MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 73

MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ HẠCH
TOÁN KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP.
1. Vị trí của vật liệu trong quá trình sản xuất.
Nguyên vật liệu là một bộ phận trọng yếu của tư liệu sản xuất. Nguyên vật
liệu là đối tượng của lao động đã qua sự tác động của con người. Trong đó vật liệu
là những nguyên liệu đã trải qua chế biến, vật liệu được chia thành: vật liệu chính,
vật liệu phụ và nguyên liệu gọi tắt là nguyên vật liệu. Việc phân chia nguyên vật
liệu thành vật liệu chính, vật liệu phụ không phải dựa vào đặc tính vật lý, hoá học
hoặc khối lượng tiêu hao mà là sự tham gia của chúng vào cấu thành sản phẩm.
Trong quá trình sản xuát sản phẩm gắn liền với việc sử dụng nguyên vật liệu, máy
móc và thiết bị thi công. Và trong quá trình đó vật liệu là một trong ba yếu tố cơ
bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành lên sản phẩm xuất bán.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vật
liệu bị tiêu hao toàn bộ và chuyển giá trị một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh
trong kỳ.
Trong công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và thương mại Phúc Tiến thì chi
phí về nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn từ 65% - 70% trong tổng giá trị
sản phẩm. Do vậy, việc cung cấp nguyên vật liệu kịp thời hay không có ảnh huởng
lớn đến việc thực hiện kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp, việc cung cấp nguyên
vật liệu còn cần quan tâm đến chất lượng, chất lượng các sản phẩm sản xuất ra phụ
thuộc trực tiếp vào chất lượng của vật liệu mà chất lượng sản phẩm là một điều đầu
tiên để doanh nghiệp có uy tín và tồn tại trên thị trường. Trong cơ chế hiện nay,
việc cung cấp nguyên vật liệu còn đảm bảo giá cả hợp lý, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp làm ăn có hiệu quả. Nguyên vật liệu có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
các hoạt động sản xuát kinh doanh của các doanh nghiệp, nếu thiếu nguyên vật liệu
thì không thể tiến hành được các hoạt động sản xuất sản phẩm.
Trong quá trình sản xuất sản phẩm, thông qua công tác kế toán nguyên vật
liệu, từ đó có thể đánh giá những khoản chi phí chưa hợp lý, lãng phí hay tiết kiệm.
Bởi vậy cần tập trung quản lý chặt chẽ vật liệu ở tất cả các khâu: thu mua, bảo

qua thanh toán kế toán vật liệu cần kiểm tra lại giá mua vật liệu, các chi phí vận
chuyển và tình hình thực hiện hợp đồng của người bán vật tư, người vận chuyển.
Việc tổ chức kho tàng, bến bãi thực hiện đúng ché độ bảo quản đối
với từng loại vật liệu tránh hư hỏng, mất mát, hao hụt, đảm bảo an toàn cũng là
một trong các yêu cầu quản lý vật liệu. Trong khâu dự trữ đòi hỏi doanh nghiệp
phải xác định được mức dự trữ tối đa, tối thiểu để đảm bảo cho quá trình sản xuất
sản phẩm được diễn ra một cách bình thường, không bị ngừng trệ, gián đoạn do
việc cung ứng vật tư không kịp thời hoặc gây ứ đọng vốn do dự trữ quá nhiều.
Sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở định mức tiêu hao và dự toán
chi phí có ý nghĩa quan trọng trong việc hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm nhằm tăng lợi nhuận, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp. Do vậy trong khâu sử
dụng cần phải tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất vật liệu đúng
trong sản xuất kinh doanh. Định kỳ việc tiến hành phân tích tình hình sử dụng vật
liệu cũng là những khoản chi phí vật liệu do quá trình sản xuất sản phẩm nhằm tìm
ra nguyên nhân dẫn đến tăng hoặc giảm chi phí vật liệu cho một đợn vị sản phẩm,
khuyến khích việc phát huy sáng kiến cải tiến, sử dụng tiết kiệm vật liệu, tận dụng
phế liệu…
Tóm lại, quản lý vật liệu từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ, sử dụng
vật liệu là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý doanh nghiệp
luôn được các nhà quản lý quan tâm.
3. Nhiệm vụ kế toán vật liệu ở các doanh nghiệp sản xuất thép.
Kế toán là công cụ phục vụ việc quản lý kinh tế vì thế để đáp ứng một cách
khoa học, hợp lý xuất phát từ đặc điểm của vật liệu, từ yêu cầu quản lý vật liệu, từ
chức năng của kế toán vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất thép cần thực hiện
các nhiệm vụ sau đây.
+ Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển,
bảo quản, tình hình nhập xuất và tồn kho vật liệu. Tính giá thành thực tế vật liệu để
thu mua và nhập kho, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật liệu về các
mặt: số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn nhằm đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy
đủ, đúng chủng loại cho quá trình sản xuất sản phẩm.

