khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh và Nội dung của quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh - Pdf 74

khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh và Nội dung của
quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế Ngoài quốc
doanh
I. Đặc điểm của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
1.Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
Thời kỳ quá độ lên CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin sẽ trải
qua một thời gian dài trong lịch sử. Trong suốt thời kỳ đó vẫn tồn tại các thành
phần kinh tế phi CNXH cạnh tranh gay gắt với thành phần kinh tế CNXH. Nhà n-
ớc XHCN có vai trò to lớn trong việc làm cho các thành phần kinh tế XHCN ngày
càng phát triển và chiếm u thế, đảm bảo thắng lợi của CNXH.
Vậy quá độ đi lên CNXH bỏ qua phát triển TBCN không thể không quan tâm
đến sự tồn tại và phát triển tất yếu khách quan của các thành phần kinh tế khác
trong đó có các thành phần kinh tế của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (NQD).
Nớc ta quá độ lên CNXH từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, tiềm lực kinh tế còn
cha mạnh, cơ sở vật chất còn nghèo nàn không đồng nhất giữa các ngành các
vùng, trình độ quản lý kinh tế còn thấp kém lại vừa qua khỏi chiến tranh. Mâu
thuẫn giữa nhu cầu cải tiến đời sống nhân dân với khả năng của sức sản xuất đang
hết sức gay gắt. sự lựa chọn có phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó có
kinh tế NQD hay không có tính chất quyết định. Tuy nhiên chấp nhận sự tồn tại
của kinh tế NQD không có nghĩa là để quan hệ sản xuất TBCN xác lập thống trị
xã hội mà chỉ để quan hệ sản xuất tồn tại phục vụ cho các mục đích phát triển
kinh tế, đẩy mạnh sự phát triển của các lực lợng sản xuất, tăng nhanh năng xuất
lao động, tăng trởng kinh tế. Do đó bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua việc xác lập vị
trí thống trị của quan hệ sản xuất chứ không có nghĩa xoá bỏ hoàn toàn kinh tế
NQD. Nhng muốn quan hệ sản xuất TBCN không trở thành thống trị trong nền
kinh tế của xã hội thì không phải bằng con đờng bóp nghẹt nh đã làm trớc đây, mà
phải bằng cách xoá bỏ dần dần bằng sự tác động của các nhân tố khác trong đó
kinh tế nông nghiệp là quan trọng nhất.
Vậy sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ
đã đợc khẳng định và nó tiếp tục phát triển trong nền kinh tế thị trờng, kinh tế
NQD là thành phần kinh tế không thể thiếu đợc và đóng vai trò ngày càng quan

đặc thù rất linh hoạt, nhanh nhậy trong sản xuất để thu lợi nhuận cao nhất nên khu
vực này có khả năng phát huy nội lực, mở rộng sản xuất kinh doanh phù hợp với
nhu cầu của thị trờng. Vậy khu vực kinh tế NQD là khu vực có vai trò hết sức
quan trọng đồng thời là khu vực góp phần vào việc thực hiện các chỉ tiêu về tăng
trởng kinh tế do Nhà nớc đề ra.
2.2. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần giải quyết công ăn việc
làm cho ngời lao động
Nớc ta là nớc có dân số hơn 80 triệu dân, do đó đối tợng lao động là rất lớn.
Vấn đề thất nghiệp đợc đặt ra cần đợc giải quyết. Trong khi khu vực kinh tế Nhà
nớc và khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài luôn đòi hỏi lao động phải có văn
hóa, trình độ kỹ thuật nhất định thì mới có thể làm việc trong khu vực trên dẫn
đến một khối lợng lớn lao động đang ở tuổi lao động không thể làm việc ở trong
hai khu vực này. Vậy điều đáng nói ở đây là so với 2 khu vực trên thì khu vực kinh
tế NQD có vai trò thu hút nhiều thành phần lao động, từ những lao động có trình
độ cao đến những lao động thủ công, từ những hợp đồng ngắn hạn đến những hợp
đồng dài hạn, theo mùa vụ hoặc theo thời gian nhất định... Do đó khu vực này góp
phần giải quyết thất nghiệp và tạo ra sự phát triển cân đối cho nền kinh tế.
2.3. Khu vực kinh tế NQD phát triển tạo cho ngân sách có nguồn thu ổn
định và ngày càng tăng
Trớc hết phải khẳng định các khoản nộp ngân sách của khu vực kinh tế NQD
mới đúng bản chất là thuế. Vì khác với các doanh nghiệp Nhà nớc, Nhà nớc
không phải chủ sở hữu t liệu sản xuất, Nhà nớc thu thuế của khu vực này mà
không phải đầu t trực tiếp vào khu vực này. Nguồn thu từ khu vực này rất lớn ngày
càng tăng và đợc dùng chủ yếu để đầu t vào các ngành nghề kinh tế mũi nhọn,
xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế yếu kém...đồng thời khu vực này
còn tham gia đóng góp tài chính cho đất nớc nhiều hơn nữa thông qua các hoạt
động tự nguyện hởng ứng các phong trào do Nhà nớc, đoàn thể phát động nh ủng
hộ đồng bào bị lũ lụt, thơng binh, gia đình liệt sĩ, xây dựng trờng học, đờng xá
đóng góp vào các quỹ an ninh, đền ơn đáp nghĩa....Vậy khu vực kinh tế NQD có
vai trò điều hoà thu nhập và đóng góp vào ngân sách Nhà nớc rất lớn.

