NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 73

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN
VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI KẾ TOÁN NVL TRONG DN SẢN XUẤT
1. Đặc điểm của NVL trong quá trình sản xuất
Một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành sản xuất là đối tượng lao
động. NVL là những đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật hóa như: Sắt,
thép trong DN cơ khí chế tạo, sợi trong DN dệt, vải trong DN may mặc..., chúng tham
gia thường xuyên và trực tiếp vào quá trình sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp tới chất
lượng của sản phẩm hoàn thành.
Khác với tư liệu lao động, NVL là đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu
kì sản xuất nhất định và khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác động của lao
động, chúng bị tiêu hao toàn bộ hay thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo ra hình
thái vật chất của sản phẩm. Nguyên vật liệu thuộc nhóm tài sản lưu động của DN.
NVL là yếu tố chính và không thể thiếu để tạo ra sản phẩm, chi phí NVL chiếm
tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, từ đó ảnh hưởng tới tính cạnh tranh của sản
phẩm, khả năng tiêu thụ và ảnh hưởng tới thu nhập của DN.
Những đặc điểm trên là xuất phát điểm quan trọng để DN định hướng và thực
hiện công tác tổ chức kế toán NVL từ khâu tính giá, kế toán chi tiết và kế toán tổng
hợp.
2. Yêu cầu quản lý NVL trong các DN
NVL là yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất - kinh doanh ở các
DN. Giá trị NVL thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất - kinh
doanh, vì vậy, quản lý tốt khâu thu mua, dự trữ và sử dụng vật liệu là điều kiện cần
thiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, tăng lợi
nhuận cho DN.
- Khâu thu mua: DN cần nghiên cứu, nắm vững giá cả thị trường của NVL,
quản lý tốt quá trình vận chuyển, bảo quản NVL về kho, chống hao hụt, mất mát,
giảm sút chất lượng trong quá trình vận chuyển.
- Khâu sử dụng: Xây dựng tốt định mức tiêu hao NVL, dự toán chi phí hợp lý
để giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Phải theo dõi, tổ chức ghi chép đầy
đủ tình hình sử dụng NVL, phản ánh kịp thời tình hình sản xuất và sử dụng NVL

- Tính toán và phản ánh chính xác số lượng và giá trị NVL tồn kho, phát hiện
kịp thời NVL ứ đọng, kém phẩm chất để DN có biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế tối
đa những thiệt hại có thể xảy ra.
- Tiến hành kiểm kê, đánh giá lại NVL theo đúng chế độ quy định. Phân tích
tình hình thu mua, sử dụng, dự trữ NVL, từ đó lập các báo cáo về NVL để phục vụ
cho công tác quản lý của DN.
II. PHÂN LOẠI VÀ TÍNH GIÁ NVL
1. Phân loại NVL
Để phục vụ cho quá trình sản xuất - kinh doanh, DN sử dụng rất nhiều loại,
nhiều thứ NVL có vai trò, công dụng, tính chất khác nhau. Trong điều kiện đó, đòi hỏi
các DN phải phân loại NVL thì mới tổ chức tốt việc quản lý NVL, nâng cao hiệu quả
sử dụng NVL, và làm tốt công tác kế toán NVL.
Phân loại NVL là sắp xếp, nhóm những NVL có cùng đặc điểm, đặc trưng nhất
định nào đó với nhau để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lí. DN có thể sử dụng
nhiều cách khác nhau để phân loại NVL.
a. Theo công dụng của NVL
Đây là cách phân loại NVL thông dụng nhất được áp dụng thực tế tại các DN.
Đặc trưng để phân loại NVL là vai trò và công dụng của NVL trong quá trình sản xuất
- kinh doanh. Theo cách phân loại này, NVL được phân ra các loại sau:
- NVL chính: Là nguyên liệu, vật liệu mà sau quá trình gia công chế biến sẽ cấu
thành hình thái vật chất của sản phẩm, trong đó nguyên liệu là đối tượng lao động
chưa qua chế biến công nghiệp.
- Vật liệu phụ: Là những vật liệu có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất -
kinh doanh, giúp hoàn thiện, nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm hay được
sử dụng để đảm bảo cho công cụ lao động hoạt động bình thường, hay phục vụ cho
nhu cầu kỹ thuật, nhu cầu quản lý.
- Nhiên liệu: Là những thứ dùng để tạo ra nhiệt năng như than đá, xăng, dầu,
củi...Thực chất nhiên liệu là một loại vật liệu phụ, tuy nhiên do việc sản xuất và tiêu
dùng nhiên liệu chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
nên nhiên liệu được tách ra thành một loại riêng.

