LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI các nGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 74

LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.1. Khái niệm NHTM
Ngân hàng là một tổ chức quan trọng bậc nhất đối với nền kinh tế của các quốc
gia. Ngân hàng bao gồm nhiều loại như: Ngân hàng trung ương, ngân hàng phát triển,
ngân hàng chính sách nhưng được đề cập đến nhiều nhất, chiếm nhiều nhất về quy mô
cũng như số lượng phải kể đến các NHTM. Thường thường, khi đề cập đến ngân hàng
là chúng ta muốn nhắc đến NHTM.
Dựa vào cơ cấu tổ chức hay là loại hình sở hữu mà chúng ta có thể chia NHTM
thành các loại hình khác nhau. Tuy nhiên, khái niệm chung nhất về NHTM thì được đưa
ra thông qua hoạt động của NHTM.
“NH là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục những dịch vụ tài
chính đa dạng , đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm,thanh toán và thực hiện nhiều dịch vụ tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” ( Theo Quản trị
ngân hàng thương mại của Peter S. Rose )
Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam thì “ Hoạt động ngân hàng là hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền
gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của NHTM.
Có thể chia hoạt động của NHTM thành các hoạt động cơ bản sau: hoạt động huy động
vốn, hoạt động tín dụng, hoạt động thanh toán quốc tế và các hoạt động khác.
1.1.2.1. Huy động vốn
Vốn là yếu tố cần để duy trì hoạt động của bất kì doanh nghiệp nào, ngân hàng
không phải là ngoại lệ. Hoạt động huy động vốn là hoạt động cơ bản nhất, tạo tiền đề
cho các hoạt động khác của ngân hàng.
NHTM có thể huy động vốn bằng nhiều cách như huy động tiền gửi, huy động
từ tiền vay hay huy động thêm vốn chủ sở hữu.
* Huy động tiền gửi thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn huy động
của ngân hàng. Nhận tiền gửi là hoạt động truyền thống của các ngân hàng. Tiền gửi
được phân ra thành nhiều loại khác nhau như tiền gửi giao dịch, tiền gửi có kì hạn, tiền

ngân hàng.
* Một nguồn không thể không nhắc đến trong hoạt động huy động vốn của
NHTM là nguồn vốn chủ sở hữu. Ngân hàng có thể tăng vốn thông qua kênh vốn chủ
bằng các nguồn: Lợi nhuận giữ lại, phát hành thêm cố phiếu đối với các NHTM cổ
phần, sử dụng các khoản vay có thể chuyển đổi. Tuy nhiên, việc gia tăng vốn chủ sở
hữu thường không để nhằm mục đích kinh doanh mà để trang bị thêm cơ sở vật chất,
mở rộng mạng lưới chi nhánh và quy mô từ tăng vốn chủ thông thường không lớn.
Nguyên nhân là do nếu lợi nhuận giữ lại quá nhiều thì sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của
chủ sở hữu ngân hàng, việc phát hành thêm cổ phiều không phải thích phát hành thêm
bao nhiêu cũng được mà phụ thuộc nhiều vào các cơ quan có thẩm quyền cũng như sự
phát triển của thị trường tài chính, các khoản vay có thể chuyển đổi cũng như vậy.
1.1.2.2. Hoạt động Tín dụng.
Ngân hàng huy động vốn xong nếu chỉ giữ tiền trong két thì tiền không thể sinh lãi.
Trong khi đó, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho các nguồn huy động. VÌ vậy, hoạt động sử
dụng vốn đóng vai trò rất quan trọng đối với các NHTM. Tín dụng là hoạt động đem lại
nguồn thu lớn nhất cho các NHTM.
NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức: Cho vay;
bảo lãnh; chiết khấu thương phiếu, cho thuê tài chính.
* Cho vay là việc ngân hàng đồng ý cho khách hàng của mình sử dụng vốn của
ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Khi kết thúc thời hạn cho vay, ngân
hàng sẽ thu về cả vốn và lãi. Cho vay có thể chia thành nhiều loại khác nhau như:
Khi căn cứ vào thời hạn khoản vay có thể chia thành cho vay ngắn hạn, cho vay
trung hạn và cho vay dài hạn.
Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn dưới 1 năm.
Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm.
Khi căn cứ vào tài sản đảm bảo có thể chia cho vay thành cho vay có tài sản đảm
bảo và cho vay không cần tài sản đảm bảo. Thông thường chỉ các khách hàng uy tín,
các khách hàng lớn hoặc theo chỉ đạo của Chính Phủ thì ngân hàng mới thực hiện cho
vay mà không cần tài sản đảm bảo.

