Những lí luận cơ bản về hiệu quả cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và
nhỏ của Ngân hàng Thương mại
1.1> Các vấn đề cơ bản về Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1. Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo Luật Doanh Nghiệp 2005 số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm
2001, Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ
bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNVVN có thể chia thành ba loại căn
cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và
doanh nghiệp vừa, theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (World Bank).
Trong đó :
- Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10
người (tổng tài sản có trị giá không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng
năm không quá 100.000 USD)
- Doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người (tổng tài
sản có trị giá không quá 3.000.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá
3.000.000 USD)
- Doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động (tổng tài sản có trị giá
không quá 15.000.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15.000.000
USD)
Ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, người ta có những tiêu chí riêng để phân loại,
xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ .
* Tại Thái Lan, Nhật Bản, Malaisia, việc đánh giá Doanh nghiệp vừa và
nhỏ phải gắn với đặc điểm của từng ngành, phải tính tới số lượng Vốn và Lao
động thu hút được trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ở Nhật Bản, tiêu chí xác định DNVVN được phân chia theo vốn và số lao
động, căn cứ vào lĩnh vực hoạt động cụ thể:
Bảng1.1: Tiêu chí xác định DNVVN ở Nhật Bản
Số lao động Vốn (triệu USD)
50
Không quá 50
(1,25 triệu
USD)
51 – 200
Từ 50 – 200
(1,25tr – 5tr USD)
Bán buôn
Không quá
25
Không quá 50
(1,25 triệu
USD)
26 – 50
Từ 50 – 100
(1,25tr – 2,5tr USD)
Bán lẻ Không quá
15
Không quá 30
(0,75 triệu
16 - 30 Từ 30 – 60
(0,75tr – 1,75tr
USD) USD)
Nguồn: Ngân hàng phát triển DNVVN – Thái Lan (SME Bank)
Ở Malaysia, công ty phát triển doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ
(SMIDEC) - một cơ quan trực thuộc Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế đã
đưa ra một định nghĩa về DNVVN, dần dần được chấp nhận một cách rộng rãi.
Theo đó DNVVN được định nghĩa chung là một công ty, một xí nghiệp hay
một doanh nghiệp có doanh thu hàng năm vào khoảng 25 triệu Ringit (tương
đương 6,6 triệu USD) và không có quá 150 công nhân làm việc cả ngày.
hỏi người lao động phải có trình độ quá cao, hoạt động sản xuất kinh doanh
trong hầu khắp các lĩnh vực của nền kinh tế.
• Các DNVVN thể hiện được mối quan hệ hợp tác lẫn nhau trong hoạt
động sản xuất, buôn bán, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, đôi bên cùng có lợi.
• DNVVN là nơi thu hút được lao động với chi phí thấp, do không đòi hỏi
quá cao về trình độ, góp phần giải quyết việc làm cho những lao động thất
nghiệp tạm thời sau các mùa vụ.
• DNVVN đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng miền, do số lượng
đông đảo, có cơ sở ở nhiều nơi, tham gia vào hầu khắp các lĩnh vực hoạt động
sản xuất kinh doanh, nhạy cảm cao với các hoạt động sản xuất kinh doanh.
• DNVVN luôn gặp khó khăn trong vấn đề Vốn và Công nghệ. Khả năng
tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài của DNVVN chưa được cao, gặp nhiều trở
ngại, trình độ khoa học công nghệ trong DNVVN còn thấp.
Với những đặc điểm trên, DNVVN có các ưu, nhược điểm sau:
* Ưu điểm của các DN VVN
- Năng động, hoạt động sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực và luôn
tỏ ra nhạy bén, thích ứng kịp thời với những diễn biến, thay đổi của thị
trường, của nền kinh tế.
- Luôn thu hút được một lực lượng đông đảo lao động, giúp giải quyết
vấn đề thất nghiệp tạm thời sau các mùa vụ ở các địa phương.
- DNVVN có thể nhanh chóng tiến hành đổi mới thiết bị công nghệ để có
thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác.
