THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI
NHÁNH HOÀNG MAI
2.1 Tổng quan về ngân hàng công thương
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Vietinbank
Ngân hàng công thương Việt Nam tên viết tắt là Vietinbank, là ngân hàng
thương mai cổ phần đầu tiên tại Việt Nam được thành lập năm 1988, với mục
tiêu phát triển trong lĩnh vực công thương. Tiền thân của ngân hàng thương mại
cổ phần công thuông Việt Nam là ngân hàng công thương Việt Nam được viết
tắt là Incombank, và được đổi thành Vietinbank vào năm 2007. Khi thành lập
Vietinbank chỉ có số vốn điều lệ gần 5000 tỷ VND.
Tháng 10 năm 1991, thống đốc NHNN Việt Nam cho phép NH thực hiện
thêm một số hoạt động kinh doanh ngoại tệ tiền gửi, cho vay, mua bán kiều hối
và thanh toán ngoại tệ trong lãnh thổ Việt Nam.
Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt đáng chú ý trong chiến lược kinh
doanh của Vietinbank, dó là việc chú trọng mở rộng các hoạt động thương mại
nhằm vào các đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các
cá nhân tổ chức tài chính khác trong lĩnh vực công thương.
Trong năm 2008, Vietinbank hoàn thiện dự án nâng cấp hạ tầng, dữ liệu
thông tin phục vụ cho kinh doanh, quản trị điều hành theo tiêu chuẩn quốc tê.
Cũng đầu trong năm này Vietinbank mở thêm nữa các chi nhánh khắp 3 miền,
mở rộng kết nối hệ thống thẻ của ngân hàng.
Qua 5 lần tăng vốn điều lệ, hiện nay ngân hàng thương mại cổ phần công
thương đã có số vốn điều lệ hơn 63000 tỷ VND, tới nay qua hơn 20 năm hoạt
động, Vietinbank đã có mạng lưới ngày càng mở rộng, và là ngân hàng 8 năm
liên tục được NHNN xếp loại A, và được công nhận là ngân hàng phát triển toàn
diện với hoạt động ổn định, an toàn và hiệu quả. Vietinbank luôn giữ vững niềm
tin khách hàng bằng chất lượng sản phẩm dịch vụ và phong cách nhiệt tình,
chuyên nghiệp của nhân viên.
2.1.2 chức năng, nhiệm vụ
- phương châm hoạt động.
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có nhiệm vụ và quyền hạn cao nhất trong cơ
cấu tổ chức của một NHTMCP. Đại hội đồng cổ đông cử ra Ban kiểm soát để giám
sát các hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban điều hành.
Hội đồng quản trị bao gồm những cổ đông lớn, nắm giữ một tỷ lệ cổ phần
nhất định. Hội đồng quản trị sẽ ra những quyết định lớn, và giám sát hoạt động
của Ban điều hành.
Dưới Hội đồng quản trị có Ủy ban Quản lý tài sản và Ủy ban chính sách tín
dụng. Có chức năng và nhiệm vụ quản lý tài sản và quản lý tín dụng, giám sát
những hoạt động liên quan của Ban điều hành.
Ban điều hành chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát.
Ban điều hành bao gồm: Tổng giám đốc điều hành và 4 Phó tổng giám đốc.
Tổng Giám đốc điều hành chịu sự kiểm tra giám sát của Hội đồng quản trị
có chức năng nhiệm vụ là điều hành mọi hoạt động của NH và quản lý rủi ro thị
trường và thanh khoản, nguồn vốn và chiến lược-hợp tác -marketting.
Dưới Tổng giám đốc điều hành có 4 Phó tổng giám đốc: Phó tổng giám đốc
phụ trách mảng kiểm tra xét duyệt tín dụng, Phó tổng giám đốc phụ trách mảng
dịch vụ NHDN và phát triển kinh doanh, Phó tổng giám đốc phụ trách dịch vụ
NH cá nhân, Phó tổng giám đốc phụ trách tài chính và cung ứng dịch vụ. Phó
tổng giám đốc phụ trách tài chính và cung ứng dịch vụ còn quản lý rủi ro hoạt
động. Ba Phó tổng giám đốc còn lại thì quản lý rủi ro tín dụng.
Dưới Ban điều hành còn một loạt các phòng ban chức năng hỗ trợ quản lý
và kiểm toán nội bộ:
+ Văn phòng: hỗ trợ Ban điều hành trong quản lý.
+ Phòng thanh tra kiểm toán nội bộ: kiểm soát nội bộ
+ Phòng tài chính kế toán: quản lý, ghi chép tình hình tài chính của NH
+ Phòng đầu tư: phụ trách mảng đầu tư của NH.
