MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY RƯỢU HÀ NỘI - Pdf 74

MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY RƯỢU HÀ NỘI
I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ KẾ TOÁN
NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY RƯỢU HÀ NỘI
1. Ưu điểm
Trong những năm vừa qua, với sự lãnh đạo sáng suốt của Ban lãnh đạo Công
ty cùng sự nỗ lực tận tình của tập thể cán bộ công nhân viên, công ty đã đạt được
một số những thành tựu nhất định: tốc độ tăng trưởng cao, đời sống của CBCNVC
được nâng cao, công ty đã nhận được nhiều bằng khen về thành tích trong lao động
và sản xuất…Công ty không ngừng mở rộng thị trường, đa dạng hóa các sản phẩm
rượu, nâng cao chất lượng cũng như mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng
cạnh tranh với hàng nước ngoài
Đạt được những thành tựu trên có phần đóng góp không nhỏ của việc tổ chức tốt
công tác kế toán của công ty, mà đặc biệt là công tác kế toán nguyên vật liệu. Là
một doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu đóng một vai trò quan trọng trong quá
trình sản xuất, nó tạo nên 70% giá thành sản phẩm cũng như tạo nên công dụng và
chất lượng sản phẩm. Sử dụng nguyên vật liệu hợp lý, hạch toán đúng đắn đầy đủ là
cở sở cho việc tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Ý thức được tầm quan
trọng của việc quản lý và hạch toán vật liệu nên công ty luôn có sự khuyến khích
đối với những sáng kiến trong việc cải tiến công tác quản lý và hạch toán nguyên
vật liệu. Công tác hạch toán vật liệu tại công ty có thể xem xét trên những mặt sau:
- Công ty đã xây dựng một hệ thống định mức tiêu hao nguyên vật liệu tiên
tiến, tránh lãng phí.
- Luôn có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa thủ kho và phòng kế toán
giúp cho công tác ghi chép nhanh chóng, chính xác và đầy đủ.
- Công ty xây dựng một hệ thống kho đủ điều kiện để bảo quản nguyên vật
liệu trong những năm vừa qua giúp cho việc lưu chuyển qua kho
- Xây dựng định mức dự trữ hợp lý đảm bảo tiết kiệm vốn dự trữ và sản xuất
được tiến hành liên tục.
2. Một số tồn tại chủ yếu
2.1. Trong lĩnh vực quản lý nguyên vật liệu