- Hệ thống, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, năng động nên tiết kiệm được chi phí
quản lý của doanh nghiệp, góp phần làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- DNVVN hoạt động đa dạng trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế. Do
đó, việc mở rộng tín dụng cho các DN VVN sẽ giúp bôi trơn hoạt động sản xuất
kinh doanh của nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển.
* Nhược điểm của các DN VVN
- Nguồn tài chính của DNVVN còn hạn chế nên vốn kinh doanh của
doanh nghiệp còn hạn hẹp dẫn đến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong
theo khu vực và thành phần kinh tế, để có thể tạo ra được một cơ cấu kinh tế
có tính đổi mới hơn và thích ứng cao hơn. Do DNVVN hoạt động trong nhiều
ngành nghề khác nhau, khi trao đổi buôn bán sẽ tạo ra được sự chuyển dịch về
vốn, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Giúp tăng tỷ
trọng đóng góp của các ngành thương mại, dịch vụ, chuyển dịch nền kinh tế
theo hướng công nghiệp phát triển. DNVVN đóng góp đáng kể vào việc duy trì
và phát triển các ngành nghề truyền thống, sản xuất ra được các sản phẩm mang
đậm bản sắc dân tộc. DNVVN có thể kịp thời đáp ứng được các nhu cầu tiêu
dùng, mua sắm ngày càng phong phú, đa dạng của người dân, của xã hội mà các
doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn hơn không thể đáp ứng ngay lập tức
được.
• Đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hoá và cung ứng dịch vụ.
DNVVN có mặt ở nhiều địa phương, là nơi sẵn có các nguồn nguyên liệu như :
nông sản, dược liệu, lợi thế về các ngành nghề thủ công truyền thống… đã tạo
ra được số lượng hàng hóa lớn, đa dạng, nhiều chủng loại, không những đáp
ứng được nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu được. DNVVN vừa trực tiếp
thu mua nguyên liệu, sản xuất, vừa liên kết với các doanh nghiệp khác, tạo nên
vòng lưu thông hàng hóa khép kín, vừa có đầu vào sản xuất, vừa có đầu ra tiêu
thụ.
• Phát triển gắn bó chặt chẽ với các Doanh nghiệp có quy mô hoạt động
lớn, tạo mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ lẫn nhau.
Nền kinh tế của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới hiện nay, sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang chuyển dần từ cạnh tranh giá cả sang
cạnh tranh về chất lượng và công nghệ. Những loại hàng hóa có chất lượng cao,
mang tính sáng tạo, phong phú, đa dạng về kiểu dáng sẽ chiếm ưu thế trên thị
trường. Trong điều kiện này, lợi thế về qui mô giữa các doanh nghiệp sẽ bị hạn
chế một cách đáng kể. Theo đó, sự phát triển của hoạt động chuyên môn hoá và
hợp tác hoá đã cho thấy việc áp dụng mô hình sản xuất kiểu vệ tinh là phù hợp
với điều kiện và khả năng phát triển của mỗi nước. Trong nền kinh tế các
DNVVN sẽ là vệ tinh của các doanh nghiệp lớn để có thể gắn bó chặt chẽ và
hưởng đến sự phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó các
phương thức huy động vốn của DNVVN cần được đa dạng hoá và các DNVVN
cần nhạy bén hơn trong việc tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài để có thể khai
thác được mọi nguồn lực trong nền kinh tế.
