PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT, TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY DỆT MAY HÀ NỘI - Pdf 73

Phơng hớng hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản
xuất, tính giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh tại công ty dệt may hà nội
I-/ Sự cần thiết tổ chức hạch toán chính xác chi phí sản xuất
và tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất gắn liền với việc sử dụng tài sản, vật t, tiền vốn, lao động
trong sản xuất. Quản lý chi phí sản xuất thực chất là quản lý việc sử dụng hợp lý,
tiết kiệm và có hiệu quả các yếu tố sản xuất trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Mặc khác, chi phí sản xuất là cơ sở tạo nên giá thành sản phẩm, tiết kiệm chi phí
sản xuất là cơ sở để hạ giá thành sản phẩm.
Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế nói chung, công tác quản lý sản xuất và
tính chi phí sản xuất nói riêng đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức công tác kế toán
tập hợp chi phí sản xuất một cách chính xác. Kế toán chính xác chi phí sản xuất
phát sinh không chỉ là việc tổ chức, ghi chép, phản ánh một cách đầy đủ trung thực
về mặt hao phí của từng loại chi phí, mà cả về mặt tính toán các chi phí bằng tiền,
theo đúng nguyên tắc về đánh giá và phản ánh theo đúng giá trị thực tế của chi phí ở
thời điểm phát sinh chi phí. Kế toán chính xác chi phí sản xuất đòi hỏi phải tổ chức
việc ghi chép, tính toán và phản ánh từng loại chi phí sản xuất theo đúng địa điểm
phát sinh chi phí và theo đúng đối tợng chịu chi phí.
Bên cạnh đó, chúng ta biết rằng giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng
hợp phản ánh chất lợng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn
sử dụng chỉ tiêu giá thành sản phẩm vào quản lý cần thiết phải tổ chức tính đúng,
tính đủ giá thành của các loại sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra. Tính đúng là
tính chính xác và hạch toán đúng nội dung kinh tế của chi phí đã hao phí để sản
xuất sản phẩm. Muốn vậy, phải xác định đúng đối tợng tính giá thành, vận dụng
phơng pháp tính giá thành thích hợp và giá thành phải đợc tính trên cơ sở số liệu
kế toán tập hợp chi phí sản xuất một cách chính xác. Tính đủ là tính toán đầy đủ
mọi hao phí đã bỏ ra trên tinh thần hạch toán kinh doanh, loại bỏ mọi yếu tố bao
cấp để tính đủ đầu vào theo đúng chế độ quy định. Tính đủ cũng đòi hỏi loại bỏ
những chi phí không liên quan cần thiết đến hạch toán sản phẩm nh: những khoản
chi phí mang tính chất tiêu cực, lãng phí không hợp lý, những khoản thiệt hại

hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp nói
chung và ở công ty Dệt may Hà Nội nói riêng là đều phải tập trung giải quyết các
nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất, lựa chọn phơng
pháp tập hợp và tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất phù hợp với đặc điểm quy trình
công nghệ và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp. Từ đó, tổ chức thực hiện tốt
việc tập hợp chi phí sản xuất.
Hai là, xác định đúng đối tợng tính giá thành, lựa chọn phơng pháp tính giá
thành thích hợp.
Ba là, xây dựng quy tắc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
của doanh nghiệp. Quy định trình tự từng công việc sao cho công tác hạch toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đợc tiến hành thuận lợi và kịp thời phù
hợp với yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
Chúng ta đã biết, hoàn thiện là việc thay đổi, sửa đổi và bổ sung để cho công
việc thực hiện đợc tiến hành tốt hơn và đạt hiệu quả cao nhất. Việc hoàn thiện
2
công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải dựa trên các
nguyên tắc cơ bản sau:
- Các chế độ về hệ thống các phơng pháp thực hiện hạch toán kế toán do Bộ
Tài chính ban hành.
- Thực hiện đúng quy định về các biểu mẫu kế toán chứng từ kế toán và các
tài khoản sử dụng.
- Vận dụng đợc yêu cầu thực tế sản xuất kinh doanh để có thể rút ngắn, thay đổi
đợc công tác kế toán cho phù hợp, đồng thời không trái với quy định chung.
- Đảm bảo đợc tính kinh tế và hiệu quả của công tác kế toán.
Nh vậy, hoàn thiện có ý nghĩa là hoàn chỉnh sao cho thực tế phù hợp với lý
luận và ngợc lại từ thực tế cần thiết phải bổ sung để hoàn thiện hơn nữa lý luận và
chế độ kế toán hiện hành theo thông lệ quốc tế, trong từng thời kỳ phát triển kinh
tế của đất nớc.
Qua một thời gian thực tập tại công ty, đợc sự giúp đỡ của các đồng chí lãnh