Danh điểm
NVL
2. Tính giá NVL
Tính giá NVL là một công tác quan trọng trong việc tổ chức kế toán NVL. Tính
giá NVL là dùng tiền để biểu hiện giá trị của NVL. Các nguyên tắc kế toán chi phối
tính giá NVL:
- Nguyên tắc chi phí: Theo nguyên tắc này việc tính toán giá trị NVL phải dựa
trên giá trị thực tế mà không quan tâm tới giá thị trường.
- Nguyên tắc nhất quán: Trong quá trình kế toán, tất cả các khái niệm, nguyên
tắc, các chuẩn mực và các tính toán phải được thực hiện nhất quán từ kỳ này sang kỳ
khác. Theo đó, phương pháp tính giá NVL mà DN áp dụng một khi đã được chấp
nhận thì không nên thay đổi theo từng thời kỳ. Nếu có sự thay đổi đáng kể trong
phương pháp kế toán thì cần phải công bố đầy đủ ảnh hưởng của sự thay đổi đó về giá
trị trong các báo cáo tài chính.
- Nguyên tắc thận trọng: Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện
được của NVL nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá NVL, việc lập dự
phòng được thực hiện trên cơ sở từng mặt hàng tồn kho.
a. Tính giá NVL nhập kho
Theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 02 - Hàng tồn kho - Hàng tồn kho
được tính theo giá gốc, trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá
gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được.
Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí
liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái
hiện tại.
Chi phí mua của hàng tồn kho bao gồm: Giá mua, các loại thuế không được
hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi
phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho. Các khoản chiết khấu
thương mại và giảm giá hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất được trừ khỏi chi
phí mua.
Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến

Để lựa chọn phương pháp tính giá NVL xuất kho, DN căn cứ vào đặc điểm về
số lượng danh điểm, số lần nhập - xuất NVL, trình độ của nhân viên kế toán, thủ kho,
điều kiện kho tàng của DN. Việc tính giá NVL xuất kho được áp dụng theo một trong
các phương pháp sau:
* Phương pháp tính theo giá đích danh
Theo phương pháp này, khi xuất kho lô hàng nào thì tính theo giá thực tế nhập
kho đích danh của lô đó. Như vậy, phương pháp này thích hợp với những DN có điều
kiện bảo quản riêng từng lô NVL nhập kho.
Ưu điểm: Công tác tính giá NVL được thực hiện kịp thời và thông qua việc tính
giá NVL xuất kho, kế toán có thể theo dõi được thời hạn bảo quản của từng lô NVL.
Nhược điểm: Để áp dụng được phương pháp này, hệ thống kho tàng của DN
phải cho phép bảo quản riêng từng lô NVL nhập kho.
* Phương pháp Nhập trước - Xuất trước:
Theo phương pháp này, kế toán tính giá NVL xuất kho trên cơ sở giả định là lô
NVL nào nhập vào kho trước sẽ được xuất dùng trước, vì vậy lượng NVL xuất kho
thuộc lần nhập nào thì tính theo giá thực tế của lần nhập đó.
Ưu điểm: Phương pháp này cho phép kế toán có thể tính giá NVL xuất kho kịp
thời.
Nhược điểm: Để áp dụng phương pháp này, kế toán phải tính giá theo từng
danh điểm NVL và phải hạch toán chi tiết NVL tồn kho theo từng loại giá nên tốn
nhiều công sức, vì vậy phương pháp này chỉ thích hợp với những DN có ít danh điểm
NVL, số lần nhập kho của mỗi danh điểm không nhiều.
Ngoài ra, phương pháp này làm chi phí kinh doanh của DN không phản ứng kịp thời
với giá cả thị trường của NVL.
* Phương pháp Nhập sau - Xuất trước:
Theo phương pháp này, kế toán tính giá NVL xuất kho trên cơ sở giả định là lô
NVL nào nhập vào kho sau sẽ được xuất dùng trước, vì vậy lượng NVL xuất kho
thuộc lần nhập nào thì tính theo giá thực tế của lần nhập đó.
Về cơ bản, ưu điểm, nhược điểm và điều kiện áp dụng của phương pháp Nhập
sau - Xuất trước tương tự phương pháp Nhập trước - Xuất trước. Tuy nhiên, phương