hoàn thiện với chất lợng cao hơn. Vậy hợp tác và cạnh tranh chính là động lực
thúc đẩy sự phát triển của hai khu vực kinh tế này.
- Khu vực kinh tế NQD hình thành và phát triển còn tác động cả vào cơ
chế quản lý làm thay đổi phơng thức quản lý sản xuất kinh doanh, thay đổi tác
phong, lề lối làm việc của cán bộ công chức nhà nớc, của ngời lao động.
Trớc hết đối với các cơ quan quản lý và cán bộ công chức Nhà nớc, phát
triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cơ chế quản lý tập trung bao cấp không
còn thích hợp nữa vì Nhà nớc không thể ra lệnh cho các đơn vị kinh tế NQD phải
sản xuất cái gì, phải bán theo giá quy định, mà cho quy luật giá trị, do thị trờng do
nhu cầu xã hội quyết định. Với khu vực kinh tế NQD các cơ quan quản lý, công
chức Nhà nớc không thể can thiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh của họ. Đây
chính là những tiền đề đặt ra cần phải đổi mới cơ chế quản lý và phải luôn hoàn
thiện cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN.
Phát triển khu vực kinh tế NQD cũng có tác động và làm thay đổi ý thức,
tác phong làm việc của công chức các cơ quan quản lý Nhà nớc. Vì khu vực kinh
tế NQD toàn bộ vốn và tài sản thuộc sở hữu t nhân, họ có quyền quyết định phơng
án sản xuất kinh doanh và chỉ chịu sự quản lý của Nhà nớc thông qua pháp luật.
Cán bộ công chức Nhà nớc không có quyền can thiệp vào công việc kinh doanh
của họ. Quan hệ giữa đơn vị kinh tế NQD và công chức Nhà nớc là quan hệ bình
đẳng trớc pháp luật.
Đối với ngời lao động và những ngời quản lý sản xuất kinh doanh, câu hỏi
đặt ra là làm sao thu đợc lợi nhuận cao nhất. Muốn vậy phải cải tiến sản xuất, kinh
doanh, nâng cao trình độ chuyên môn để sản xuất ra hàng hoá chất lợng cao, giá
thành hạ.
Quan hệ giữa ngời bán hàng dịch vụ và ngời mua hàng dịch vụ đợc thay đổi
từ quan niệm bán nh cho thời bao cấp bằng quan niệm coi khách hàng là thợng
đế đã đợc hình thành.
Khu vực kinh tế NQD phát triển tác động cả vào các cơ quan quản lý trong
việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính.
Vậy chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó vai trò của khu vực

điểm của Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nớc ta. Đại hội đại biểu Đảng
toàn quốc lần thứ VI đã đề ra chủ trơng đổi mới toàn diện và sâu sắc để đi tới
CNXH một cách vững chắc. Trọng tâm là đổi mới kinh tế, mà trớc hết là đổi mới
t duy kinh tế. Điều quan trọng là phải nhận thức và tính toán lại hình thức, và bớc
đi của quá trình cải tạo XHCN, làm sao để phát huy đợc sức mạnh của các thành
phần kinh tế trong công cuộc xây dựng đất nớc giầu mạnh và cái đích vẫn là
CNXH. Từ những phê bình về những biểu hiện nóng vội muốn xoá bỏ ngay các
thành phần kinh tế phi XHCN, từ thực tế của đất nớc và vận dụng quan điểm của
Lênin coi nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trng của thời kỳ quá độ, Đảng
ta đã đề ra chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác.
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI đã chỉ ra nhiệm vụ đẩy mạnh cải tạo
XHCN là một nhiệm vụ thờng xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ đi lên
CNXH với những bớc đi thích hợp làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ của lực lợng sản xuất. Cần phải phát huy tác dụng tích cực của cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần.
Đờng lối phát triển kinh tế nhiều thành phần còn đợc tiếp tục xác định tại
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, VIII, IX. Báo cáo chính trị tại Đại
hội Đảng CSVN lần IX khẳng định.
Kinh tế cá thể ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà n-
ớc tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển, khuyến khích các hình thức HTX tự
nguyện làm vệ tinh cho các doanh nghiệp phát triển lớn hơn, khuyến khích phát
triển kinh tế t nhân rộng rãi, trong những ngành nghề sản xuất kinh doanh mà
pháp luật không cấm. Tạo môi trờng kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý
để kinh tế NQD phát triển trên những hớng u tiên của Nhà nớc.
Ngoài ra còn nêu rõ ở nớc ta hiện nay có các thành phần kinh tế sau:
+ Kinh tế t bản Nhà nớc.
+ Kinh tế cá thể, tiểu chủ.
+ Kinh tế t bản t nhân.
+ Kinh tế Nhà nớc.
+ Kinh tế Hợp tác.