ứng yêu cầu công tác hạch toán kế toán. Nổi bật lên các điểm sau:
* Về tổ chức bộ máy kế toán.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của việc tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá
thành sản phẩm, nhất là trong cơ chế thị trờng, công ty đã tăng cờng công tác quản
lý chi phí sản xuất và kế toán thực sự đợc coi là một trong những công cụ quan
trọng của hệ thống quản lý. Bộ máy kế toán của công ty đợc tổ chức tơng đối hoàn
chỉnh với đội ngũ nhân viên kế toán có trình độ cao, nghiệp vụ chuyên môn vững
vàng và đợc phân công trách nhiệm rõ ràng theo từng phần hành kế toán phù hợp
với năng lực của từng nhân viên. Do có sự phân chia trách nhiệm và sự bất kiêm
nhiệm trong công tác kế toán, nên đã tạo ra sự chuyên môn hoá trong lao động kế
toán. Vì vậy, các nghiệp vụ kế toán đợc tiến hành nhanh hơn, tránh đợc sai sót và
gian lận. Điều đó chứng tỏ khả năng tổ chức công tác kế toán tại công ty là đảm
bảo thực hiện tốt chế độ kế toán hiện hành và phù hợp với đặc điểm tổ chức kinh
doanh của công ty.
Là một doanh nghiệp sản xuất có quy mô lớn, tính chất kinh doanh đa dạng,
phức tạp, nên công ty có quan hệ rất rộng rãi với khách hàng, đòi hỏi yêu cầu trình
độ quản lý và lao động kế toán cao. Thấy rõ đợc điều kiện này, công ty đã áp dụng
hình thức kế toán Nhật ký - Chứng từ. Đây là hình thức tiên tiến nhất hiện nay,
đảm bảo cho hệ thống kế toán của công ty thực hiện tốt những chức năng, nhiệm
vụ trong sản xuất kinh doanh, đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho
quản lý doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, công ty đã sử dụng hệ thống chứng từ kế toán và sổ sách tơng
đối đầy đủ theo quy định của chế độ kế toán, đảm bảo phù hợp với hoạt động của
công ty. Hệ thống chứng từ sổ sách đợc luân chuyển giữa các phần hành kế toán
một cách trình tự tạo điều kiện thuận lợi cho hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm.
* Về công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Dệt
may Hà Nội đợc tiến hành đều đặn vào cuối mỗi quý. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa
nhân viên kế toán, thống kê các nhà máy với phòng kế toán, và giữa các nhân viên

nhanh chóng góp phần đẩy mạnh sản xuất, hoà nhịp chung với sự phát triển của thị
trờng cạnh tranh tự do.
Tuy nhiên, việc rút ngắn kỳ tính giá thành xuống 1 tháng đòi hỏi công tác kế
toán phải đợc tiến hành thờng xuyên, liên tục hơn, nên các nhân viên kế toán sẽ phải
tăng cờng độ làm việc. Nhng nếu biết tổ chức, sắp xếp công việc một cách hợp lý,
làm việc có ý thức trách nhiệm thì với trình độ chuyên môn và bề dày kinh nghiệm,
cộng với sự trợ giúp của máy vi tính, chắc chắn các nhân viên kế toán sẽ hoàn thành
tốt nghiệm vụ tính giá thành sản phẩm trong một tháng.
Việc thay đổi kỳ tính giá thành sẽ làm thay đổi toàn bộ các phần hành kế
toán khác. Vì vậy, xem xét sự thay đổi này phải đợc thống nhất trong phạm vi toàn
công ty.
5
* Thứ hai, phơng pháp hạch toán chi phí nhân công trực tiếp.
Mặc dù công ty đã áp dụng đúng chế độ kế toán về cách tính lơng cho công
nhân sản xuất trực tiếp, cũng nh tỷ lệ trích các khoản theo lơng, nhng trong việc
hạch toán và ghi sổ chi phí nhân công trực tiếp còn có một số điểm cần đợc xem
xét lại.
Trớc hết, là việc tiến hành trích BHYT và KPCĐ cho 2 quí (quí II và quí III)
vào chi phí sản xuất kinh doanh. Điều này trái với nguyên tắc phù hợp đợc thừa
nhận trong kế toán là: Chi phí liên quan đến doanh thu kỳ nào phải tính vào chi
phí của kỳ đó. Do đó, ảnh hởng tới việc tập hợp chi phí sản xuất trong kỳ và tính
giá thành sản phẩm. Vì vậy, công ty nên quy định lại việc trích BHYT, KPCĐ theo
đúng kỳ tính giá thành - đảm bảo phù hợp với chế độ kế toán.
Ngoài ra, nếu nhìn lại bảng phân bổ số 1: Bảng phân bổ tiền lơng và bảo hiểm
xã hội quí III/1999 - (Biểu số 01), chúng ta sẽ hiểu sai nội dung, ý nghĩa của từng
số liệu. Bởi vì, số liệu về lơng chính của công nhân sản xuất trực tiếp là
549.522.880đ và các khoản phụ cấp là 433.057.417đ không phản ánh lên các cột t-
ơng ứng trên bảng phân bổ 1, mà cột lơng chính lại ghi số liệu về lơng phải trả cho
công nhân sản xuất trực tiếp trong quí III là: 982.580.297đ. Mặt khác, toàn bộ
khoản trích BHYT, KPCĐ cũng phản ánh lên một tài khoản là 3382: 40.548.757đ.

đợc tính một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ phát sinh chi phí.
Ví dụ, trong quí III/1999, khi xuất dùng CCDC thuộc loại phân bổ ba lần, kế
toán ghi vào bên Nợ TK 6271 : 48.605.730đ (đối ứng bên Có TK 1531) trên bảng
kê số 4+5.
Cách ghi này cũng đã vi phạm nguyên tắc phù hợp đợc thừa nhận trong kế toán.
Do đó, để khắc phục nhợc điểm này, kế toán nên tiến hành theo trình tự sau:
TK 1524
(1)
TK 142
(2)
TK 6271
TK 1531
(1)
TK 142
(2)
TK 6271
(1) : Tập hợp chi phí công cụ dụng cụ thuộc loại phân bổ nhiều lần.
(2) : Định kỳ tiến hành phân bổ cho đối tợng sử dụng.
Hoặc, trong quí III phát sinh chi phí phụ tùng thay thế để sửa chữa máy móc
thiết bị với giá trị là: 2.162.868.940đ. Nhng đợc tập hợp và phân bổ hết một lần
trong quý theo sơ đồ:
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status