+ Phương pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước:
Theo phương pháp này, kế toán xác định giá đơn vị bình quân dựa trên giá thực
tế và lượng NVL tồn kho cuối kỳ trước. Dựa vào giá đơn vị bình quân nói trên và
lượng NVL xuất kho trong kỳ để kế toán xác định giá thực tế NVL xuất kho theo từng
danh điểm.
Ưu điểm: Phương pháp này cho phép giảm nhẹ khối lượng tính toán của kế
toán.
Nhược điểm: Độ chính xác của công việc tính giá phụ thuộc vào tình hình biến
động giá cả NVL, trường hợp giá cả thị trường NVL có sự biến động lớn thì việc tính
giá NVL xuất kho theo phương pháp này trở nên thiếu chính xác và có trường hợp gây
ra bất hợp lý (tồn kho âm).
* Phương pháp trị giá hàng tồn cuối kỳ:
Theo các phương pháp trên, để tính được giá thực tế NVL xuất kho phải xác
định được lượng NVL xuất kho (căn cứ vào các chứng từ xuất kho). Tuy nhiên, trong
trường hợp DN có nhiều chủng loại NVL với mẫu mã khác nhau, giá trị thấp, lại được
xuất dùng thường xuyên thì sẽ không có điều kiện kiểm kê từng nghiệp vụ xuất kho.
Trong điều kiện đó, để xác định được giá thực tế NVL xuất kho trong kỳ, kế toán phải
tính giá cho số lượng NVL tồn kho cuối kỳ trước. Theo đó, giá thực tế NVL xuất kho
trong kỳ được xác định như sau:
Giá
thực tế
(gtt)
NVL
tồn kho
cuối kỳ
=
Số
lượng
NVL
tồn kho

nhập, xuất, tồn kho NVL trong khi chưa tính được giá thực tế của nó. Giá hạch toán
có thể là giá kế hoạch, hay giá mua NVL ở một thời điểm nào đó, hay giá NVL bình
quân tháng trước. Cuối tháng, kế toán tính chuyển giá hạch toán của NVL xuất, tồn
kho theo giá thực tế. Việc tính chuyển dựa trên hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán.
Hệ số giá
NVL
=
Gtt NVL tồn kho đầu kỳ + Gtt NVL nhập kho trong kỳ
Ght NVL tồn kho đầu kỳ + Ght NVL nhập kho trong kỳ
Gtt NVL xuất kho = Hệ số giá NVL x Ght NVL xuất kho.
Ưu điểm: Phương pháp hệ số giá cho phép kết hợp chặt chẽ hạch toán chi tiết
và hạch toán tổng hợp về NVL trong công tác tính giá, từ đó công việc tính giá được
tiến hành nhanh chóng, giảm bớt khối lượng cho công tác kế toán nhập, xuất vật liệu
hàng ngày, và không bị phụ thuộc vào số lượng danh điểm NVL, số lần nhập, xuất của
mỗi loại nhiều hay ít. Phương pháp này thích hợp sử dụng với những DN có nhiều
chủng loại NVL.
Nhược điểm: Để sử dụng phương pháp giá hạch toán đòi hỏi cán bộ kế toán
phải có trình độ chuyên môn cao.
III. KẾ TOÁN CHI TIẾT NVL
1.Thủ tục chứng từ
Để làm tốt công tác kế toán NVL, trước hết phải tổ chức tốt hệ thống chứng từ
kế toán liên quan tới phần hành kế toán NVL. Việc lập và luân chuyển chứng từ tuân
thủ theo đúng quy định, chế độ kế toán là cơ sở quan trọng, đúng đắn, không thể thiếu
đối với công tác kế toán.
Các chứng từ kế toán liên quan tới phần hành kế toán NVL bao gồm:
- Phiếu nhập kho (Mẫu số 01 - VT)
- Phiếu xuất kho (Mẫu số 02 - VT)
- Thẻ kho (Mẫu số 06 - VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hóa. (Mẫu số 08 - VT)
Ngoài những chứng từ bắt buộc trên, DN có thể sử dụng các chứng từ hướng

Định kỳ (3, 5 hay 10 ngày một lần) kế toán xuống kho kiểm tra, nhận các
chứng từ nhập, xuất kho (kèm theo “Phiếu giao nhận chứng từ”), sau đó dựa vào số
lượng nhập, xuất của từng danh điểm NVL được tổng hợp từ các chứng từ nhập, xuất
và giá hạch toán để trị giá thành tiền NVL nhập, xuất rồi ghi vào “Bảng lũy kế nhập,
xuất, tồn” (bảng này được mở theo từng kho).
Cuối kỳ, kế toán tính tiền trên “Sổ số dư” do thủ kho chuyển đến và đối chiếu
tồn kho từng danh điểm NVL trên “Sổ số dư” với tồn kho trên “Bảng lũy kế nhập,
xuất, tồn”. Từ bảng này, kế toán lập Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn vật liệu để đối
chiếu với sổ kế toán tổng hợp về vật liệu.
Sơ đồ 2: Kế toán chi tiết NVL theo phương pháp số dư
Sổ kế toán tổng
hợp về vật liệu
Phiếu nhập kho,phiếu
xuất kho
Thẻ kho Bảng tổng hợp nhập -
xuất - tồn kho vật liệu
Thẻ kế toán chi
tiết vật liệu
Phiếu giao nhận
chứng từ nhập
Phiếu nhập
kho
Sổ kế
toán
tổng
hợp về
vật liệu

Trích đoạn MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NVL VỚI VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status