Tình hình công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Trí Hà
Nội
2.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Trí Hà Nội và một số đặc điểm
ảnh hưởng đến công tác kế toán nguyên vật liệu ở công ty
2.1.1 Khái quát về Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Trí Hà Nội
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty:
Nhà máy Sợi Hà Nội ( nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Trí Hà
Nội) được thành lập ngày 7-4-1978 với sự hợp tác giữa Tổng Công ty nhập khẩu
thiết bị Việt Nam và hãng VINIOMATEX ( Cộng hoà liên bang Đức) với tổng số
vốn ban đầu là 30 triệu USD, tổng năng lực kéo sợi có 150.000 cọc sợi với sản
lượng trên 10.000 tấn sợi các loại một năm.
Công trình được khởi công xây dựng nhà máy vào tháng 2 - 1979 và đến
ngày 21 -11-1984 chính thức bàn giao công trình cho nhà máy quản lý, điều hành
gọi tên là Nhà máy Sợi Hà Nội trụ sở tại số 1 Mai Động, quận Hai Bà Trưng, Hà
nội.
Trong quá trình phát triển, nhà máy Sợi Hà Nội đã từng bước mở rộng quy
mô sản xuất với việc đầu tư lắp đặt một dây chuyền dệt kim đồng bộ với trị giá 4
triệu USD. Sản phẩm của Công ty được xuất khẩu sang Nhật, Thuỵ Sỹ, Cộng hoà
Séc, Nga, Hà Lan.......Các mặt hàng của Công ty là sợi, dệt kim. Sản phẩm của
Công ty luôn thu hút được sự chú ý của khách hàng và từng bước đứng vững trên
thị trưởng trong nước cũng như quốc tế.
Tháng 4 -1990, Bộ thương mại cho phép xây dựng xí nghiệp được kinh
doanh xuất nhập khẩu trực tiếp ( tên giao dịch quốc tế là HANOSIMEX ). Quyết
định này đã tạo điều kiện cho nhà máy mở rộng quan hệ thương mại với một số
bạn hàng trong nước và quốc tế.
Tháng 6 -1993, xây dựng dây chuyền dệt kim số 2. Đến tháng 10- 1993 Bộ
công nghiệp nhẹ quyết định sát nhập nhà máy Sợi Vinh (Nghệ An) vào xí nghiệp
liên hợp, trở thành nhà máy thành viên của xí nghiệp.
Ngày 19 – 5-1994 khánh thành nhà máy dệt kim (với cả hai dây chuyền số 1
và số 2). Tháng 1-1995, khởi công xây dựng nhà máy thêu Đông Mỹ và đên ngày
2-9 thì khánh thành đồng thời tháng 3 năm 1995, Bộ công nghiệp nhẹ quyết định
quả nhất phục vụ tốt nhất yêu cầu sản xuất kinh doanh với mục tiêu đề ra lợi nhuận
năm nay cao hơn năm trước Công ty luôn chấp hành vựot mức kế hoạch Nhà nước
giao.
Có thể xem xét một số chỉ tiêu sau:
Giá trị sản xuất công nghiệp đạt: 498.376 triệu đồng.
Tổng doanh thu đạt: 501.894 triệu đồng
Trong đó: Doanh thu công nghiệp: 314. 318 triệu đồng
Doanh thu xuất khẩu: 187.576 triệu đồng
Thu nhập bình quân: 807.575 đồng/người/tháng
2.1.2 Những đặc điểm về sản xuất và quản lý ảnh hưởng đến công tác kế
toán nguyên vật liệu ở Công ty.
2.1.2.1 Đặc điểm công nghệ và cơ cấu sản xuất
Việc tổ chức sản xuất hợp lý, khoa học phù hợp với công nghệ sản xuất ở
mỗi xí nghiệp là việc hết sức quan trọng. Gắn với mỗi loại hình sản xuát khác
nhau, công nghệ khác nhau đòi hỏi việc tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, có như
vậy sản xuất kinh doanh mới đạt hiệu quả cao. Đặc điểm tổ chức của Công ty được
quyết định bởi quy mô sản xuất kinh doanh lớn, đa dạng về chủng loại sản phẩm
cùng độ rộng khắp của thị trường tiêu thụ.
Nhiệm vụ của Công ty được thực hiện thông qua các nhà máy thành viên:
- Nhà máy sợi 1: Quy mô 6.500 cọc sợi, sản lượng 4.000 tấn/năm. sản
phẩm chủ yếu là sợi Peco và Cotton các loại, có chỉ số Ne 60, Ne 45, Ne 46, Ne 30
dây chuyền sợi xe cán 300 tấn/ năm.