2. Đánh giá vật liệu theo giá thực tế
2.1. Đánh giâ vật liệu theo giá nhập kho.
- Đối với vật liệu mua ngoài: trị giá vốn thực tế nhập kho là gí mua ghi trên
giá mua ( bao gồm các khoản thuế nhập khẩu, thuế khác- nếu có ) cộng với ( các chi
phí thu mua, vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản, chi phí thuê kho, thuê bãi, tiền phạt, tiền
bồi thường ) trừ đi ( các khoản chiết khấu giảm giá- nếu có ).
- Đối với vật liệu do doanh nghiệp tự gia công chế biến thì trị giá vốn thực
tế của vật liệu nhập kho là giá thực tế vật liệu xuất gia công chế biến cộng với các chi
phí gia công, chế biến.
- Đối với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến thì trị giá vốn thực tế vật liệu
nhập kho là giá thực tế xuất thuê ngoài gia công chế biến cộng với các chi phí vận
chuyển, bốc dỡ đến nơi thuê chế biến và từ nơi đó vào doanh nghiệp cộng với số tiền
phải trả cho người nhận gia công chế biến.
- Đối với trường hợp vật liệu do đợn vị góp vốn liên doanh thì trị giá vốn
thực tế của vật liệu nhận góp vốn liên doanh là giá do hội đồng liên doanh đánh giá.
- Phế liệu được đánh giá theo giá ước tính.
2.2. Giá thực tế xuất kho.
Đảm bảo tính nhất quán trong công tác kế toán để tính trị giá thực tế của nguyên
vật liệu có thể áp dụng một trong các trường hợp:
• Tính theo giá tồn đầu kỳ:
Theo phương pháp này thì giá thực tế vật liệu xuất kho được tính trên số lượng vật
liệu xuất kho và đơn giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ.
*. Tính theo giá thực tế bình quân gia quyền
Giá thực tế vật
liệu xuất kho
đơn giá bình
quân vật liệu tồn
đầu kỳ
Số lượng vật
liệu xuất kho

= x
trị giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ + trị giá thực tế vật liệu nhập trong kỳ
số lượng vật liệu tồn đầu kỳ + số lượng vật liệu nhập trong kỳ
Đơn giá
bình quân
=
3. Đánh giá vật liệu theo giá hạch toán.
Giá hạch toán là loại giá ổn định được sử dụng thống nhất trong doanh nghiệp
trong một thời gian dài có thể là giá kế hoạch của vật liệu. Như vậy có thể là hàng
ngày sử dụng giá hạch toán để ghi sổ chi tiết giá trị vật liệu nhạp xuất. Cuối kỳ
phải điều chỉnh giá hạch toán theo đơn giá thực tế để có số liệu ghi vào sổ tài
khoản, sổ kế toán tổng hợp và báo cáo kế toán. Viẹc điều chỉnh giá hạch toán theo
giá thực tế tiến hành như sau:
Để tính dược giá thực tế của hàng xuất kho phải xác định được hệ số giữa giá
thực tế và giá hạch toán luân chuyển trong kỳ (H).
sau đó tính giá trị thực tế của hàng xuất trong kỳ.
4. Nội dung công tác kế toán nguyên vật liệu.
4.1. Chứng từ kế toán và hạch toán ban đầu.
Theo chế độ chứng từ kế toán quy định ban hành theo quyết định QĐ- CĐKT
ngày 1/11/1995 của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính, các chứng từ nguyên vật liệu bao gồm:
Phiếu nhập kho ( mẫu 01-VT)
Giá trị thực tế vật liệu tồn đầu kỳ + giá trị thực tế vật liệu nhập trong
kỳ
H =
Giá thực tế vật
liệu xuất trong
kỳ
=
Trị giá hạch toán của
vật liệu xuất trong

4.2. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu.
• Phương pháp thẻ song song.
+ Trình tự ghi chép ( sơ đồ 1).
Sổ kế toán chi tiết
Thẻ kho
3
SƠ ĐỒ 1: KẾ TOÁN CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU THEO
PHƯƠNG PHÁP THẺ SONG SONG

1 1

2 2
4
Ghi chú:

Ghi cuối ngày
Đối chiếu, kiểm tra
Ghi cuối tháng
Chứng từ
xuất
Chứng từ
nhập
Bảng kê tổng hợp N-X-T
Sổ đối chiếu luân chuyển
Thẻ kho
Bảng kê nhập
+ Nội dung: Việc ghi chép tình hình xuất- nhập- tồn kho hàng ngày do thủ kho
tiến hành trên thẻ kho và chỉ tiến hành ghi theo số lượng. Kế toán sử dụng thẻ kế
toán chi tiết vật liệu để ghi chép tình hình xuất- nhập- tồn kho theo chỉ tiêu hiện vật
và giá trị. Về cơ bản thẻ kế toán chi tiết nguyên vật liẹu có két cấu giống như thẻ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status