quản như nhau nên công ty cũng cần quan tâm đến điều này nhằm giảm bớt lượng
nguyên vật liệu hao hụt và hướng tới việc tiết kiệm chi phí. Vật liệu thu hồi sau quá
trình sản xuất thường được quản lý tại các phân xưởng và chỉ báo cáo lại cho các
kho biết số lượng phẩm chất thu hồi. Điều này gây khó khăn cho công tác quản lý,
dễ xảy ra mất mát và nhầm lẫn.
2.2. Tồn tại trong tổ chức hạch toán kế toán chi tiết, tổng hợp
2.2.1. Về việc phản ánh nghiệp vụ nhập, xuất trên các loại chứng từ
Việc phản ánh các nghiệp vụ nhập, xuất trên các loại chứng từ ở công ty còn
nhiều điểm chưa hợp lý. Trên chứng từ thường không ghi hết các yếu tố cần thiết
theo quy định trên chứng từ, không ghi sổ chứng từ, tài khoản phát sinh hay tài
khoản liên quan, nên gây nhiều khó khăn cho công tác kế toán khi ghi sổ.
Quá trình luân chuyển chứng từ ở công ty còn rườm rà, nhiều thủ tục, điển hình
là quá trình xuất vật liệu. Khi có nhu cầu vật tư cho sản xuất, các xí nghiệp sản xuất
lên xin ý kiến Giám đốc rồi xuống phòng Kế hoạch- Vật tư viết phiếu xuất kho, sau
đó mới xuống kho lĩnh vật tư. Do đó, khi xuất vật tư không có “Phiếu xuất vật tư
theo hạn mức” mà xuất theo nhu cầu của xí nghiệp đã được phê duyệt. Vật tư được
cấp sẽ có thể vượt quá nhiều định mức cho phép. Khi biết được điều này thì nguyên
vật liệu đã dùng hết và không loại trừ trường hợp dùng lãng phí, không đúng mục
đích. Ngoài ra, vật tư nếu để tồn kho ở các xí nghiệp quá nhiều, do điều kiện bảo
quản tại xí nghiệp không được đảm bảo sẽ khiến cho vật tư bị mất phẩm chất.
2.2.2. Sử dụng tài khoản 152 và chi tiết tài khoản 152 chưa phù hợp theo loại
nguyên vật liệu
Trong quá trình hạch toán tổng hợp, công ty đã sử dụng TK 152 chi tiết theo
từng nhóm nguyên vật liệu. Tuy nhiên, trên TK 152.2- . “Nguyên vật liệu khác” có
quá nhiều chủng loại vật liệu có vai trò và công dụng khác nhau. Ví dụ như vật liệu
xây dựng: sắt, thép, tôn các loại cũng được xếp cùng nhóm với các loại phụ tùng để
sản xuất rượu, cồn. Công ty cần xem xét lại việc sắp xếp trên TK 152.
2.2.3. Hạch toán chi tiết theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển hiện còn
nhiều bất cập.
Phương pháp hạch toán chi tiết nguyên vật liệu mà công ty đang sử dụng là

2.2.5. Kế toán nghiệp vụ xuất bán nguyên vật liệu chưa đúng chế độ quy định
hiện hành cụ thể
Ở công ty, khi bán rượu cho khách, khách hàng thường mua thêm vỏ hộp để
đề phòng hộp rượu bị hỏng. Khi nghiệp vụ nay xảy ra, kế toán hạch toán như sau:
Nợ TK155:
Có TK152:
Sau đó, kế toán phản ánh giá vốn và căn cứ vào hoá đơn GTGT phản ánh
doanh thu bán hộp rượu như là doanh thu bán thành phẩm
BT1: Nợ TK632:
Có TK155:
BT2: Nợ TK111,131…:
Có TK511: Doanh thu bán rượu
Có TK3331: Thuế GTGT
Theo em, việc hạch toán như trên là không đúng chế độ. Mặc dù Công ty có xí
nghiệp bao bì sản xuất hộp rượu nhưng mục đích là cung cấp vật liệu cho đóng gói
rượu thành phẩm. Khi bao bì hoàn thiện quá trình sản xuất thì nhập Kho Bao bì (Kho
chứa vật liệu) chứ không nhập kho thành phẩm. Công ty cần xem xét lại việc hạch
toán này.
2.2.6. Phương pháp kế toán hàng mua đang đi đường
Công ty hiện đang mua vật liệu của nhiều nhà cung cấp, có những nhà cung
cấp ở xa tận Thành phố Hồ Chí Minh (Hãng Rôtec- mua hưong cốm...) hay ở nước
ngoài (Indonexia-nhập khẩu nút chai ...). Do đó dễ xảy ra trường hợp cuối tháng
hoá đơn về nhưng hàng chưa về nhập kho. Trên thực tế công ty thường không phản
ánh nghiệp vụ này mà chờ đến khi hàng về mới phản ánh. Như vậy, thông tin về
hàng tồn kho của doanh nghiệp vào thời điểm cuối tháng sẽ không chính xác trong
khi số hàng đang đi đường đó nhiều khi công ty đã phải thanh toán một phần tiền.
2.2.7. Phương pháp kế toán phế liệu thu hồi
Do đặc điểm của quy trình sản xuất rượu là một dây chuyền đồng bộ khép kín,
không có sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ nên không có phế liệu thu hồi. Phế
liệu thu hồi chỉ phát sinh ở xí nghiệp tổng hợp, khi xuất bán lại do kế toán thành

