụ sửa chữa, thu
ngoại tệ hoăc khách hàng chấp nhận thanh toán sau.
2. Các phương thức, hình thức kinh doanh xuất khẩu
* Các phương thức kinh doanh xuất khẩu
được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hoá trong quá trình kinh doanh xuất
nhập khẩu thường được tiến hành theo các hình thức sau:
- Xuất khẩu trực tiếp:
Theo hình thức này các Doanh nghiệp xuất khẩu thuộc các tỉnh, thành phố
có điều kiện thuận lợi về mặt địa lý, có nguồn tài nguyên, có khả năng sản xuất gia
công, mua hàng xuất khẩu được Nhà nước, Bộ thương mại cấp giấy phép cho phép
trực tiếp giao dịch, ký kết hợp đồng mua bán với nước ngoài, thanh toán bằng
ngoại tệ (chủ yếu là ngoại tệ mạnh). Số tiền ngoại tệ thu được do xuất khẩu hàng
hoá và được sử dụng để nhập khẩu các loại hàng tiêu dùng phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng và phát triển kinh tế địa phương theo chính sách của Nhà nước.
- Xuất khẩu uỷ thác:
Là hình thức mà các Doanh nghiệp địa phương có nguồn tài nguyên hàng
hoá phong phú, có ngoại tệ mạnh nhưng không có điều kiện và chưa được Nhà
nước cho phép xuất nhập khẩu trực tiếp nên phải nhờ các Doanh nghiệp xuất nhập
khẩu trung ương hoặc địa phương xuất nhập khẩu hộ. Đơn vị uỷ thác phải chịu một
khoản hoa hồng trả cho đơn vị nhận ủy thác theo hợp đồng thoả thuận. Đơn vị
nhận uỷ thác tính doanh thu dựa trên số hoa hồng được hưởng.
Ngoài các hình thức xuất khẩu chủ yếu trên thì một số Doanh nghiệp có hình
thức xuất khẩu kết hợp của hai hình thức trên có nghĩa là họ vừa xuất khẩu trực
tiếp (được Nhà nước cho phép) vừa nhờ các Doanh nghiệp khác xuất khẩu hộ hoặc
xuất khẩu hộ các Doanh nghiệp khác. Các hình thức kinh doanh xuất khẩu này chủ
yếu được thực hiện theo hợp đồng kinh tế, ngoài ra còn có thể theo hiệp định.
3. Các phương thức thanh toán trong kinh doanh xuất khẩu hàng hoá
Phương thức thanh toán là nội dung trọng yếu nhất của hoạt động kinh
doang xuất nhập khẩu, nó chỉ việc người bán làm cách nào để thu tiền về và người
mua dùng cách nào để trả tiền. Trong giao dich buôn bán quốc tế có nhiều phương
thức thanh toán khác nhau. Ngày nay cùng với sự phát triển cuẩ mạng internet thì
đã xuất hiện nhiều phương thức thanh toán mới ra đời, thanh toán qua mạng. Mỗi
phương thức đều có mỗi ưu nhược điểm riêng, lựa chọn phương thức thanh toán
nào đều phải xuất phát từ yêu cầu của người bán là thu tiền nhanh, đầy đủ và từ
Là phương thức thanh toán trong đó khách hàng (người trả tiền, người mua,
người nhập khẩu…) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho
người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu …) ở một địa điểm nhất định bằng
phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.
Các bên liên quan trong phương thức chuyển tiền:
Người trả tiền hay người chuyển tiền: Là người yêu cầu ngân hàng đại diện
mình chuyển tiền ra nước ngoài
Ngân hàng nhận uỷ nhiệm chuyển tiền: Là ngân hàng ở nước ngoài trả tiền
hoặc chuyển tiền (ngân hàng chuyển tiền)
Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền thường là ngân hàng ở nước
người hưởng lợi.
Người hưởng lợi: (Người bán, chủ nợ, người tiếp nhận vốn đầu tư hoặc là
người nào đó mà người chuyển tiền chỉ định)
Các hình thức chuyển tiền chủ yếu:
Hình thức điện báo
Hình thức thư chuyển tiền
Trong 2 hình thức này thì hình thức điện báo có lợi hơn cho người xuất khẩu
vì nhận tiền nhanh nên thủ tục điện phí …cao nên bất lợi cho người nhập khẩu
*Phương thức tín dụng chứng từ:
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là sự thoả thuận mà trong đó một
ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin
mở thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba này ký phát trong
phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ
thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong một văn bản gọi là thư tín dụng
(viết tắt L/C)
Các bên tham gia thanh toán trong phương thức tín dụng chứng từ trong
ngoại thương gồm có:
+ Người xin mở thư tín dụng: Là người mua, người nhập khẩu
+ Ngân hàng mở thư tín dụng: Là ngân hàng đại diện cấp tín dụng cho người
nhập khẩu
khẩu) sau khi giao hàng cho người nhập khẩu phải mở một tài khoản để ghi nợ
người mua về tài khoản mua hàng hay các khoản chi phí khác có liên quan đến
hoạt động mua hàng mà người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu. Đây là phương
thức thanh toán đơn giản (chỉ có 2 bên: bên xuất khẩu và bên nhập khẩu tham gia
thanh toán) phương thức này có lợi hơn cho người nhập khẩu
Khi nói đến thanh toán quốc tế ta còn phải xem xét đến các phương tiện sử
dụng trong thanh toán quốc tế. Đây chính là công cụ hỗ trợ và được sử dụng trong
các phương thức thanh toán kể trên. Ở đây các phương tiện thanh toán thường
được sử dụng là hối phiếu và séc
Hối phiếu: Là một tờ lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho
người khác, yêu cầu người này nhìn thấy hối phiếu, hoặc đến một ngày cụ thể nhất
định hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương lai phải trả một khoản tiền
nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả tiền cho người
khác hoặc người cầm hối phiếu. Một trong những đặc tính quan trọng của hối
phiếu là tính lưu thông. Hối phiếu có thể chuyển nhượng 1 lần hay nhiều lần trong
thời hạn của nó thông qua hình thức ký hậu hối phiếu.