- Nhà máy sợi 2: Quy mô 3.500 cọc sợi, sản lượng 4.000 tấn/năm sản
phẩm chủ yếu là sợi Peco các loại, có dây chuyền sợi xe với sản lượng 350
tấn/năm.
- Nhà máy dệt và nhuộm: gồm các phân xưởng dệt và nhuộm.
- Nhà máy may: gồm 2 xưởng may 1, may 2, bộ phận in, thêu. Hai nhà
máy kết hợp với nhau để từ sợi sản xuất ra vải, quần áo dệt kim các loại như: T-
shirt, VL shirt, Hineck với sản lượng 4,5 triệu tấn/năm.
- Nhà máy sợi Vinh: quy mô 2.500 cọc sợi, sản lượng 2.000 tấn/năm. sản
Ghép i, ii
Ghép thô
Sợi con
đánh ống
Sợi xe đôi
Ghép trộn
Dây chuyền dệt kim
Sợi
Dệt
Vải
Giặt nấu
Vải dệt kim
Văng
Mở
Gỡ
Cắt
Thêu
may
bao
Sản phẩm nhập kho
Dây chuyền dệt thoi
Văt
Sợi
Dệt
Vải
Nhuộm
Vải dệt
Nhập
Sản phẩm nhập
may
dựng... Mỗi loại vật liệu đều có những đặc điểm riêng, quyết định đến mức dự trữ
và bảo quản.Ví dụ như hoá chất được mua dự trữ trong một khoảng thời gian xác
định để tránh hư hao, mất mát, giảm phẩm chất. Hoặc xăng dầu chỉ được dự trữ đủ
để sản xuất và có sự kết hợp chặt chẽ với các phương tiện phòng cháy chữa cháy.
Do đặc điểm khác biệt của từng loại nguyên vật liệu như đã nói ở trên, Công
ty có kế hoạch thu mua một cách hợp lý đẻ dự trữ cho sản xuất, và vừa để hạn chế
tự động vốn, giảm tiền vay ngân hàng.Công tác quản lý nguyên vật liệu được đặt ra
là phải bảo quản và sử dụng tiết kiệm, đạt hiệu quả tối đa đặc biệt là nguyên vật
liệu chính. Hiểu rõ điều này, Công ty đã tổ chức hệ thống kho tàng trữ nguyên vật
liệu chính hơp lý và gần phân xưởng sản xuật một cách nhanh nhất.
Hệ thống kho đều được trang bị khá đầy đủ: phương tiện cân, đo dếm...để
tạo điều kiện tiến hành chính sách các nghiệp vụ quản lý bảo quản chặt chẽ vật
liệu. Trong điều kiện hiện nay cùng với việc sản xuất, Công ty tổ chức quy hoạch
thành 9 kho.
Kho bông xơ
Kho hoá chất
Kho xăng dầu
Kho vật liệu phụ
Kho vật tư bao gói
Kho phụ liệu dệt kim
Kho phụ tùng
Kho vật liệu xây dựng
Các kho được giao từng kế toán quản lý với chức năng và nhiệm vụ rõ ràng.
2.1.2.3 Phân loại nguyên liệu :
Vật liệu mà công ty sử dụng có nhiều loại,khác nhau về công dụng tính năng
hoá học,phẩm cấp chất lượng.Vì vậy Công ty đã tiến hành phân loại nguyên vật
liệu như sau:
- Vật liệu chính: Bông, xơ, (bông hoá học)
Hoá chất: Các loại thuốc nhuộm (Drimavece,aterain, Solophenil...),các loại
thuốc in.
kế toán tài chính cân đối kế hoạch thu chi ngoại tệ xây dựng dự thảo hợp đồng
xuất nhập khẩu, các phương thức thanh toán, lập báo các xuất nhập khẩu
Phòng tổ chức hành chính là phòng tham mưu cho tổng giám đốc về lĩnh vục
tổ chức lao động khoa học, quản lý đội ngũ cbcnv rong Công ty, đào tạo cán bộ
quản lý và sử dụng hiệu quả quản lý quỹ tiền lương trên cơ sở quy chế đã ban hành
bên cạnh đó phòng còn có nhiệm vụ tổ chức lực lượng đảm bảo an toàn cho Công
ty, xây dựng lực lượng vũng mạnh tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa Công ty với cơ
quan Công an nhằm tranh thủ sự hỗ chợ trong công tác bảo vệ sự an toàn.