các phương tiện, máy móc, dây chuyền thiết bị… những tài sản có giá trị lớn mà thường
doanh nghiệp rất cần trong sản xuất kinh doanh nhưng lại khó có khả năng mua được.
1.1.2.3. Hoạt động Thanh toán quốc tế.
Ngày nay, với xu hướng hội nhập của kinh tế thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu
đóng một vai trò quan trọng, không thể thiếu đối với nền kinh tế của bất kì quốc gia
nào. Để phát triển hoạt động xuất nhập khẩu thì sự tham gia của ngân hàng là điều
không thể thiếu, việc tham gia của ngân hàng vào hoạt động này sẽ xóa đi được các rào
cản về địa lý khi cung ứng các loại hình dịch vụ thanh toán đảm bảo cho hoạt động
thương mại quốc tế được thông suốt. Chính vì lí do đó mà hoạt động thanh toán quốc tế
ngày càng trở nên phổ biến và đem lại lợi nhuận đáng kể cho các ngân hàng.
Các phương thức ngân hàng dùng trong thanh toán quốc tế: Chuyển tiền, Ủy
thác thu, Thanh toán bù trừ, phương thức mở tài khoản, Thanh toán qua tài khoản treo ở
nước ngoài, Thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ, Thư đảm bảo trả tiền.
Trong đó phương thức tín dụng chứng từ là được sử dụng phổ biến nhất, rộng rãi nhất
vì nó đảm bảo quyền lợi cho cả người mua và người bán.
Chuyển tiền là việc người mua yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số
tiền nhất định cho người bán theo giấy ủy nhiệm.
Ủy thác thu: Sau khi người bán giao hàng sẽ phát hành hối phiếu đòi tiền bên
mua, người bán nhờ ngân hàng thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu.
Thanh toán bù trừ: Được thực hiện dựa trên sự thỏa thuận của các thành viên
trong tổ chức. Tại cùng một thời điểm nhất định, các tổ chức này sẽ tiến hành hạch toán
song phương các khoản nợ trước đó.
Thanh toán theo phương thức mở tài khoản: Người bán sẽ mở tài khoản để ghi
nợ người mua sau khi giao hàng. Sau đó, đến từng thời kì thỏa thuận người mua trả tiền
cho người bán.
Thanh toán qua tài khoản treo ở nước ngoài: Với phương thức thanh toán này,
người mua và người bán sẽ thảo thuận treo tài khoản ở nước của người mua để ghi có
số tiền của người bán, số tiền này cũng sẽ dùgn để mua lại hàng hóa ở nước người mua.
Thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ: Nếu sử dụng phương thức này
người mua sẽ yêu cầu ngân hàng phục vụ mình mở thư tín dụng. Sau khi ngân hàng

hàng thường phải chấp nhận cam kết sẽ tài trợ ở mọt mức nào đó cho các chính sách,
hoạt động của Chính Phủ để nhận được giấy phép thành lập.
Với việc ngày càng nhiều các tổ chức tín dụng xuất hiện và cung cấp một số sản
phẩm giống với ngân hàng thì để tăng tính cạnh tranh các ngân hàng cũng đang ngày
càng mở rộng phạm vi hoạt động của mình. Hiện nay, đa số các NHTM đều cung cấp
dịch vụ bảo hiểm, môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ ủy thác và tư vấn
và cung cấp các dịch vụ đại lý… Các loại hình dịch vụ này góp phần không nhỏ vào
việc tăng lợi nhuận cho ngân hàng, quảng bá hình ảnh của ngân hàng đối với các tổ
chức, các doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế.
1.2. Hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM
1.2.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng:
Với việc ngày càng xuất hiện nhiều các công ty tài chính lớn, các tổ chức tín
dụng cạnh tranh với các NHTM trong lĩnh vực cho vay nên tính cạnh tranh trong lĩnh
vực này ngày càng quyết liệt. Đó là nguyên nhân làm thị phần cho vay của các ngân
hàng giảm sút, buộc ngân hàng phải mở rộng thị phần sang mảng cho vay tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân, hộ gia
đình. Đây là nguồn tài chính giúp người tiêu dùng trang trải cho nhu cầu cuộc sống về
các vấn đề như nhà ở, phương tiện đi lại, sinh hoạt, học tập,du lịch, chăm sóc sức khoẻ
…trước khi họ đủ khả năng tài chính để hưởng thụ.
Như vậy, có thể thấy cho vay tiêu dùng chính là quan hệ vay mượn có hoàn trả
cả gốc và lãi giữa NHTM và người tiêu dùng. Các khoản cho vay tiêu dùng sẽ kích
thích nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và giúp người dân được hưởng một mức sống
cao hơn.
1.2.2. Đặc điểm cho vay tiêu dùng
- Đối tượng cho vay: Khách hàng là cá nhân và các hộ gia đình và là những cá
nhân hoặc hộ gia đình đầy đủ năng lực pháp lý,gồm nhiều thành phần như công nhân-
viên chức nhà nước, lao động của các đơn vị không phải là Nhà nước, những người làm
việc tự do…
- Đặc điểm của khách hàng: Thường ít nhạy cảm với lãi suất, ít quan tâm đến
mức lãi suất ghi trong hợp đồng, mà chủ yếu quan tâm đến số tiền họ phải thanh toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status