Séc: Là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện của người chủ tài khoản ra
lệnh cho ngân hàng tính từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho người có tên
trong séc, hoặc là theo lệnh của người ấy, hoặc trả cho người cầm séc một số tiền
nhất định bằng tiền mặt hay chuyển khoản. Hiện nay séc được sử dụng rộng rãi
trong thanh toán nội bộ và quốc tế, nó có giá trị thanh toán trực tiếp như tiền. Séc
có thể chuyển nhượng cho người kế tiếp bằng phương pháp ký hậu trong thời hạn
trên hiệu lực của nó (Nhưng việc ký hậu séc chỉ được thực hiện đối với hai loại séc
theo lệnh)
4. Giá cả áp dụng trong hạch toán hàng hoá xuất khẩu
Trong thanh toán quốc tế, việc xác định hàng hoá xuất khẩu nhập khẩu và
quy định về giá cả trong mua bán hàng hoá là một vấn đề quan trọng mà cả 2 bên
giao dịch đều đặc biệt quan tâm. Đối với hoạt động xuất khẩu, khi đề cập đến giá
cả hàng hoá ta thường đề cập đến giá cả của hàng hoá trong các khâu: mua hàng
(hoặc thành phẩm) nhập kho, xuất kho hàng hoá để xuất khẩu và giá xuất khẩu (giá
nhập khẩu.
Bên cạnh việc đàm phán, thoả thuận về giá cả thì 2 bên giao dịch còn cần
phải đưa ra phương pháp xác định cho hợp đồng, tuỳ theo cách xác định giá mà
phân biệt thành các loại giá:
Giá cố định: Là giá cả được quy định vào lúc ký kết hợp đồng và không
được sửa đổi nếu không có thoả thuận khác. Thường áp dụng đối với việc mua sắm
các thiết bị toàn bộ, hàng bách hoá, hàng công nghiệp tiêu dùng và hàng hoá có
thời gian chế tạo ngắn.
Giá có thể điều chỉnh lại: Là giá được xác định ngay khi ký kết hợp đồng
nhưng có thể xem xét lại nếu vào lúc giao hàng giá thị trường có biến động lớn.
Giá quy định sau: Là giá không được quy định ngay khi ký kết hợp đồng
mua bán mà được xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng theo sự thỏa thuận
của 2 bên.
Giá di động: Là giá cả được tính toán dứt khoát vào lúc thực hiện hợp đồng
trên cơ sở giá quy định ban đầu có đến những biến động về chi phí trong thời gian
thực hiện hợp đồng.
Khi xem xét giá cả phải chú ý đến tỷ giá hối đoái và các điều kiện đảm bảo
tiền tệ để trị giá lô hàng vẫn được đảm bảo khi đồng tiền dùng trong thanh toán bị
mất giá.
II. Yêu cầu quản lý nhiệm vụ kế toán xuất khẩu hàng hoá:
1. Yêu cầu quản lý nghiệp vụ xuất khẩu hàng hoá
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh ngoại thương, nó không giới hạn việc ký
kết mua bán trong nước giống như nội thương mà nó hoạt động buôn bán ở phạm
vi quốc tế. Do vậy hoạt động xuất khẩu rất phức tạp từ khâu giao dịch đàm phán ký
kết đến khâu thực hiện và thanh toán hợp đồng. Nó liên quan nhiều yếu tố trong và
ngoài nước mà bản thân các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu khó có thể kiểm
soát được một cách chặt chẽ, toàn diện. Các nhà quản lý phải thu nhập thông tin
một cách đầy đủ chính xác về tình hình thị trường trong và ngoài nước để làm quy
định trong và ngoài nước mà bản thân và đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu khó có
thể kiểm soát được một cách chặt chẽ, toàn diện. Các nhà quản lý phải thu thập
chính xác đồng thời đảm bảo các điều khoản của hợp đồng phải đầy đủ, rõ rang,
hợp pháp để đảm bảo quyền lợi tối cao cho doanh nghiệp bao gồm cả các điều
khoản về: Tên hàng, cơ sở giao hàng, giá cả, thanh toán số lượng, chất lượng tầu
trở hàng…Bên cạnh đó để hợp đồng được chặt chẽ, việc thực hiện hợp đồng được
trôi chảy thì 2 bên có thể đưa thêm các điều khoản về trọng tài kinh tế khi xét sử
tranh chấp, điều khoản về kiểm nghiệm, khiếu nại, điều khoản bất khả kháng…tuỳ
theo tính chất hàng hoá, giá trị lô hàng và độ tin cậy lẫn nhau giữa các bên đối tác.
Hợp đồng xuất khẩu sau khi được ký kết thì phải được triển khai thực hiện.
Do vậy các nhà quản lý phải luôn bám sát các điều khoản của hợp đồng, đảm bảo
tiến độ thực hiện hợp đồng và chấp hành đúng các điều khoản ghi trong hợp đồng
như giao hàng đúng hạn, đúng chất lượng, số lượng, hoàn thành các thủ tục hải
quan để có thể hoàn chỉnh bộ chứng từ hàng hoá để bên nhập khẩu có thể thanh
toán đúng thời hạn…