Phòng kế tóan tài chính có đầy đủ chức năng nhiệm vụ như luật định , luật
điều hành kế toán ,của Nhà nước quy định, giám sát kiểm tra hoạt động kinh tế của
Công ty , đảm bảo cân đối tàii chính phục vụ cho quản lý kinh doanh. Phòng có
nhiệm vụ lập kế hoạch thu chi cho từng kì, ghi chép đầy đủ và phản ánh chính xác
kịp thời liên tụcvà có hệ thống về tình hình luân chuyển của vật tư tiền vốn thúc
đảy hoạt động sản xuất kinh doanh cua Công ty thực hiện tốt chế độ hoạch toán kế
toán nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh , lập và thực hiện kế hoạch tài chính
Phòng kcs: có nhiệm vụ kiểm tra toàn bộ các loại nguyên vật liệu được vào
nhà máy, các loại bàn phế phẩm trong quá trình sản xuất và các loại sản phẩm do
công ty sản xuất ra, đồng thời đóng góp các biện pháp đề tài, sáng kiến để nâng cao
chất lượng sản phẩm
Phòng kế hoạch thị trường : có nhiệm vụ tiếp cận và mở rông thị trường
cho Công ty, tìm kiếm khách hàng, thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm và đạị lý
của Công ty.
Phòng kĩ thuật đầu tư có nhiệm vụ triển khai kĩ thuật sản xuất tới các nhà
máy và xây dựng mục tiêu phát triển của Công tyđảm bảo tính hiệu quả của hoạt
động, đồng thời đảm bảo tính gọn nhẹ trong tổ chức chánh việc chồng chéo trong
chỉ đạo, phân công ....
2.2.1. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại Công ty:
Bộ máy kế toán trong doanh nghiệp có thể hiểu như một tập hợp những cán
bộ cnv kế toán cùng với trang thiết bị kĩ thuật phương tiện ghi chép, tính toán
cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý của doanh nghiệp
trong việc quuyết toán cũng như thanh tra, kiểm tra công tác tài chính của Công ty.
Nhân viên kế toán nguyên vật liệu: hàng ngày căn cứ vào phiếu
nhập kho, phiếu xuất kho vật liệu, công cụ dụng cụ để vào sổ chi tiết vật tư cuối
tháng tổng hợp lên sổ tổng hợp xuất, lập bảng kê sổ 3 – Bảng kê tính giá thực tế
vật liệu và công cụ, dụng cụ, bảng phân bổ vật liệu và công cụ dụng cụ và từ các
hoá đơn ( hoặc hoá đơn kiêm phiếu xuất kho) của bên bán để vào sổ chi tiết thanh
toán với người bán lên Nhật ký chứng từ số 5.
Nhân viên kế toán TSCĐ và XDCB: Tổ chức ghi chép, phản ánh số
liệu về số lượng, hiện trạng, và giá trị TSCĐ, tình hình mua bán và thanh lý TSCĐ.
Nhân viên kế toán tiền lương: Có nhiệm vụ căn cứ vào Bảng tổng hợp
và thanh lương và phụ cấp do các tổ nghiệp vụ dưới nhà máy chuyển lên để lập các
Bảng tổng hợp thanh toán lương cho các nhà máy, các phòng ban chức năng, lập
bảng phân bổ tiền lương và các khoản bảo hiểm.
Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành: Căn cứ vào Bảng phân bổ
vật liệu, công cụ dụng cụ, bảng tổng hợp vật liệu xuất dùng, Bảng phân bổ
lương ......và các Nhật ký chứng từ có liên quan để ghi vào sổ tổng hợp chi phí sản
xuất ( có chi tiết cho từng nhà máy) phân bổ chi phí sản xuất và tính giá thành cho
từng mặt hàng cụ thể.
Kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm: Có nhiệm vụ theo dõi tình
hình nhập xuất kho thành phẩm, tình hình tiêu thụ và theo dõi công nợ của khách
mau hàng. Mở sổ chi tiết bán hàng cho từng loại hàng. Mở thẻ theo dõi nhập xuât
tồn thành phẩm. Sau đó, theo dõi vào sổ chi tiết bán hàng cho từng loại.
Kế toán thanh toán: Theo dõi tình hình thu chi sử dụng quỹ tiền mặt,
tiền gửi ngân hàng của Công ty ở ngân hàng hàng ngày đối chiếu số dư trên tài
khoản của Công ty ở ngân hàng với sổ ngân hàng, theo dõi tình hình thanh toán
của Công ty với các đối tượng như : khách hàng, nhà cung cấp, nội bộ Công ty.
Thủ quỹ: Quản lý tiền mặt của Công ty và thực hiện việc thu chi tiền
mặt theo phiếu thu, phiếu chi.
Kế toán các nhà máy: chịu sự chỉ đạo dọc của Phòng kế toán tài chính
của Công ty.