sản xuất kinh doanh, nhng vẫn chịu tác động trực tiếp của các thành phần kinh tế
khác và của thị trờng. Trong suốt thời kỳ quá độ, đặc biệt chặng đờng đầu, thành
phần kinh tế cá thể có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất dịch vụ, t liệu sinh
hoạt phục vụ đời sống và sản xuất. Kinh tế cá thể tồn tại độc lập, có thể liên doanh
liên kết với các đơn vị kinh tế của các thành phần kinh tế khác bằng nhiều hình
thức, hoặc tham gia hợp tác xã tự nguyện nếu ngời lao động thấy cần thiết.
Thành phần kinh tế t bản Nhà n ớc: là thành phần kinh tế mà chủ thể của nó
là t bản Nhà nớc cùng góp vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh; gồm các đơn vị
kinh tế ở các ngành, các lĩnh vực dới các hình thức công ty hợp doanh, gia công,
thuê tài sản...Có thể khẳng định rằng trong thời kỳ quá độ, đây là hình thức kinh
tế trung gian thích hợp nhất để chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nớc ta.
Các thành phần kinh tế cơ bản trên tồn tại trên cơ sở ba loại sở hữu chủ
yếu: sở hữu Nhà nớc, sở hữu tập thể và sở hữu t nhân. Ngoài ra, còn có những
hình thức tổ chức kinh tế hoạt động không thuộc thành phần kinh tế nào nh hình
thức kinh tế hỗn hợp nhiều loại sở hữu công ty, xí nghiệp cổ phần, liên doanh, liên
kết hai bên và nhiều bên giữa các chủ thể, giữa các thành phần kinh tế trong và
ngoài nớc.
Trên giác độ nghiên cứu, có thể phân chia khu vực kinh tế trong nớc thành
hai khu vực nhỏ hơn: khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh cho phù hợp với những thuật ngữ đang đợc sử dụng phổ biến trong nhiều
văn bản của Nhà nớc và trong các cuộc hội thảo.
Điểm khác biệt căn bản giữa thành phần kinh tế quốc doanh (KTQD) và
thành phần kinh tế NQD là tính chất sở hữu về t liệu sản xuất chủ yếu. Kinh tế
quốc doanh dựa trên sở hữu của Nhà nớc, kinh tế ngoài quốc doanh dựa trên sở
hữu t nhân, sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp giữa t nhân với tập thể hay giữa các t
nhân với nhau. Đảng và Nhà nớc ta qua các kỳ Đại hội đã khẳng định kinh tế
quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, kinh tế ngoài quốc doanh giữ vai trò mở đuờng
cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nớc trong thời kỳ quá độ đi lên chủ
nghĩa xã hội.
3.2.Các chính sách kinh tế của Nhà nớc để phát triển kinh tế NQD

- Luật doanh nghiệp ra đời qui định việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt
động của các doanh nghiệp. Từ Luật công ty, Luật doanh nghiệp t nhân nay là
Luật doanh nghiệp (Bao gồm các công ty Cổ phần, công ty TNHH, công ty Hợp
doanh và Doanh ngiệp t nhân) vừa thể hiện đợc tính nhất quán của Đảng và Nhà
nớc ta, vừa thể hiện sự phát triển về nhận thức và hành động nhằm khuyến khích
phát triển khu vực kinh tế này. So với Luật công ty, Luật doanh nghiệp t nhân ban
hành trớc đây, Luật doanh nghiệp mới có nhiều sửa đổi bổ xung cho phù hợp với
thực tiễn cuộc sống, tạo môi trờng thoáng cho doanh nghiệp thành lập và hoạt
động nên tuy mới chỉ sau một vài năm đã phát huy những tác dụng to lớn.
- Nghị định của Chính phủ về cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh công
thơng nghiệp dịch vụ: qui định về đăng ký kinh doanh, tổ chức quản lý và hoạt
động của cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định để
thành lập doanh nghiệp. Theo Nghị định này mọi cá nhân, nhóm cá nhân có
nguyện vọng sản xuất kinh doanh chỉ thực hiện thủ tục khai báo đơn giản, cơ quan
quản lý Nhà nớc có trách nhiệm phải cấp đăng ký kinh doanh, nếu cá nhân và
nhóm cá nhân kinh doanh những ngành nghề không thuộc loại cấm.
- Ban hành các luật thuế xuất nhập khẩu, thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc
biệt, thuế lợi tức - sau này thuế doanh thu thay thế bằng thuế gía trị gia tăng, thuế
lợi tức thay bằng thuế thu nhập doanh nghiệp, đợc áp dụng thống nhất cho các
thành phần kinh tế.
Việc ban hành các luật thuế áp dụng cho mọi thành phần kinh tế là sự thể
hiện rõ nét nhất tính chất bình đẳng của các thành phần kinh tế trong cạnh tranh.
Trớc năm 1990 nhằm phục vụ công cuộc cải tạo XHCN, Nhà nớc ta áp dụng ba
chính sách thu ngân sách cho ba khu vực khác nhau: Khu vực kinh tế Nhà nớc áp
dụng chính sách thu quốc doanh và phân phối lợi nhuận, khu vực công thơng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status