+
Chi phí
mua thực
tế
-
Chiết khấu
thương mại,
giảm giá (nếu
có)
+
Thuế nhập
khẩu
Đơn giá vật liệu
nhập kho
=
Giá trị vật liệu thực tế nhập mua
Số lượng vật liệu
1.2. Hoàn thiện việc tính giá nguyên vật liệu xuất kho
Như ở phần trên đã trình bày, việc tính giá vật liệu xuất kho theo các phương
pháp mà công ty đang áp dụng tuy đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không
cao. Hơn nữa, dồn công việc tính giá vào cuối tháng nên ảnh hưởng đến công tác
quyết toán nói chung. Để cho việc hạch toán giá xuất nhanh chóng kịp thời thì
công ty nên chọn phương pháp tính giá vật liệu xuất kho theo phương pháp hệ số
giá: sử dụng giá hạch toán để tính giá trị vật liệu xuất kho và cuối kỳ sẽ tiến hành
điều chỉnh. Giá hạch toán có thể lấy là giá kế hoạch hay giá mua vật liệu ở một
hệ số giá
=
giá trị thực NVL tồn ĐK + giá trị thực NVL nhập trong kỳ
giá trị HT NVL tồn ĐK + giá trị HT NVL nhập trong kỳ
thời điểm nào đó hoặc giá vật liệu bình quân tháng trước. Khi xuất kho, toàn bộ

quân cả kỳ dự trữ đó là: giúp cho việc tính giá NVL xuất được kịp thời mà không
phải chờ đến cuối tháng, do đó không ảnh hưởng đến công tác quyết toán chung.
1.3. Hoàn thiện việc phân loại và quản lý nguyên vật liệu
Là một doanh nghiệp sản xuất nên khối lượng vật liệu là rất lớn, để có thể
quản lý một cách chi tiết và đầy đủ các loại vật liệu thì công ty phải phân loại một
cách chính xác và khoa học. Tài khoản 152.2 -“nguyên vật liệu khác” không nên
có nhiều chủng loại vật liệu như hiện nay. Công ty nên mở thêm tiểu khoản 152.5
“Vật liệu xây dựng". Như vậy, tài khoản 152 tại công ty sẽ được chi tiết thành các
tiểu khoản như sau:
- TKl52.l: Nguyên vật liệu chính (sắn lát, sắn bột, gạo nếp, khoai tây…)
- TK152.2: Nguyên vật liệu phụ (nhãn, chai, két đựng rượu, hương liệu,
phẩm màu, hoá chất, ...)
- TK152.3: Nhiên liệu (Dầu, xăng, nhót )
- TKl52.4: Phụ tùng thay thế (vòng bi, phụ tùng máy móc, dây điện,
que hàn, aptomát ...)
- TKl52.5: Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản (tôn, thép, cát, sỏi…)
- TK 152.8: Vật liệu khác (là những vật liệu không thuộc các nhóm trên
như băng dính, ghim, giấy, xà phòng,…).
Bên cạnh đó, công ty cũng nên lập “Sổ danh điểm nguyên vật liệu” cho
từng kho, theo từng loại kích thước, công dụng, tính chất của từng loại vật liệu. Bộ
phận quản lý vật liệu có thể dùng số tự nhiên để quy ước dần theo chủng loại
nguyên vật liệu sau:
Biểu số 25:
SỔ DANH ĐIỂM VẬT LIỆU
ST Danh điểm Tên nguyên vật liệu đơn Đơn giá Ghi chú
T
vị
tính
hạch toán
1 152.1