+ Phòng phát triển kinh doanh: quản lý cả quá trình trước, trong và sau khi
cho khách hàng vay vốn
+ Phòng thanh toán quôc tế: mở L/C, bảo lãnh...
+ Phòng nghiệp vụ, ngoại hối, ngân hàng: kinh doanh ngoại tệ, đầu tư vào
Được NHNN Việt Nam chấp
thuận theo
Ngày
50000 QĐ số 58/1999/QĐ-NHNN5 18/3/99
58000 QĐ số 443/1999/QĐ-NHNN5 21/12/99
64170 QĐ số 424/2000/QĐ-NHNN5 22/99/2000
69000 QĐ số 498/2000/QĐ-NHNN5 05/12/2000
76044 QĐ số 87/NHNN-QLTD 05/02/2002
89000 QĐ số 576/ NHNN-QLTD 06/09/2002
150000 QĐ số 170/NHNN-QLTD 07/04/2003
200000 QĐ số 45/NHNN-HAN7 11/02/2005
300000 QĐ số 89/NHNN-HAN7 21/01/2006
Ngày 25/12/2007, Hội đồng quản trị Vietinbank đã chính thức thông báo
việc hoàn thành kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 1.600 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng
sau khi phát hành cổ phiếu đợt II. Đây là mục tiêu đã được Đại hội cổ đông đặt
ra từ đầu năm 2007. Kết quả này đã thể hiện rõ sự tăng trưởng bền vững, cấu
trúc tài chính lành mạnh của Vietinbank trong năm 2007.
Việc tăng vốn là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hội nhập WTO, nhất là
khi thị trường tài chính tiền tệ đã có những dấu hiệu cạnh tranh khốc liệt. Tuy
nhiên, đây cũng là minh chứng cho sự phát triển ổn định, hiệu quả của
Vietinbank khi vốn điều lệ tăng gấp đôi so với năm 2006. Có thể nói 2007 là
năm có tốc độ tăng trưởng nhanh, mạnh với các chỉ số tăng từ 30% đến 100%
cùng với nhiều giải thưởng trong và ngoài nước ghi nhận sự phát triển toàn diện
của Vietinbank. Việc tăng vốn lần này là một trong những bước chiến lược
nhằm tăng cường năng lực tài chính, mở rộng mạng lưới hoạt động, đầu tư cơ
sở vật chất, công nghệ, chuẩn bị cho việc ra đời các sản phẩm cạnh tranh của
Vietinbank trong thời gian tới.
Vietinbank không chi tăng vốn điều lệ mà công việc tao lập vốn của
Vietinbank còn không ngừng tăng lên, được thể hiện ở chỗ trong các năm
Vietinbank luôn nỗ lực huy động vốn trong các kênh tài chính khác nhau, đặc
đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hàng cũ, tiếp thị các doanh nghiệp mới để
nâng cao số dư tiền gửi tại NH trên cơ sở duy trì một lượng lớn khách hàng gắn
bó.
Tổng huy động vốn của ngân hàng trong năm 2009 là 16222 tỷ đồng giảm
19,37 % so với năm 2008, trong năm 2008 đạt 19970 tỷ đồng,tăng trưởng
105,13% so với năm 2007 và vượt 50% kế hoặch được giao,trong đó huy động
tiết kiệm tăng 30.4%,huy động tiền gửi khách hang tăng 299% và huy động từ
thị trường liên ngân hang tăng 122,4%.
Biểu đồ:
b) Chỉ số an toàn vốn.
Một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức an toàn của NH là tỷ trọng vốn
tự có so với tổng tài sản có rủi ro. Điều 81- Luật các tổ chức tín dụng 12/1997
đã quy định tổ chức tín dụng phải duy trì tỷ lệ đảm bảo an toàn này. Theo thông
lệ quốc tế, tỷ trọng này tối thiểu là 8%. Năm 2004 tỷ lệ an toàn vốn của
Vietinbank là 8,44%. Tỷ lệ này năm 2005 đạt 8,89%. Đây cũng là một tiêu chí
để World Bank tăng hạn mức cho Vietinbank trong Dự án tài chính Nông thôn
từ 49 tỷ đồng năm 2004 lên 85 tỷ đồng năm 2006. Chỉ số an toàn vốn của
Vietinbank trong năm 2006 đạt 14%.Đến năm 2007 chỉ số an toàn vốn của
Vietinbank là 16%.Đây là chỉ số mà Vietinbank đánh giá là tối ưu trong hoạt
động tài chính ở một thị trường đang phát triển và tiềm ẩn nhiều rủi ro như Việt
Nam.
2.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động vốn của ngân hàng
thương mại cổ phần công thương Hoàng Mai