* Các nguồn cung cấp vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNVVN ở nước ta chiếm 96% trong tổng số trên 370.000 doanh nghiệp
hoạt động theo Luật doanh nghiệp 2005, đóng góp hàng năm trên 30% GDP, tạo
ra khoảng 53% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn và 30% lực lượng lao
động trong cả nước. Mặc dù thể hiện được vai trò quan trọng của mình đối với
nền kinh tế nhưng các DNVVN gặp rất nhiều khó khăn trong vay vốn sản xuất
kinh doanh. Đây là vấn đề cần giải quyết nhanh chóng, bởi nguồn cung cấp vốn
từ bên ngoài không thiếu. Các nguồn cung cấp vốn cho DNVVN bao gồm:
• Nguồn vốn tín dụng từ các Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác
Các DNVVN hiện nay vẫn thực hiện huy động vốn từ tín dụng Ngân hàng
là chủ yếu. Theo đó, ước tính có đến trên 82% lượng vốn cung ứng cho
DNVVN là từ kênh Ngân hàng. Nhưng theo một điều tra mới đây của Cục Phát
triển doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch - Đầu tư), chỉ có 34,48% DNNVV có khả
năng tiếp cận được các nguồn vốn của các Ngân hàng; 37,54% khó tiếp cận và
33,86% không tiếp cận được. Nguồn vốn này khó tiếp cận do các DNVVN
không đáp ứng đầy đủ thủ tục cấp tín dụng của Ngân hàng và quy trình cho vay
tại các Ngân hàng vẫn còn quá rườm rà.
• Nguồn vốn từ tín dụng thương mại
Đây là nguồn vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng được từ các bên thứ 3 (trừ
Ngân hàng), ví dụ như : trả chậm lương cho công nhân, mua chịu vật tư hàng
hoá, nộp chậm lại thuế phải nộp… Phần vốn chiếm dụng này không bị mất phí,
giúp Doanh nghiệp tiệt kiệm được thuế thu nhập doanh nghiệp, nhưng nếu chậm
trễ trong việc trả nợ sẽ gây ra khó khăn cho doanh nghiệp.
•
Nguồn vốn trên thị trường tự do
Nguồn vốn này do doanh nghiệp huy động từ các doanh nghiệp, tổ chức,
1.2.2. Các hình thức cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Căn cứ vào thời hạn vay có các hình thức : Cho vay ngắn hạn, Cho vay
Trung và dài hạn
- Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng có : Cho vay Thấu chi, Cho vay từng lần,
Cho vay theo hạn mức, Cho vay luân chuyển..
- Căn cứ vào Tài Sản Đảm bảo có : Cho vay có TSĐB, Cho vay không có
TSĐB
- Các hình thức cho vay khác..
1.2.2.1. Cho vay từng lần
• Khái niệm :
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách
hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn
mức thấu chi. Khách hàng chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất kinh
doanh đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào
một số giai đoạn nhất định của chu kì sản xuất kinh doanh.
• Việc xét duyệt cho vay, Ngân hàng sẽ dựa trên cơ sở hợp đồng kinh tế 2 bên,
đơn đặt hàng, thư tín dụng, các hóa đơn bán hàng, bảng kê bán thành phẩm hoặc
thành phẩm.
• Ngân hàng áp dụng phương thức cho vay từng lần khi khách hàng vay có
nhu cầu vay vốn không thường xuyên. Mỗi lần có nhu cầu vay vốn, khách hàng
phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích
khách hàng và kí hợp đồng cho vay.
• Mức cho vay được xác định trên cơ sở:
- Nhu cầu vay vốn cho từng phương án sản xuất kinh doanh.
- Khả năng nguồn vốn của Ngân hàng.
- Giá trị của bảo đảm tín dụng của khách hàng.
Nhu cầu vay = ∑ Nhu cầu thực hiện dự án – Vốn tự có – Vốn khác
• Thời hạn cho vay:
- Thời hạn cho vay được xác định cho mỗi lần vay cụ thể, và được xác định theo
chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng vay.
xuyên qua ngân hàng.
- Giải ngân theo tài khoản vãng lai, có thể dư nợ, có thể dư có.
- Quản lý của Ngân hàng tiến hành sau cho vay.
- Hạn mức thấu chi được xác định xuất phát từ cả phía người vay và Ngân
hàng. Nó có thể là thoả thuận chính thức giữa Ngân hàng và người vay liên