Nhiên liệu
Xăng
Xăng 90
Xăng 92
4 152.4
152.4.1
152.4.2
Vật liệu phụ trợ
ốc vít
Que hàn
5 152.5
152.5.1
152.5.1.1
152.5.1.2
Vật liệu xây dựng
Thép
Thép AI
Thép AII
6 152.8 Vật liệu khác
152.8.1
152.8.2
Chổi thông lò
Dẻ lau nồi hơi
Để hỗ trợ cho công tác quản lý vật liệu thì công ty cần tạo lập hệ thống kho
tàng đầy đủ, cần thiết cho việc quản lý vật liệu dự trữ. Bởi vì vật liệu về thường
chưa đưa vào sử dụng ngay mà phải qua quá trình bảo quản tại kho. Để có thể đảm
bảo chất lượng vật liệu cũng như nắm sát tình hình vật liệu hiện có của công ty thì
việc trang bị và nâng cấp hệ thống kho là rất cần thiết. Cần có sự chuyên môn hoá
tại từng kho vật liệu trong việc bảo quản, mỗi loại vật liệu có những tính chất lý,

quy cách, vật tư

số
ĐV
tính
Hạn mức
được duyệt
trong tháng
Số lượng Đơn
giá
Thành
tiền
Ngày … Cộng
Cộng
Người nhận ký
Ngày… tháng… năm 200
Phụ trách BPSD
(Ký, họ tên)
Phòng KHVT
(Ký, họ tên)
Thủ kho
(Ký, họ tên)
Số lượng thực xuất trong tháng do thủ kho ghi căn cứ vào hạn mức được
duyệt theo yêu cầu sử dụng và số lượng thực xuất từng lần. Phòng kế hoạch vật tư
căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch sản xuất trong tháng và định mức sử dụng vật tư cho
một đơn vị sản phẩm để xác định hạn mức được duyệt trong tháng cho từng bộ phận
sử dụng.
Hạn mức được
duyệt trong tháng
= Số lượng sản phẩm

SỔ ĐỐI CHIẾU LUÂN CHUYỂN
Tháng…năm…
Kho:
Số phiếu Nhập
trong
tháng
Luân chuyển trong
tháng
Số dư
cuối
tháng
Nhập Xuất
Phiếu nhập kho
Bảng kê nhập
Sổ đối chiếu luân chuyển
Bảng kê nhập
Sổ Cái TK 152
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Dan
h
Tên
NV
Đơ
n
PN PX SL TT SL TT SL TT
S
L
TT
So với “Sổ đối chiếu luân chuyển” cũ thì công ty nên thay cột “chi phí khác”

- Cuối niên độ kế toán ở bộ phận sử dụng còn tồn vật tư thì chuyển về kho lưu giữ
đã quy định rồi mới tiến hành kiểm kê. Muốn vậy, vào đợt lĩnh vật tư cuối cùng
của năm phòng Kế hoạch vật tư phải dự tính sao cho số tồn kho cuối cùng ở xí
nghiệp là ít nhất giảm bớt thời gian: chi phí cho việc tập trung vật liệu thừa.
- Để đối chiếu số liệu trên sổ kế toán với kết quả kiểm tra kho, kế toán chỉ cần giở
“Sổ đối chiếu luân chuyển vật liệu” của kho tương ứng. Tuy nhiên để làm được
điều trên thì hệ thống kho tàng của công ty phải được quản lý tốt và công ty đã mở
“sổ đối chiếu luân chuyển" riêng cho từng kho chứ không chỉ có “Sổ đối chiếu
luân chuyển” tổng hợp.
2.3. Hoàn thiện hạch toán nghiệp vụ thanh toán với người bán
Công ty nên lập “Sổ chi tiết thanh toán với người bán” đối với các nhà cung cấp
thường xuyên và quan trọng để theo dõi chi tiết từng lần mua vật tư và số dư tai
mỗi thời điểm cho chính xác. Cuối tháng, kế toán lấy số tổng cộng trên “Sổ chi tiết
thanh toán với người bán” để vào “Nhật ký- chứng từ số 5” . Mẫu “Sổ chi tiết
thanh toán với người bán” như sau:
Biểu số 29
SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN
Tháng… năm..


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status